Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Chi Pandanus (thuộc họ Dứa dại - Pandanaceae) là một chi thực vật một lá mầm gồm khoảng 600 loài phân bố chủ yếu tại các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới trên thế giới. Tại Việt Nam, Trung tâm dữ liệu thực vật Việt Nam ghi nhận sự có mặt của 19 loài, trong đó loài Dứa dại với tên khoa học là Pandanus tectorius Parkinson ex Du Roi (tên gọi khác: Dứa gai, dứa gỗ) là loài cây phổ biến mọc hoang dại dọc bờ biển, bãi cát ẩm, rú bụi ngập mặn và ven sông suối trải dài từ các tỉnh phía Bắc đến Nam bộ. Về mặt ứng dụng truyền thống, các bộ phận của cây dứa dại như quả, rễ, hoa và đọt non từ lâu đã được nhân dân sử dụng làm thực phẩm đan lát thủ công mỹ nghệ, đồng thời là các vị thuốc y học cổ truyền điều trị sán khí, tiểu đường, phù thũng, cảm mạo và bệnh gan.

Mặc dù các tài liệu y học cổ truyền và một số nghiên cứu dược lý quốc tế đã bước đầu chứng minh các nhóm chất phenolic, steroid, alkaloid và lignan trong chi Pandanus có hoạt tính chống oxy hóa, kháng khuẩn và hạ lipid máu, song các dữ liệu thực nghiệm về quy trình chiết tách, phân lập chi tiết từng hợp chất tinh khiết từ quả cây dứa dại phân bố tại các vùng sinh thái đặc trưng của Việt Nam vẫn cần được khảo sát và ghi nhận một cách hệ thống.

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Lê Thị Thu Thái tập trung giải quyết các nhiệm vụ và mục tiêu nghiên cứu cụ thể sau:

  1. Thu hái, xử lý nguyên liệu quả cây dứa dại và điều chế dịch chiết tổng cũng như các phân đoạn cao có độ phân cực khác nhau.
  2. Ứng dụng các kỹ thuật sắc ký cột pha thường, pha đảo và sắc ký rây phân tử để phân tách, tinh chế các hợp chất sạch từ phân đoạn dịch chiết ethyl acetate.
  3. Xác định các hằng số vật lý và giải mã cấu trúc hóa học của các hợp chất phân lập được bằng phương pháp đo điểm nóng chảy kết hợp các kỹ thuật phổ cộng hưởng từ hạt nhân (NMR) hiện đại.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Quả của cây dứa dại (Pandanus tectorius Parkinson ex Du Roi), được định danh thực vật bởi Thạc sĩ Đặng Văn Sơn thuộc Viện Sinh học Nhiệt đới.
  • Không gian thu mẫu: Địa bàn huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận.
  • Thời gian thu hái mẫu: Tháng 07 năm 2013.
  • Phạm vi nội dung: Khảo sát thành phần hóa học phân đoạn D của cao chiết ethyl acetate.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận được xây dựng dựa trên cơ sở lý thuyết hóa học các hợp chất thiên nhiên (Natural Products Chemistry), kết hợp lý thuyết tách chiết và nhận diện cấu trúc hóa học của các nhóm chất thứ cấp thực vật như phenolic, phenylpropanoid và lignan.

Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm bao gồm:

  • Phương pháp chiết tách và xử lý mẫu: Quả dứa dại tươi được sơ chế, rửa sạch, phơi khô trong bóng râm, sấy ở nhiệt độ thấp và xay thành bột mịn. Quá trình chiết xuất sử dụng phương pháp ngâm dầm bột nguyên liệu trong dung môi ethanol 96% ở nhiệt độ phòng, sau đó cô giảm áp thu cao tổng. Phân bố lỏng - lỏng được thực hiện liên tiếp với các dung môi có độ phân cực tăng dần: hexane, ethyl acetate và nước cất.
  • Phương pháp sắc ký phân lập: Phân tách các hợp chất sạch bằng kỹ thuật sắc ký cột cổ điển (Column Chromatography - CC) sử dụng hạt chất hấp phụ silica gel pha thường (kích thước hạt 40–60 µm), silica gel pha đảo Rp18 (kích thước hạt 30–50 µm) và gel Sephadex LH-20. Quá trình kiểm tra và theo dõi các phân đoạn sắc ký được thực hiện bằng sắc ký lớp mỏng (TLC) trên bản mỏng nhôm tráng sẵn DC-Alufolien F254 và bản mỏng pha đảo Rp18 F254s (Merck).
  • Thuốc thử và phương pháp phát hiện: Quan sát vết sắc ký dưới đèn tử ngoại cầm tay UVITEC ở hai bước sóng 254 nm và 365 nm; kết hợp phun hiện màu bằng dung dịch thuốc thử H2SO4 10%/ethanol và dung dịch FeCl3/ethanol (nhận diện nhóm chức phenolic).
  • Phương pháp xác định cấu trúc: Điểm nóng chảy của các hợp chất được đo trên thiết bị Electrothermal IA 9000 series sử dụng mao quản không hiệu chỉnh (thực hiện tại Phòng Các hợp chất thiên nhiên, Viện Công nghệ Hóa học, Thành phố Hồ Chí Minh). Phổ cộng hưởng từ hạt nhân gồm phổ 1D (1H-NMR tần số 500 MHz, 13C-NMR tần số 125 MHz) và phổ 2D (HSQC, HMBC) được đo trên máy Bruker AM500 FT-NMR Spectrometer trong dung môi CDCl3 (thực hiện tại Viện Hóa học, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, Hà Nội).

Nội dung chính theo từng chương

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN

Chương 1 cung cấp tổng quan về mặt thực vật học, công dụng dân gian, giá trị dinh dưỡng và các công trình nghiên cứu hóa học đã công bố đối với chi Pandanus nói chung và loài Pandanus tectorius nói riêng:

  • Đặc điểm thực vật và phân bố: Chi Pandanus có khoảng 600 loài, cây đơn tính khác gốc, thụ phấn nhờ gió hoặc động vật, quả hình cầu đường kính 10–12 cm gồm nhiều khối quả hạch phát tán chủ yếu qua đường nước. Tại Việt Nam có 19 loài phân bố từ vùng núi đá đến ven biển. Loài Pandanus tectorius Parkinson ex Du Roi là cây thân gỗ nhỏ cao 3–4 m, có nhiều rễ phụ thả xuống đất, mép lá có gai nhọn, quả dạng khối hình trứng dài 16–22 cm, khi chín có màu vàng cam.
  • Giá trị ứng dụng và y học cổ truyền: Tại Micronesia, quả dứa dại là nguồn lương thực chính cung cấp tới 50% năng lượng khẩu phần. Tại Việt Nam, lá dùng để dệt chiếu, làm vật liệu composite gia cường trên nền polyester (nghiên cứu của Phan Thị Thúy Hằng và Hoàng Thị Lan Phương). Trong Đông y, quả dứa dại gọi là "lỗ cổ tử", "sơn ba la", có tính bình, vị ngọt, dùng chữa sán khí, tiểu đường, kiết lỵ, giải độc rượu; rễ tính mát dùng hạ sốt, lợi thủy, chữa viêm gan, phù thũng.
  • Nghiên cứu hóa thực vật và hoạt tính sinh học: Bột quả dứa dại chứa hàm lượng dinh dưỡng cao (100 g cung cấp 321 kcal, 2,2 g protein, 1400 mg β-carotene, tổng carotenoid đạt 5620 mg và 10 loại vitamin). Các công trình quốc tế đã phát hiện thành phần tinh dầu dễ bay hơi từ quả chín chứa neryl acetate (27,5%), cinnamyl acetate (10,2%), 3-methylbut-3-enyl acetate (10,1%); tinh dầu hoa chứa 2-phenyl ethyl methyl ether (37,7%) và terpinen-4-ol (18,6%). Các nghiên cứu của Ting-Ting Jong (1998), Mario A. Tan (2006) và Xiaopo Zang (2012) đã phân lập nhiều dẫn xuất phenolic, triterpene ức chế vi khuẩn lao Mycobacterium tuberculosis H37Rv, cùng các hợp chất lignan chống oxy hóa mạnh.

