Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong cơ cấu ngành nông nghiệp Việt Nam, ngành chăn nuôi đang giữ vị trí mũi nhọn với xu hướng tăng dần tỷ trọng so với ngành trồng trọt nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu thụ thực phẩm ngày càng cao về cả số lượng lẫn chất lượng. Theo số liệu của Tổng cục Thống kê năm 2014, đàn lợn cả nước đạt khoảng 26,76 triệu con, đàn trâu bò khoảng 7,75 triệu con và đàn gia cầm đạt khoảng 327,69 triệu con; trong đó chăn nuôi nông hộ chiếm tỷ trọng 65–70%. Quy mô chăn nuôi lớn phát sinh một lượng chất thải khổng lồ, ước tính trên 76 triệu tấn chất thải rắn và hơn 30 triệu m³ chất thải lỏng mỗi năm. Chất thải chăn nuôi chứa hàm lượng cao các hợp chất hữu cơ, nitơ, photpho, kim loại nặng (kẽm, đồng, chì, asen, niken) và nhiều vi sinh vật gây bệnh, đe dọa trực tiếp đến chất lượng môi trường không khí, đất, nước mặt và nước ngầm.

Tại xã Lương Phú, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên, hoạt động chăn nuôi lợn tập trung theo mô hình trang trại và gia trại phát triển mạnh trong những năm gần đây. Mặc dù khoảng 50% số cơ sở chăn nuôi đã đầu tư hệ thống hầm ủ Biogas, song chất lượng nước thải sau xử lý của nhiều hầm ủ vẫn chưa đáp ứng quy chuẩn xả thải, dẫn đến nguy cơ ô nhiễm môi trường tiếp nhận tại địa phương. Nhằm đánh giá cụ thể hiện trạng xả thải và hiệu quả vận hành của công trình xử lý chất thải tại một cơ sở chăn nuôi điển hình, đề tài khóa luận "Đánh giá hiện trạng quản lý chất thải chăn nuôi tại trang trại Long Cương, xóm Việt Ninh, xã Lương Phú, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên" đã được tác giả Lương Thị Diệu Linh thực hiện dưới sự hướng dẫn của PGS. Nguyễn Ngọc Nông tại Khoa Môi trường, Trường Đại học Nông Lâm – Đại học Thái Nguyên (2018).

Nhiệm vụ và mục tiêu nghiên cứu của khóa luận được xác định cụ thể gồm:

  1. Đánh giá hiện trạng quản lý chất lượng nước thải và môi trường không khí phát sinh từ hoạt động chăn nuôi tại trang trại Long Cương.
  2. Đề xuất các biện pháp kỹ thuật và quản lý nhằm giảm thiểu ô nhiễm môi trường phù hợp với điều kiện thực tế của trang trại.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Chất thải chăn nuôi (chất thải rắn, nước thải, khí thải) và hiện trạng công nghệ xử lý chất thải tại trang trại Long Cương.
  • Địa điểm nghiên cứu: Trang trại chăn nuôi Long Cương, xóm Việt Ninh, xã Lương Phú, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên.
  • Thời gian thực hiện: Từ ngày 01/01/2017 đến hết ngày 01/04/2018.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung pháp lý và cơ sở lý thuyết

Khóa luận thiết lập hệ thống cơ sở pháp lý dựa trên các văn bản quy phạm pháp luật và tiêu chuẩn kỹ thuật môi trường hiện hành tại thời điểm nghiên cứu:

  • Luật Bảo vệ Môi trường năm 2014;
  • Nghị định số 19/2015/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Bảo vệ Môi trường;
  • Thông tư số 27/2015/TT-BTNMT về đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường và kế hoạch bảo vệ môi trường;
  • Thông tư số 04/2016/TT-BTNMT ban hành Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải chăn nuôi (QCVN 62-MT:2016/BTNMT);
  • Thông tư số 71/2011/TT-BNNPTNT ban hành các quy chuẩn kỹ thuật quốc gia lĩnh vực Thú y (QCVN 01-79:2011/BNNPTNT và QCVN 01-83:2011/BNNPTNT);
  • Quyết định số 2509/QĐ-BNN-CN ban hành Quy chế chứng nhận và Quy trình thực hành chăn nuôi tốt cho chăn nuôi lợn, gà an toàn trong nông hộ;
  • Quyết định số 1788/QĐ-TTg phê duyệt Kế hoạch xử lý triệt để các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng đến năm 2020;
  • Luật Phòng, chống bệnh truyền nhiễm số 03/2007/QH12 (Điều 5, Điều 15, Điều 16).

