Đặt vấn đề Hiện nay, nhu cau của người tiêu dung đối với chất bảo quản tự nhiên ngày cảng tăng lên, trong khi vấn đề an toàn của các chất phụ gia hóa học thường được đặt câu hỏi. Tinh dau và các chiết xuất thu được từ nhiều loại cây gần đây đã trở nên phô biến va quan tâm hơn trong khoa học. Hoạt tính kháng khuẩn của tinh dau từ nhiều loại thực vat đã được nghiên cứu có khả năng kháng lại các vi sinh vật gây hại cũng như ứng dụng chúng vào trong thực phẩm. Một trong những thành tựu của y học hiện đại là phát triển các chất kháng sinh.
Kháng sinh là phương thức quan trọng trong việc điều trị các bệnh truyền nhiễm do vi sinh vật. Tuy nhiên việc lạm dụng thuốc kháng sinh đã trở thành yếu tố chính cho sự xuất hiện phổ biến của các chủng vi sinh vật gây bệnh kháng da thuốc. Vì vậy, việc nghiên cứu, lựa chọn các hợp chất kháng khuẩn tự nhiên như tinh dầu thay các chất kháng sinh đang rất được quan tâm. Trong các ứng dụng dân gian, vỏ chanh thường được sử dụng để giảm cảm lạnh thông thường, cúm và các bệnh khác.
Bên cạnh đó tinh dầu chanh đã được áp dụng trong ngành công nghiệp thực phẩm dé đảm bảo an toan và chất lượng trong các sản phẩm chế biến. Hơn nữa, các hợp chất từ vỏ chanh có kha năng chống oxy hóa dé 6n định các gốc tự do và khả năng kháng khuân đề ức chế sự phát triển của các vi sinh vật gây bệnh và hư hỏng. Vì những lý do này, vỏ chanh được ngảnh công nghiệp thực phẩm đánh giá cao.coli), Salmonella enterica (S.enterica), Bacillus cereus (B. cereus), Staphylococcus aureus (S.
aureus) được xem là những tác nhân chính của các vụ ngộ độc thực phẩm. Tại Việt nam, đây cũng là một trong những loại vi khuẩn chỉ thị để xác định mức độ an toàn của một sản phẩm thực phẩm (46/2007/QD- BYT của Bộ Y tế). Mục tiêu của đề tài Bước đầu thử nghiệm và đánh giá khả năng kháng khuẩn của hợp chất trích ly với các vi khuẩn chỉ thị gram âm và gram dương. Thử nghiệm và đánh giá khả năng kháng khuẩn của tinh dau va nano tinh dau vỏ chanh.
Tối ưu hóa tỷ lệ trộn kết hợp và xác định nồng độ ức chế tối thiểu (MIC) của hỗn hợp nano tinh dầu chanh và dịch trích ly từ bã vỏ chanh. Nội dung thực hiện Nội dung 1: Đánh giá khả năng kháng khuẩn của từng chất: tinh dau chanh, nano tinh dầu chanh và dich trích ly từ bã vỏ chanh. Nội dung 2: Đánh giá khả năng kháng khuẩn của hỗn hợp nano tinh dầu chanh và dịch trích bã vỏ chanh. Tìm tỉ lệ tối ưu của hỗn hợp.
Nội dung 3: Xác định nồng độ ức chế tối thiểu (MIC) của hỗn hợp gồm nano tỉnh dầu chanh và dich trích bã vỏ chanh với các vi khuẩn chỉ thị. TONG QUAN TÀI LIEU 2. Tổng quan về các chat kháng khuẩn trích ly từ vỏ chanh 2. Tổng quan về chanh Citrus aurantifolia thuộc họ Rutaceae và được sử dụng trong cấu trúc dân gian truyền thống của y học dé chữa các bệnh khác nhau.
aurantifolia thường được gọi là chanh ta hoặc cam đắng. Một số của các nghiên cứu trước đây được thực hiện trên cây Citrus aurantifolia thể hiện hoạt tinh sinh học trị cảm sốt, viêm họng, viêm xoang và viêm phế quản, cũng như giúp chữa hen suyén (khan Pathan va ctv, 2012). Trai chanh tuoi (Citrus aurantifolia).uk/ime-citrus-aurantifolia. html) Chanh (Citrus aurantifolia) chứa một số hợp chất hóa học thực vật, như alkaloid, flavonoid, steroid, triterpenoid, saponin, tanin va phenolics, có thé ức chế sự phát triển của vi khuẩn.