Bảng tổng hợp một số hợp chất tiêu biểu trong cây dứa dại được tác giả thống kê từ tài liệu tham khảo:

Nhóm hợp chất Tên hợp chất tiêu biểu Công thức phân tử Bộ phận thực vật Hoạt tính / Tác dụng sinh học
Phenolic Vanillin C8H8O3 Rễ Chống oxy hóa, kháng virus, diệt nấm
Phenolic Trans-ethyl caffeate C12H15O4 Trái Chống viêm
Phenolic Sinapaldehyde C11H12O4 Trái Kháng ung thư, kháng nấm
Steroid Hỗn hợp Stigmasterol và β-Sitosterol C30H50O / C29H50O Lá Ức chế vi khuẩn lao
Flavonoid Tangeretin, Naringenin C20H20O7 / C15H12O5 Trái Hạ cholesterol, kháng virus
Lignan Pinoresinol, Eudesmin C20H22O6 / C22H26O6 Rễ Chống oxy hóa mạnh
Carotenoid β-Carotene, Lutein C40H56 / C40H56O2 Quả Tiền vitamin A, chống thiếu máu, bảo vệ tim mạch

CHƯƠNG 2 THỰC NGHIỆM VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Chương 2 mô tả chi tiết quy trình thực nghiệm chiết xuất, phân đoạn và phân lập các hợp chất từ mẫu nguyên liệu thu thập tại Bình Thuận:

  • Điều chế các cao thô: Từ 7,6 kg bột quả dứa dại khô, tiến hành ngâm dầm với dung môi ethanol 96°, lọc dịch chiết và cô quay chân không thu được 450 g cao ethanol tổng. Hòa tan cao ethanol vào nước rồi thực hiện chiết phân bố lỏng - lỏng lần lượt với hexane và ethyl acetate. Sau khi cô đuổi dung môi, thu được ba phân đoạn cao thô: cao hexane (67,2 g), cao ethyl acetate (85,7 g) và cao nước (285 g).
  • Phân đoạn cao ethyl acetate: Toàn bộ 85,7 g cao ethyl acetate được phối trộn với silica gel và nạp lên cột sắc ký cổ điển, giải hấp bằng hệ dung môi hexane : ethyl acetate với độ phân cực tăng dần từ 50:1 đến 100% ethyl acetate. Dựa trên sắc ký lớp mỏng, các phân đoạn tương đồng được gộp lại thành 6 phân đoạn chính, trong đó phân đoạn D được triển khai sắc ký tiếp thành 4 phân đoạn nhỏ: D1 (6,5 g), D2 (5,3 g), D3 (3,4 g) và D4 (1,2 g).
  • Quy trình cô lập các hợp chất sạch:
    • Từ phân đoạn D1 (6,5 g): Sắc ký cột với hệ dung môi ethyl acetate : chloroform thu được 5 phân đoạn phụ (D11–D15). Khảo sát phân đoạn D12 qua nhiều lần sắc ký cột thu được 6 mg hợp chất PTF10 (dạng tinh thể màu trắng trong CHCl3). Khảo sát phân đoạn D14 kết hợp cột pha đảo MeOH:nước (1:7) và cột pha thường thu được 4 mg hợp chất PTF18 (tinh thể trắng trong acetone).
    • Từ phân đoạn D2 (5,3 g): Triển khai sắc ký cột silica gel với hệ dung môi giải hấp ethyl acetate : chloroform với tỉ lệ phân cực tăng dần (10:1, 7:1, 4:1, 2:1, 100%), phân đoạn phụ D2322 cho một vết đơn trên TLC; tiến hành rửa giải thu được 10 mg hợp chất PTF09 (tinh thể trắng trong acetone).
    • Từ phân đoạn D3 (3,4 g): Sắc ký cột giải hấp bằng hệ chloroform : methanol (tỉ lệ 100%, 90:1, 70:1, 50:1, 30:1, 10:1), tiếp tục sắc ký phân đoạn D3456 với hệ CHCl3:MeOH (70:1) thu được 5 mg hợp chất PTF4D (tinh thể trắng trong acetone).