Về cơ sở khoa học, tác giả tổng hợp đặc tính lý hóa và tải lượng phát sinh của chất thải chăn nuôi:

  • Chất thải rắn (phân): Chiếm 6–8% khối lượng cơ thể lợn/ngày; độ ẩm 56–83%; lợn trọng lượng 45–100 kg thải trung bình 3–5 kg phân/ngày và 2–4 kg nước tiểu/ngày; chứa men tiêu hóa dư thừa, chất xơ, hợp chất N, P, K và vi sinh vật đường ruột.
  • Nước thải: Hợp chất hữu cơ chiếm 70–80% (xenlulozo, protit, axit amin, chất béo), chất vô cơ chiếm 20–30%; hàm lượng N-tổng dao động 200–350 mg/l (trong đó N-$NH_4^+$ chiếm 80–90%), P-tổng dao động 60–100 mg/l cùng nhiều vi sinh vật và trứng ấu trùng giun sán.
  • Khí thải: Chủ yếu gồm $CO_2$, $NH_3$, $CH_4$, $H_2S$ sinh ra từ quá trình hô hấp, tiêu hóa của gia súc và sự phân hủy yếm khí phân giải chất hữu cơ.
  • Các công nghệ xử lý sinh học: Hệ thống hầm ủ khí sinh học (Biogas); xử lý nước thải bằng thực vật thủy sinh (TVTS sống chìm, sống trôi nổi, sống nổi); ứng dụng chế phẩm vi sinh hữu hiệu (EM).

Phương pháp nghiên cứu

Tác giả phối hợp các phương pháp nghiên cứu thực nghiệm và đánh giá thực địa:

  • Phương pháp thu thập tài liệu, số liệu thứ cấp: Thu thập dữ liệu khí tượng thủy văn, điều kiện kinh tế - xã hội của huyện Phú Bình và xã Lương Phú; báo cáo kiểm soát ô nhiễm môi trường năm 2017 của trang trại; số liệu thống kê ngành chăn nuôi.
  • Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp: Phỏng vấn trực tiếp chủ trang trại và công nhân lao động về quy trình chăn nuôi, tần suất vệ sinh chuồng trại; khảo sát lấy ý kiến của các hộ dân sinh sống quanh khu vực trang trại.
  • Phương pháp ước tính nguồn thải:
    • Tính toán tổng lượng chất thải rắn phát sinh = $\sum (\text{Hệ số phát sinh theo lứa tuổi} \times \text{Số lượng lợn theo lứa tuổi})$.
    • Tính toán lưu lượng nước thải = Lượng nước tắm rửa chuồng trại + Tổng lượng nước tiểu (xác định theo hệ số thải Hill & Toller và tần suất rửa chuồng).
  • Phương pháp khảo sát, lấy mẫu hiện trường: Lấy mẫu nước thải tại 02 vị trí đặc trưng: Điểm trước khi vào hệ thống Biogas (nước thải thô) và Điểm sau khi ra khỏi bể Biogas.
  • Phương pháp phân tích trong phòng thí nghiệm: Thực hiện tại Phòng thí nghiệm Khoa Môi trường – Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên. Các thông số pH, TSS, Tổng P, $BOD_5$, COD được phân tích theo phương pháp chuẩn quy định tại QCVN 62-MT:2016/BTNMT; độ đục đo bằng máy đo độ đục chuyên dụng; màu sắc và mùi xác định bằng phương pháp cảm quan.
  • Phương pháp xử lý số liệu: Tổng hợp, thống kê toán học và so sánh đối chiếu số liệu phân tích với Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia QCVN 62-MT:2016/BTNMT (Cột B), QCVN 24:2016/BYT và Quyết định 3733/2002/QĐ-BYT.

Nội dung chính theo từng phần của khóa luận

Phần 1: Mở đầu

Trình bày tính cấp thiết của đề tài trong bối cảnh ngành chăn nuôi chuyển dịch sang quy mô tập trung nhưng hạ tầng xử lý chất thải chưa đồng bộ. Khẳng định mục tiêu đánh giá chất lượng nước thải, không khí và đề xuất giải pháp kiểm soát ô nhiễm tại trang trại Long Cương, góp phần bổ sung tài liệu thực tiễn cho công tác quản lý môi trường nông nghiệp.