Hàm lượng flavonoid của chanh chủ yếu là ở vỏ, bao gồm các lớp mesocarp, epicarp và lớp segment. Vỏ chanh chứa một lượng dồi dào apigenin, routine, quercetin va kaempferol (Kamelia, 2020). Quả chanh tuy là loại trái cây thông dụng, dé sử dụng trong ăn uống hàng ngày nhưng lại chứa nhiều chất có lợi cho sức khỏe con người. Các hợp chất như alkaloid, caroten, coumarin, tinh dầu, flavonoid, axit phenolic và triterpenoid có rất nhiều trong chanh.
Tất cả những chất này có đặc tính dược lý khác nhau, đặc biệt là chống ung thư. aurantifolia đã được nghiên cứu về tác dụng của nó đối với việc ngăn chặn sự đi chuyển của các tế bào ung thư trong cơ thể; do đó, nó ức chế sự đi căn, phát triển của khối u (Kamelia, 2020). Chanh (Citrus aurantifolia) là một loại trái cây có múi đã được trồng trên khắp thé giới. Sản lượng thế giới hàng năm của nó là khoảng 20.
Đây là một loại trái cây ứng dụng rộng rãi trong ngành công nghiệp thực phẩm. Tuy nhiên, phần chanh thường được tiêu thụ là nước cốt, chiếm khoảng 48% tông trọng lượng, trong khi phan còn lại (vỏ, hạt và thịt khô: 52% tổng trọng lượng) thường không được sử dung, do đó trở thành chất thải thực phẩm (Phucharoenrak và ctv, 2022). Đề thúc đây tiêu dùng và sản xuất có trách nhiệm, một lượng đáng kể chất thải thực phẩm do sử dụng chanh cần được quản lý và khai thác một cách toàn diện. Sử dụng chất thải thực pham nhu vo chanh không chi làm giảm các van đề về môi trường mà còn tăng thêm giá trị thương mại cho chanh.
Tổng quan về tinh dầu chanh và nano tinh dầu chanh Tinh dau từ quả chanh (Citrus aurantifolia) là một trong những hương liệu quan trọng được sử dụng rộng rãi trong đồ uống, bánh, bánh ngọt, kẹo,và món tráng miệng bang gelatin, v. Ngoài đặc tính tạo hương vị, các báo cáo chỉ ra rang hợp chat dé bay hoi trong tinh dau chanh (chang han nhu limonene, terpinene, citral, linalool, caryophyllene, v.) có đặc tính kháng khuan va chống oxy hóa, khiến tinh dầu chanh trở thành phụ gia cho thực phẩm ngành công nghiệp. Tinh đầu có thé được sản xuất từ vỏ trái cây, một trong số đó là vỏ chanh. Nó là cần thiết dé nghiên cứu tận dụng phế phẩm vỏ chanh làm nguyên liệu tinh dau nhằm tăng giá trị kinh tế của phê phẩm vỏ chanh và nâng cao thu nhập cho nông dân trồng 4 vỏ chanh.
Có nhiều phương pháp trích khác nhau được sử dụng trong sản xuất tinh dầu, phương pháp được sử dụng thường phụ thuộc vảo loại cây được sử dụng Vỏ chanh chủ yếu thu được từ sản phẩm phụ của ngành công nghiệp sản xuất nước trái cây. Nghiên cứu của Lin (2019) đã xác định được 60 hợp chất dễ bay hơi của tỉnh dầu chanh bằng GC/MS, trong đó các thành phần chiếm ưu thé là limonene, y- terpinene và B-pinene. Tinh dầu chanh được định lượng theo phương pháp DPPH và phương pháp ABTS, với giá trị IC50 lần lượt là 2,36 mg/mL và 0,26 mg/mL. Tinh dầu chanh có nhiều lợi ích cho sức khỏe.
Tuy nhiên, một trở ngại đối với việc sử dụng của nó trong thương mại là quá trình oxy hóa trong quá trình bảo quản. Nhũ tương nano (hệ keo dạng hạt) đã được chứng minh là chất mang thích hợp cho các thành phan tinh dầu ưa béo do các hợp chất lưỡng tinh tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình hòa tan (Christy và ctv, 2017). Trong nghiên cứu của (Christy và ctv, 2017) việc chuẩn bị nhũ tương nano được thực hiện bằng phương pháp nhũ tương tự phát. Tween 80 và propylene glycol được chọn làm thành phần hỗn hợp chất hoạt động bề mặt.