Bảng tổng hợp đặc tính vật lý và khối lượng các hợp chất phân lập:

Mã hợp chất Khối lượng Dạng tồn tại cảm quan Độ tan Nhiệt độ nóng chảy (°C) Phản ứng thuốc thử
PTF09 10 mg Bột / tinh thể màu trắng Acetone 175–178 —
PTF10 6 mg Bột / tinh thể màu trắng Acetone, CHCl3 105–106 Dương tính với FeCl3/ethanol
PTF18 4 mg Bột / tinh thể màu trắng Acetone 136–138 Dương tính với FeCl3/ethanol
PTF4D 5 mg Bột / tinh thể màu trắng Acetone — Hiện màu xanh đậm với H2SO4 10%

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

Chương 3 trình bày các kết quả phổ học và biện luận cấu trúc của 4 hợp chất tinh khiết đã phân lập:

  • Nhận diện tổng quát: Dựa trên phân tích phổ nghiệm 1D-NMR, 2D-NMR và so sánh hằng số vật lý với tài liệu tham khảo, bốn hợp chất từ phân đoạn D cao ethyl acetate quả dứa dại được xác định danh tính cấu trúc lần lượt là:

    1. Hợp chất PTF09: (+)-syringaresinol
    2. Hợp chất PTF10: (E)-sinapinaldehyde
    3. Hợp chất PTF18: p-hydroxycinnamaldehyd
    4. Hợp chất PTF4D: (+)-lyoniresinol
  • Biện luận chi tiết cấu trúc hợp chất PTF10 ((E)-sinapinaldehyde):

    • Hợp chất có nhiệt độ nóng chảy 105–106 °C, phản ứng tạo màu với thuốc thử FeCl3/ethanol khẳng định sự hiện diện của nhóm phenolic.
    • Phổ 1H-NMR và 13C-NMR thể hiện vòng benzene thế 1, 3, 4, 5 đối xứng. Tín hiệu proton nhóm aldehyde xuất hiện ở δH 9,67 ppm (1H, d, J = 8,0 Hz) có tương quan HMBC với carbon sp2 ở δC 126,8 ppm, chứng minh sự tồn tại của nhóm liên hợp –CH=CH–CHO.
    • Do ảnh hưởng rút electron mạnh của nhóm –CHO, proton H-3 và H-2 có độ dịch chuyển hóa học lần lượt tại δH 7,39 ppm và 6,63 ppm. Kết hợp phổ HSQC xác định hai carbon tương ứng C-3 và C-2 xuất hiện ở δC 153,1 ppm và δC 126,8 ppm. Hằng số ghép cặp J = 8,0 Hz chứng minh liên kết đôi ngoại vòng có cấu hình trans (E).
    • Tín hiệu proton của hai nhóm methoxy đối xứng ở δH 3,94 ppm (6H, s) cho tương quan HMBC với tín hiệu carbon tứ cấp δC 147,3 ppm, chứng minh hai nhóm –OCH3 gắn vào vòng thơm tại vị trí C-3’ và C-5’. Hai proton thơm H-2’ và H-6’ (δH 7,39 ppm) cùng cho tương quan HMBC với C-4’ (δC 138,1 ppm) và carbon olefin C-3 (δC 153,1 ppm).
    • Dữ liệu phổ nghiệm hoàn toàn trùng khớp với cấu trúc của hợp chất (E)-sinapinaldehyde (tên gọi khác: sinapyl aldehyde, 4-hydroxy-3,5-dimethoxycinnamaldehyde) từng được công bố bởi Xiaopo Zang và cộng sự (2012). Hợp chất này đã được Sheikh Shrear và cộng sự (2013) chứng minh có hoạt tính kháng nấm mạnh, đặc biệt đối với các chủng Candida spp.
  • Biện luận sơ bộ hợp chất PTF18 (p-hydroxycinnamaldehyd):

    • Hợp chất phân lập dưới dạng bột màu trắng, tan tốt trong acetone, điểm nóng chảy 136–138 °C. Phản ứng với thuốc thử FeCl3/ethanol cho kết quả dương tính xác nhận nhóm chức phenolic, cấu trúc được định danh là p-hydroxycinnamaldehyd.