Phần 2: Tổng quan tài liệu

Khái quát tình hình chăn nuôi lợn và xử lý chất thải trên thế giới và tại Việt Nam:

  • Thống kê toàn cầu (FAO 2009–2012): Tổng đàn lợn thế giới đạt 877,45 triệu con; Châu Á dẫn đầu với 534,24 triệu con, tiếp theo là Châu Âu (183,05 triệu con), Châu Mỹ (151,70 triệu con). Các quốc gia có số lượng lợn lớn nhất gồm Trung Quốc (451,58 triệu con), Hoa Kỳ (67,00 triệu con), Brazil (37,00 triệu con) và Việt Nam (27,60 triệu con, xếp thứ 4 thế giới năm 2009).
  • Tình hình tại Việt Nam: Năm 2016, tổng đàn lợn cả nước đạt 29,07 triệu con (tăng 4,8% so với năm 2015). Đàn lợn phân bố tập trung nhiều nhất tại vùng Đồng bằng sông Hồng (7,41 triệu con) và Trung du & Miền núi phía Bắc (7,17 triệu con). Tỷ lệ chất thải chưa qua xử lý triệt để xả ra môi trường còn cao (khoảng 50% chất thải rắn và 80% chất thải lỏng).
  • Cơ sở lý thuyết về các công nghệ xử lý sinh học: Cơ chế phân hủy yếm khí trong hầm Biogas tạo khí $CH_4$; cơ chế xử lý bằng thực vật thủy sinh (bèo lục bình, bèo tấm, cỏ sậy, cỏ nến) và hồ sinh học tảo.

Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Trình bày chi tiết địa bàn thực hiện tại trang trại Long Cương (xóm Việt Ninh, xã Lương Phú, huyện Phú Bình), quy trình thu thập số liệu sơ cấp, thứ cấp, quy trình lấy mẫu nước thải trước và sau Biogas, kỹ thuật phân tích các chỉ tiêu hóa lý trong phòng thí nghiệm và phương pháp xử lý dữ liệu thực nghiệm.

Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

1. Điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội khu vực nghiên cứu

Huyện Phú Bình có diện tích 249,36 km², địa hình gò đồi thấp dạng bát úp xen kẽ đồng bằng aluvi (độ dốc <8%). Khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ trung bình năm 23,1–24,4°C, lượng mưa trung bình 2.500 mm/năm, độ ẩm 81–82%. Dân số năm 2008 là 146.086 người (mật độ 586 người/km²), lao động nông nghiệp chiếm 78%. Xã Lương Phú nằm ở phía đông nam huyện, có kênh sông Máng chảy qua, thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp và phát triển các mô hình kinh tế trang trại.

2. Hiện trạng chăn nuôi tại trang trại Long Cương

Trang trại có quy mô diện tích trên 2 ha, áp dụng mô hình liên hoàn khép kín gồm:

  • Khu chăn nuôi gia cầm: 3 dãy chuồng lạnh nuôi 7.000 gà mái hậu bị; 7 máy ấp trứng công suất 16.000 quả/máy/mẻ.
  • Khu chăn nuôi lợn: 5 dãy chuồng nuôi 200 lợn nái ngoại sinh sản và 550 lợn thịt. Con giống được nhập từ công ty CP và GreenFeed, ứng dụng kỹ thuật thụ tinh nhân tạo.
  • Hiệu quả kinh tế - xã hội: Doanh thu năm 2015 đạt trên 13 tỷ đồng, lợi nhuận đạt trên 2,6 tỷ đồng. Tạo việc làm cho 10 lao động thường xuyên (thu nhập 5 triệu đồng/tháng) và 25 lao động thời vụ; hỗ trợ kỹ thuật và con giống giúp 11/20 hộ nông dân nghèo tại địa phương thoát nghèo.

3. Thực trạng phát sinh và quản lý chất thải

  • Chất thải rắn chăn nuôi: Mùa hè trang trại cào phân và rửa chuồng 3 lần/ngày (sáng, trưa, chiều), tắm cho lợn 3–4 ngày/lần; mùa đông rửa chuồng 2 lần/ngày. Phân rắn và nước rửa chuồng được dẫn chung vào hầm ủ Biogas.
  • Nước thải chăn nuôi: Lưu lượng nước thải phát sinh đạt 65 m³/ngày (tương đương 1.950 m³/tháng). Sau khi qua hầm ủ Biogas, nước thải được xả trực tiếp ra hệ thống ao hồ xung quanh mà không qua bể lắng hay công trình xử lý thứ cấp.
  • Các nguồn thải khác: Nước thải sinh hoạt phát sinh 0,5 m³/ngày (xử lý qua bể tự hoại); chất thải rắn sinh hoạt phát sinh 2,5 kg/ngày (thu gom đúng nơi quy định); chất thải nguy hại (giẻ lau dính dầu, bóng đèn huỳnh quang) được thu gom định kỳ.

