CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1 Lịch sử của quá trình phát triển công tác PCCC ở nước ta. Từ lâu ông bà ta có câu “ Giặc phá không bằng nhà cháy” hay là “ Thủy, hỏa, đạo, tặc” để nói lên ý nghĩa và tầm quan trọng của công tác PCCC. Nhiều nơi nhân dân ta đã tổ chức công tác PCCC bằng hình thức hội phường. Cách đây hơn 100 năm hội rồng ở Bắc Ninh được thành lập để giúp nhau chữa cháy khi có sự cố xảy ra, đến nay trong nhân dân còn giữ lại các ống thụt, bơm tay làm bằng đồng có tác dụng chữa cháy tốt.
Ở những vùng Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh là những vùng gió Lào thường có những đám cháy khá lớn nên làng nào cũng có một vài cây câu liêm, vài cái thang, vài cái bùi nhùi để chữa cháy. Đây là hình thức tổ chức tự phát của quần chúng để tự vệ nhưng đến thời kỳ phong kiến - thực dân thì không được khuyến khích và nâng đỡ nên phong tục này dần dần tan rã. Sau cách mạng tháng Tám và nhất là sau khi hòa bình lập lại, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có những quan tâm đến công tác PCCC. Lực lượng PCCC được thành lập và ngày càng lớn mạnh nhanh chóng cả về chất lượng lẫn số lượng, từng bước tiến lên chính qui và hiện đại.
Trang thiết bị PCCC từ chỗ chỉ có vài xe chữa cháy cũ kỹ, hư hỏng; nay đã có đủ phương tiện, máy móc, thiết bị hiện đại đủ sức chữa cháy những đám cháy lớn. Ngày 4-10-1961 Chủ tịch ký sắc lệnh công bố pháp lệnh: “ Qui định của việc quản lý của Nhà Nước đối với công tác phòng cháy và chữa cháy”. Trong đó quy định rõ nghĩa vụ của mỗi công dân, trách nhiệm của thủ trưởng cơ quan các cấp đối với công tác PCCC, đồng thời quy định rõ quyền hạn, nhiệm vụ tổ chức hệ thống PCCC. Trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội trên phạm vi cả nước, PCCC cũng như PCCN được xem là một công tác quan trọng nhằm đảm bảo an toàn cho các cơ sở sản xuất, bảo vệ tính mạng và tài sản, bảo đảm an ninh trật tự xã hội.
Do đó, vào ngày 29 – 6 – 2000, Luật PCCC đã được Quốc Hội nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua và có hiệu lực từ ngày 4 – 10 – 2001. Từ đó ngày 4 – 10 hằng năm được lấy là ngày PCCN trên toàn quốc.2 Tình hình cháy nổ trong những năm gần đây: Trong những năm gần đây, công tác PCCN đã được các ngành, đoàn thể, công ty xí nghiệp có sự quan tâm lớn. Tuy nhiên tình hình cháy vẫn có chiều hướng gia tăng cả về số vụ và thiệt hại, xảy ra các vụ cháy lớn gây thiệt hại về tài sản, làm ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh, trật tự an toàn xã hội. Nguyên nhân chủ yếu là do việc tổ chức và quản lý thực hiện công tác PCCN ở nhiều nơi chưa tốt, công tác quản lý của Nhà nước còn nhiều điều bất cập.
Sự cố xảy ra tập trung chủ yếu vào các doanh nghiệp tư nhân, do thiếu mặt bằng sản xuất nên họ đã tận dụng triệt để về diện tích đặt máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu, khoảng không gian hẹp… nên dễ cháy nổ. Hơn nữa các yếu tố khác nhö : thời gian về khí hậu nắng nóng kéo dài, nhu cầu sử dụng điện cao, các thiết bị truyền tải điện luôn quá tải, đường dây không được cải tạo thay thế, việc bảo dưỡng, lắp đặt các thiết bị máy móc không hợp lý nên dẫn đến các sự cố về điện. Thực trạng nguy cơ cháy xảy ra hiện nay đối với các khu dân cư, xí nghiệp, khu công nghiệp vẫn còn ở mức cao. Theo con số thống kê, từ năm 2002 - 2006, trung bình mỗi ngày, cả nước xảy ra 7 vụ cháy, làm chết hoặc bị thương 1 người, thiệt hại về tài sản tính thành tiền là 1,4 tỷ đồng và trên 18 ha rừng.3 Các vụ cháy nổ điển hình: Cháy nhà máy giày Khải Hoàn ngày 27.2004 tổn thất ước tính 50 tỉ VNĐ.
Cháy nhà máy dệt PUYEN ngày 03.2004 thiệt hại ước tính 60 tỉ VNĐ. Cháy nhà máy nhựa TIUCO ngày 26.2004 thiệt hại ước 60 tỷ VNĐ. Cháy tại công ty Chi - Ya chuyên sản xuất mốp xốp ở phường Tân Tạo, Bình Tân ngày 03.2006 đã thiêu rụi dãy nhà xưởng 4 tầng có tổng diện tích sử dụng gần 10.000 m2, thiệt hại 24 tỉ VNĐ. Cháy nổ tại công ty TNGG Đại Ánh Sáng chuyên sản xuất kiện van nước tại khu công nghiệp Tân Tạo, Bình Tân TP.2006 do chiếc bình hơi bất ngờ phát nổ làm bị thương 8 công nhân, thiệt hại hàng tỉ đồng.