Pha dau bao gồm Miglyol 812 va tinh dầu chanh trong khi nước cat hai lần được sử dụng trong pha nước. Công thức tối ưu chứa 20% Tween 80, 10% propylene glycol, 1,25% Miglyol 812 và 3,75% tinh dau chanh. Công thức nay sau đó được có định và độ 6n định nhiệt động lực học của nó được xác định. Kết qua cho thay nhũ tương nano dầu chanh ổn định về mặt nhiệt động và chịu được sự thay đôi mạnh mẽ về nhiệt độ, quá trình ly tâm và lưu trữ lâu dài.
Ngoài ra, nhũ tương nano có độ nhớt thấp, điều này có thé tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của nó như một hợp chất được phâm. Theo nghiên cứu của Tavallali và ctv (2021), limonene (71,7%), b-pinene (8,5%), g-terpinene (7,3%), myrcene (1,8%) và a-pinene (1,7%), là các hợp chất chính của tinh dầu chanh. Các hợp chat dé bay hơi chiếm ưu thế của C. aurantifolia là limonene (49,3%), tiếp theo là b-pinene (21,7%), g-terpinene (9%), a-pinene (6,83%) và sabinene (4.
Axit trans-ferulic là hợp chất polyphenol chính trong tat cả các chiết xuất được nghiên cứu của C. aurantifolia bang dung môi metanol thé hiện hoạt tinh chống oxy hóa, lượng polyphenols va flavonoids cao hon so với các chiết xuất được nghiên cứu khác. Các loại tinh dầu từ Citrus spp. có tác dụng kháng khuẩn rõ rệt đối với cả vi khuẩn và nam.
Hầu hết các nghiên cứu đã tập trung vào các loại tinh dau từ cây có múi cận 5) nhiệt đới. Tinh dau từ hai giống Citrus hystrix DC và C. aurantifolia thé hiện hoạt tinh khang khuan Bacillus cereus, Staphylococcus aureus va Salmonella (Thomas va ctv, 2014). Trong nghiên cứu của Liew va ctv (2020), nhũ tương nano tinh dầu chanh được sản xuất bằng cách trộn 5% (w/w) pha dau (tinh dầu chanh va dau ngô theo tỷ lệ 8:2) với 15% (w/w) Tween 80 và 80% (w/w) của nước khử ion bằng cách sử dụng khuấy từ ở 750 vòng/phút và 25°C.
Nhũ tương nano tỉnh dầu chanh có kích thước hạt nhỏ nhất (21 nm) và độ đục thấp nhất (99,0% độ truyền qua). Tổng quan dịch trích vỏ bã chanh Chanh (Citrus aurantifolia) là một loại trái cây và thành phần thực phẩm quan trọng trong các công thức nau ăn, món tráng miệng và đồ uống. Theo thống kê của FAO về trái cây có múi, Thái Lan thu hoạch khoảng 130.000 tan chanh xanh và chanh vàng/ năm. Nói chung, 45 — 60% vỏ, cui trắng và hạt bị loại bỏ sau khi chế biến nước trái cây.
Một lượng lớn vỏ chanh có thé gây ra van đề nghiêm trọng nếu không có kế hoạch quản lý chất thải hiệu quả. Vỏ chanh vẫn chứa nhiều thành phần phụ như mật đường, pectin, polyphenol, vitamin, khoáng chất, tinh dầu và chất XƠ, CÓ thé duoc chiết xuất làm nguyên liệu có giá trị. Một số nghiên cứu đã báo cáo rang vỏ trái cây có múi có chứa nhiều hợp chất tự nhiên như auraptene, bergamottin, imperatorin, heraclenin và oxypeucedanin. Dé tăng thêm giá trị cho chất thải công nghiệp từ quá trình chế biến chanh, việc chiết xuất có hiệu quả sẽ có lợi dé thu hồi các thành phan chức năng trong bã chanh (Rodsamran và Sothornvit, 2019).
Theo nghiên cứu của (Munawaroh, 2018), vỏ quả chanh khô được chiết xuất bằng phương pháp ngâm với ethanol 48%, 72% và 96%. Vỏ quả chanh khô và tươi cũng được chiết xuất bằng etyl axetat. Xét nghiệm kháng khuẩn được thực hiện bởi thạch khuếch tán chống lại Staphylococcus aureus ATCC 25923 va Escherichia coli ATCC 25922.