Kết quả và đóng góp

  • Kết quả định lượng và phân lập thực nghiệm:
    • Xử lý thành công 7,6 kg bột quả dứa dại khô thu hái tại Tuy Phong, Bình Thuận; điều chế được 450 g cao chiết ethanol tổng.
    • Phân tách phân bố lỏng - lỏng thu được 67,2 g cao hexane, 85,7 g cao ethyl acetate và 285 g cao nước.
    • Từ 85,7 g cao ethyl acetate, thông qua các hệ dung môi sắc ký cột silica gel pha thường và pha đảo, đã tinh chế thành công 4 hợp chất sạch: PTF09 (10 mg), PTF10 (6 mg), PTF18 (4 mg) và PTF4D (5 mg).
  • Đóng góp khoa học:
    • Xác định sáng tỏ cấu trúc hóa học của 4 hợp chất từ quả dứa dại Việt Nam gồm 2 dẫn xuất cinnamaldehyde ((E)-sinapinaldehyde, p-hydroxycinnamaldehyd) và 2 dẫn xuất lignan ((+)-syringaresinol, (+)-lyoniresinol).
    • Thiết lập quy trình sắc ký phân lập cụ thể và xây dựng hệ thống dữ liệu thực nghiệm (nhiệt độ nóng chảy, độ dịch chuyển hóa học 1H-NMR, 13C-NMR, tương quan HSQC, HMBC) cho các chất thứ cấp từ loài Pandanus tectorius phân bố tại vùng duyên hải Nam Trung Bộ.
    • Cung cấp bằng chứng hóa thực vật hỗ trợ giải thích cơ sở khoa học cho các ứng dụng kháng nấm, kháng khuẩn và bảo vệ sức khỏe của quả dứa dại theo kinh nghiệm dân gian.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của đề tài:
    • Phạm vi khảo sát thành phần hóa học mới chỉ tập trung vào phân đoạn D của cao chiết ethyl acetate; các phân đoạn còn lại của cao ethyl acetate cũng như toàn bộ lượng cao hexane (67,2 g) và cao nước (285 g) chưa được tiến hành khảo sát phân lập.
    • Lượng mẫu tinh chế thu được ở từng hợp chất còn khá ít (từ 4 mg đến 10 mg), chỉ đủ đáp ứng cho việc đo hằng số vật lý và phân tích các phổ nghiệm cấu trúc mà chưa thể triển khai thử nghiệm hoạt tính sinh học trực tiếp trên các hợp chất tinh khiết này.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo:
    • Mở rộng nghiên cứu chiết tách và phân lập các hợp chất trên các phân đoạn còn lại của cao ethyl acetate, cao hexane và cao nước từ quả dứa dại.
    • Nâng quy mô chiết xuất nguyên liệu để thu gom lượng chất sạch lớn hơn, phục vụ cho việc đánh giá các hoạt tính sinh học tiềm năng (in vitro và in vivo) như hoạt tính chống oxy hóa, kháng nấm Candida spp., ức chế vi khuẩn lao và hạ lipid máu.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng tham khảo:
    • Khóa luận là tài liệu chuyên khảo hữu ích cho sinh viên, học viên cao học và cán bộ nghiên cứu thuộc các chuyên ngành Hóa học (Hóa hữu cơ, Hóa học các hợp chất thiên nhiên), Dược học, Hóa dược và Thực vật học.
    • Các nhóm nghiên cứu đang thực hiện đề tài về cây thuốc biển, thực vật họ Pandanaceae hoặc tìm kiếm các hợp chất phenolic, phenylpropanoid và lignan có hoạt tính sinh học từ tự nhiên.
  • Các nội dung có giá trị sử dụng cao:
    • Sơ đồ phân chia cao thô và các hệ dung môi sắc ký cột silica gel (hệ Hexane : Ethyl acetate, Ethyl acetate : Chloroform và Chloroform : Methanol) với các tỉ lệ rửa giải cụ thể có thể áp dụng trực tiếp cho các nghiên cứu phân lập tương tự.
    • Toàn bộ bảng thống kê thành phần hóa học, cấu trúc hóa học và phân bố của các chất trong chi Pandanus (Bảng 1.1, 1.2, 1.3) ở Chương 1 là nguồn tài liệu tổng quan thực vật học phong phú.
    • Phương pháp phân tích, biện luận phổ NMR 1D và 2D (đặc biệt là việc gán tín hiệu phổ HMBC và HSQC trên nhóm –CH=CH–CHO và khung thơm đối xứng) là bài tập mẫu điển hình cho việc xác định cấu trúc phân tử hợp chất hữu cơ.