4. Đánh giá chất lượng môi trường không khí và nước thải

  • Môi trường không khí: Kết quả đo đạc từ Báo cáo kiểm soát ô nhiễm môi trường năm 2017 cho thấy các thông số đều nằm trong giới hạn cho phép: Tiếng ồn đạt 60,5 dBA (tiêu chuẩn 85 dBA theo QCVN 24:2016/BYT); hàm lượng $H_2S$ đạt 0,15 mg/l (tiêu chuẩn 10 mg/l theo QĐ 3733/2002/QĐ-BYT); hàm lượng $NH_3$ < 0,01 mg/l (tiêu chuẩn 25 mg/l). Khảo sát người dân xung quanh cho thấy mức độ ảnh hưởng mùi không lớn.
  • Chất lượng nước thải: Kết quả phân tích mẫu nước trước và sau xử lý bằng bể Biogas được đối chiếu với QCVN 62-MT:2016/BTNMT (Cột B):
STT Thông số phân tích Đơn vị Mẫu trước Biogas Mẫu sau Biogas QCVN 62-MT:2016/BTNMT (Cột B)
1 pH - 6,58 6,74 5 – 9
2 Nhiệt độ °C 30 30 -
3 Mùi - Hôi Hôi -
4 Màu sắc - Xanh đen Vàng nâu -
5 Độ đục NTU 1,990 0,910 -
6 TSS mg/l 102,00 63,00 150
7 COD mg/l 1.250,00 480,00 300
8 $BOD_5$ mg/l 875,00 336,00 100
9 Tổng P mg/l 8,70 3,90 -

Hiệu quả xử lý qua hầm Biogas:

  • Nồng độ COD giảm từ 1.250 mg/l xuống 480 mg/l (giảm 2,6 lần), tuy nhiên vẫn vượt quy chuẩn 1,60 lần (trước xử lý vượt 4,17 lần).
  • Nồng độ $BOD_5$ giảm từ 875 mg/l xuống 336 mg/l (ở phần phân tích biểu đồ ghi nhận mức 113,46 mg/l), vẫn vượt quy chuẩn Cột B (100 mg/l).
  • Nồng độ TSS giảm từ 102 mg/l xuống 63 mg/l (ở biểu đồ ghi nhận giảm từ 260,40 mg/l xuống 100,72 mg/l), đều nằm trong giới hạn cho phép (150 mg/l).
  • Giá trị pH đạt 6,74, nằm trong ngưỡng an toàn (5–9). Độ đục giảm từ 1,990 NTU xuống 0,910 NTU; hàm lượng Tổng P giảm từ 8,70 mg/l xuống 3,90 mg/l.

Phần 5: Kết luận và kiến nghị

Tổng kết toàn diện hiện trạng quản lý môi trường tại trang trại, đánh giá ưu điểm của việc thu hồi khí gas phục vụ sinh hoạt và hạn chế cốt lõi trong hiệu quả làm sạch nước thải của hệ thống Biogas đơn lẻ; đưa ra các kiến nghị kỹ thuật nhằm hoàn thiện quy trình xử lý nước thải chăn nuôi.


Kết quả và đóng góp

Kết quả nghiên cứu chính

  1. Số liệu hiện trạng phát sinh chất thải: Xác định chính xác lưu lượng nước thải phát sinh tại trang trại Long Cương đạt 65 m³/ngày (1.950 m³/tháng) từ quy mô nuôi 200 lợn nái và 550 lợn thịt.
  2. Đánh giá hiệu suất công trình Biogas:
    • Hệ thống Biogas giúp loại bỏ phần lớn chất rắn lơ lửng (TSS giảm từ 102 mg/l xuống 63 mg/l, đạt QCVN 62-MT:2016/BTNMT) và trung hòa độ pH (6,74).
    • Hệ thống chưa xử lý triệt để chất hữu cơ hòa tan: Hàm lượng COD sau xử lý đạt 480 mg/l (vượt chuẩn 1,6 lần) và $BOD_5$ đạt 336 mg/l (vượt chuẩn 3,36 lần so với giới hạn Cột B là 100 mg/l). Nước thải xả trực tiếp ra ao hồ vẫn còn mùi hôi và màu vàng nâu.
  3. Hiện trạng môi trường không khí: Môi trường không khí tại khu vực chuồng nuôi được kiểm soát tốt, các chỉ tiêu tiếng ồn (60,5 dBA), $H_2S$ (0,15 mg/l), $NH_3$ (< 0,01 mg/l) đều đạt tiêu chuẩn vệ sinh lao động theo Quyết định 3733/2002/QĐ-BYT và QCVN 24:2016/BYT.

Giải pháp tác giả đề xuất

  • Xây dựng công trình xử lý bổ sung sau Biogas: Không xả thải trực tiếp nước thải sau Biogas ra ao hồ; cần bố trí thêm bể lắng để tách bùn cặn lơ lửng còn sót lại.
  • Ứng dụng hệ thống bãi lọc ngầm trồng thực vật thủy sinh (TVTS): Xây dựng bãi lọc ngầm dòng chảy ngang hoặc ngập nước trồng các loài thực vật thủy sinh có khả năng hấp thụ nitơ, photpho và phân giải chất hữu cơ cao như cỏ sậy (Phragmites communis), bèo lục bình (Eichhornia crassipes), bèo tấm (Lemna minor).
  • Kết hợp chế phẩm sinh học: Bổ sung chế phẩm vi sinh hữu hiệu (EM) vào quy trình ủ phân và xử lý nước thải nhằm nâng cao hiệu quả phân giải sinh học, giảm thiểu mùi hôi phát sinh.

Đóng góp của đề tài

Khóa luận cung cấp nguồn dữ liệu phân tích thực nghiệm định lượng về chất lượng nước thải trước và sau Biogas tại một trang trại chăn nuôi lợn quy mô bán công nghiệp cụ thể ở vùng trung du tỉnh Thái Nguyên. Kết quả nghiên cứu chứng minh trên thực tế rằng hầm Biogas đơn thuần không thể xử lý nước thải chăn nuôi lợn đạt quy chuẩn QCVN 62-MT:2016/BTNMT, qua đó khẳng định sự cần thiết phải kết hợp các công trình xử lý sinh học thứ cấp (bể lắng, bãi lọc ngầm thực vật) trong quy chuẩn thiết kế trang trại chăn nuôi.


Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của nghiên cứu:

    • Dữ liệu chất lượng nước thải chỉ được phân tích dựa trên một đợt lấy mẫu đơn lẻ tại 02 vị trí (trước và sau Biogas), chưa theo dõi được sự biến thiên nồng độ ô nhiễm theo các mùa trong năm hoặc theo từng giai đoạn sinh trưởng của đàn lợn.
    • Số liệu môi trường không khí được kế thừa từ Báo cáo kiểm soát ô nhiễm môi trường năm 2017 của trang trại, chưa thực hiện đo đạc độc lập trực tiếp nhiều điểm ngoài chuồng nuôi và khu dân cư lân cận.
    • Các giải pháp đề xuất (bãi lọc ngầm, hồ sinh học) dừng lại ở mức mô hình lý thuyết và sơ đồ định hướng, chưa tiến hành tính toán kích thước công nghệ chi tiết và dự toán kinh phí đầu tư.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo:

    • Nghiên cứu thực nghiệm mô hình bãi lọc ngầm trồng thực vật thủy sinh quy mô pilot tại trang trại để xác định chính xác thời gian lưu nước, tải lượng nạp $BOD_5$, COD tối ưu và hiệu suất xử lý thực tế trước khi ứng dụng đại trà.
    • Đánh giá hiệu quả kinh tế - kỹ thuật của việc bổ sung chế phẩm vi sinh EM vào chu trình xử lý chất thải rắn làm phân bón hữu cơ vi sinh thương phẩm.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là tài liệu tham khảo hữu ích cho sinh viên, học viên và cán bộ kỹ thuật thuộc các chuyên ngành Khoa học Môi trường, Quản lý Môi trường, Kỹ thuật Môi trường và Chăn nuôi – Thú y:

  • Tham khảo về phương pháp luận: Quy trình điều tra hiện trạng chuồng trại, phương pháp tính toán lưu lượng chất thải rắn và lỏng theo quy mô đầu con, phương pháp tiếp cận đánh giá hiệu quả công trình xử lý môi trường nông thôn.
  • Tham khảo về dữ liệu thực nghiệm: Bộ số liệu phân tích hóa lý chi tiết của nước thải chăn nuôi lợn (pH, TSS, COD, $BOD_5$, P-tổng) trước và sau bể Biogas, làm tài liệu đối chứng cho các nghiên cứu xử lý nước thải chăn nuôi bằng phương pháp sinh học.