Câu hỏi thường gặp

1. Khối lượng nguyên liệu quả dứa dại ban đầu và lượng cao chiết thu được trong nghiên cứu là bao nhiêu?

Tác giả đã sử dụng 7,6 kg bột quả dứa dại khô thu hái tại Tuy Phong, Bình Thuận. Quá trình ngâm dầm với ethanol 96° thu được 450 g cao ethanol tổng. Sau khi chiết lỏng - lỏng phân bố, khối lượng các cao thành phần thu được là: 67,2 g cao hexane; 85,7 g cao ethyl acetate; và 285 g cao nước.

2. Bốn hợp chất sạch được phân lập từ phân đoạn D của cao ethyl acetate là những chất nào?

Bốn hợp chất sạch được phân lập và xác định cấu trúc bao gồm:

  • Hợp chất PTF09: (+)-syringaresinol (thu được 10 mg)
  • Hợp chất PTF10: (E)-sinapinaldehyde (thu được 6 mg)
  • Hợp chất PTF18: p-hydroxycinnamaldehyd (thu được 4 mg)
  • Hợp chất PTF4D: (+)-lyoniresinol (thu được 5 mg)

3. Dựa trên những dữ liệu thực nghiệm nào tác giả xác định được cấu trúc của hợp chất PTF10 là (E)-sinapinaldehyde?

Cấu trúc của PTF10 được xác định dựa trên: phản ứng tạo màu với FeCl3/ethanol (chứng minh nhóm phenolic); điểm nóng chảy 105–106 °C; tín hiệu proton aldehyde δH 9,67 ppm (1H, d, J = 8,0 Hz); tín hiệu hai proton olefin trans tại δH 7,39 ppm (H-3) và 6,63 ppm (H-2); hai nhóm methoxy đối xứng tại δH 3,94 ppm gắn vào carbon C-3’/C-5’ (δC 147,3 ppm); cùng các tương quan không gian trên phổ 2D-NMR (HSQC, HMBC) và đối chiếu với tài liệu chuẩn của Xiaopo Zang (2012).

4. Mẫu thực vật quả dứa dại trong khóa luận được thu thập ở đâu và do ai giám định tên khoa học?

Mẫu quả dứa dại được thu hái tại địa bàn huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận vào tháng 7 năm 2013. Mẫu thực vật nghiên cứu đã được Thạc sĩ Đặng Văn Sơn thuộc Viện Sinh học Nhiệt đới định danh tên khoa học chính xác là Pandanus tectorius Parkinson ex Du Roi.

5. Nhiệt độ nóng chảy thực tế đo được của các hợp chất PTF09, PTF10 và PTF18 là bao nhiêu?

Nhiệt độ nóng chảy đo được trên máy Electrothermal IA 9000 series bằng mao quản không hiệu chỉnh của các hợp chất lần lượt là: hợp chất PTF09 nóng chảy ở 175–178 °C; hợp chất PTF10 nóng chảy ở 105–106 °C; và hợp chất PTF18 nóng chảy ở 136–138 °C.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Lê Thị Thu Thái đã hoàn thành việc khảo sát thành phần hóa học phân đoạn D từ cao chiết ethyl acetate của quả cây dứa dại (Pandanus tectorius Parkinson ex Du Roi) thu hái tại Bình Thuận. Thông qua các phương pháp chiết xuất ngâm dầm và sắc ký cột phân đoạn liên tục, tác giả đã cô lập được 4 hợp chất sạch gồm (+)-syringaresinol, (E)-sinapinaldehyde, p-hydroxycinnamaldehyd và (+)-lyoniresinol. Cấu trúc hóa học của các hợp chất đã được sáng tỏ dựa trên phân tích điểm nóng chảy và hệ thống phổ cộng hưởng từ hạt nhân 1D và 2D. Kết quả này cung cấp thêm dẫn liệu thực nghiệm có giá trị về mặt hóa thực vật cho nguồn tài nguyên dược liệu biển Việt Nam.