Câu hỏi thường gặp

1. Trang trại Long Cương có quy mô chăn nuôi và cơ cấu sản xuất như thế nào trong giai đoạn nghiên cứu?

Trang trại Long Cương có tổng diện tích trên 2 ha, vận hành theo mô hình chăn nuôi khép kín gồm: 3 dãy chuồng lạnh nuôi 7.000 gà mái hậu bị; 7 máy ấp trứng công suất 16.000 quả/máy/mẻ; 5 dãy chuồng nuôi 200 lợn nái ngoại sinh sản và 550 lợn thịt liên hoàn từ nái chờ phối, nái chửa, nái đẻ, lợn con cai sữa đến lợn thịt thương phẩm.

2. Lưu lượng nước thải chăn nuôi phát sinh tại trang trại là bao nhiêu và được thu gom theo chu trình nào?

Lưu lượng nước thải chăn nuôi phát sinh tại trang trại đạt 65 m³/ngày (1.950 m³/tháng). Nước thải phát sinh từ hoạt động rửa chuồng và tắm lợn (vào mùa hè cào phân/rửa chuồng 3 lần/ngày, tắm 3–4 ngày/lần; mùa đông rửa chuồng 2 lần/ngày). Lượng nước thải này được dẫn toàn bộ vào hầm ủ Biogas để xử lý yếm khí.

3. Nước thải sau hầm Biogas tại trang trại Long Cương có đáp ứng quy chuẩn xả thải QCVN 62-MT:2016/BTNMT không?

Nước thải sau Biogas chỉ đạt quy chuẩn ở các chỉ tiêu pH (6,74) và TSS (63 mg/l). Hai chỉ tiêu ô nhiễm hữu cơ quan trọng vẫn vượt quy chuẩn Cột B của QCVN 62-MT:2016/BTNMT: COD đạt 480 mg/l (vượt 1,60 lần so với mức cho phép 300 mg/l) và $BOD_5$ đạt 336 mg/l (vượt 3,36 lần so với mức cho phép 100 mg/l).

4. Chất lượng môi trường không khí tại khu vực chuồng nuôi của trang trại được đánh giá ra sao?

Môi trường không khí tại khu vực chuồng nuôi đạt tiêu chuẩn vệ sinh lao động theo QĐ 3733/2002/QĐ-BYT và QCVN 24:2016/BYT, với tiếng ồn đo được là 60,5 dBA (tiêu chuẩn 85 dBA), nồng độ $H_2S$ là 0,15 mg/l (tiêu chuẩn 10 mg/l) và nồng độ $NH_3$ < 0,01 mg/l (tiêu chuẩn 25 mg/l).

5. Tác giả đề xuất giải pháp kỹ thuật nào để xử lý triệt để lượng COD và BOD₅ còn dư sau hầm Biogas?

Tác giả đề xuất bổ sung bể lắng sau hầm Biogas để tách bùn cặn, sau đó dẫn nước thải qua hệ thống bãi lọc ngầm trồng thực vật thủy sinh (như sậy, bèo lục bình, bèo tấm) hoặc hồ sinh học kết hợp chế phẩm vi sinh EM để hấp thụ dinh dưỡng khoáng và phân hủy hoàn toàn chất hữu cơ trước khi thải ra môi trường.


Kết luận

Khóa luận của tác giả Lương Thị Diệu Linh đã phản ánh trung thực và chi tiết hiện trạng quản lý, xử lý chất thải chăn nuôi tại trang trại Long Cương (xã Lương Phú, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên). Kết quả phân tích thực nghiệm chỉ ra rằng hầm Biogas giúp giảm đáng kể TSS và tận dụng khí sinh học, nhưng nước thải sau xử lý vẫn có hàm lượng COD (480 mg/l) và $BOD_5$ (336 mg/l) vượt quy chuẩn QCVN 62-MT:2016/BTNMT. Việc đề xuất bổ sung bể lắng và bãi lọc ngầm thực vật thủy sinh sau Biogas là giải pháp kỹ thuật có cơ sở khoa học, phù hợp với điều kiện kinh tế trang trại nhằm giảm thiểu nguy cơ ô nhiễm môi trường nông thôn.