Vụ cháy của kho đông lạnh Seaprodex vào thập niên 80. Vụ cháy ở trung tâm thương mại ITC vào tháng 10/2002. Cháy tại công ty TNHH Anh Dũng sản xuất nhựa và đệm mốp vào tháng 3/2006 gây thiệt hại đến hơn 10 tỉ đồng. 4 Gần đây hơn là hỏa hoạn xảy ra ở công ty TNHH Hank Pack chuyên sản xuất các sản phẩm mốp xốp ở Biên Hòa- Đồng Nai gây thiệt hại đến 14 tỉ đồng.2 Sơ lược về EPS và panel 1.1 Lịch sử về polystrene Năm 1839, nhà bào chế thuốc người Đức Eduard Simon đã phát hiện ra được sự cách ly bề mặt từ nhựa thiên nhiên về một chuỗi phân tử styrene dài được gọi là polymer; và đây được xem là sơ khai về polystrene.
1937: Otto Bayer và các đồng sự đã phát hiện và sáng chế hoá học về polyurethanes, 1938: Polystyrene được áp dụng vào thực tế sản xuất.2 Sự sản xuất EPS: EPS ( expanble polystryren) được sản xuất khi pentan được hoà tan hoàn toàn trong polystrene dưới sức nóng. Đầu tiên pentan có mặt trong EPS ở dạng thô và được lưu trữ trong bao. Sau đó, dưới hơi nóng, áp suất cao như hơi nóng từ lò hơi để gia nhiệt và làm nở hạt EPS. Sự giãn nở bởi tác dụng của lượng khí pentan được hoà tan trong vật liệu polystyrene sẽ giúp các hạt EPS được kích nhanh.
Sau đó, hạt EPS đã được kích sẽ được cho vào khuôn, sau một thời gian sẽ hình thành nên vật liệu định hình như yêu cầu.3 Nhu cầu sử dụng: EPS được sử dụng rộng rãi áp dụng trong sản xuất các vật liệu cách nhiệt, dùng trong xây dựng, đóng gói thực phẩm đông lạnh, trong đó chiếm tới 70% là dùng trong xây dựng và cách nhiệt. Chỉ riêng trong năm 2002: 5 triệu tấn polystrene sử dụng ở các nước châu Âu. Ước tính số lượng gia tăng trung bình hàng năm là 25% đến năm 2010.4 Vật liệu xây dựng mới Panel Xuất hiện vào những năm 1990, công nghệ 3D - Panel đã được giới thiệu và ngày càng ứng dụng vào lĩnh vực xây dựng. Trong đó, Panel loại EPS được xem là vật liệu xây dựng mới sử dụng ngày càng phổ biến.
Với ưu điểm cách nhiệt, cách âm tốt nhờ lớp mốp xốp bên trong, nhẹ, dễ vận chuyển, thi công nhanh nên Panel được dùng ngày càng nhiều. 5 Polyurethane có ưu điểm lớn là tạo bọt không cần gia nhiệt cao nên Polyurethane hay còn gọi là foam còn được ứng dụng dễ dàng tạo bọt ở các thể tích rỗng bất kỳ, dùng cách nhiệt trong các kho lạnh, tủ lạnh, tường ngăn… Còn Polystyrol - mốp xốp cách nhiệt được sản xuất bằng cách nổ hạt với chất sinh khí được gia nhiệt ở nhiệt độ 100oC. Panel EPS là Panel sản xuất từ hạt EPS với lõi là Polystrene và được phủ bên ngoài bằng hai lớp tole Colorbond dày từ 0. Lớp tole được cấu tạo bằng cách cán thành nhiều dạng sóng khác nhau.
Panel EPS được xem là loại vật liệu cách âm, cách nhiệt có hiệu quả nhất trong số các loại vật liệu cách nhiệt hiện nay đang sử dụng: giá cả hợp lý, công nghệ không phức tạp và hiệu quả sử dụng trong thực tế cao. Tuy nhiên với thành phần về tính chất lý - hóa dễ dàng bắt cháy của foam, mốp xốp, Panel có thể đem đến những đám cháy lớn mà đòi hỏi chúng ta phải có những biện pháp ngăn ngừa cao nhất nhằm giảm thiểu sự bắt cháy của các thành phần lý - hoá này.1 Định nghĩa về cháy : Theo quan niệm cổ điển: sự cháy là một quá trình oxi hóa, là sự kết hợp giữa tác nhân oxy hóa ( như không khí, oxy…) với chất cháy ( tức là chất bị oxy hóa như dầu, than, khí…). Theo quan niệm mới: sự cháy một phản ứng hóa học xảy ra nhanh chóng, có phát nhiệt và phát quang. Theo tiêu chuẩn TCVN 5303- 1990 đưa ra khái niệm về cháy: cháy được hiểu là trường hợp xảy ra không kiểm soát được có thể gây thiệt hại về người, tài sản và ảnh hưởng đến môi trường.2 Định nghĩa về nổ: Sự nổ là sự biến đổi đột ngột của một hệ thống vật chất kèm theo quá trình tỏa khí.
Nổ thường gây thiệt hại có tính cơ học cho môi trường xung quanh. Ngoài ra tác dụng của nổ còn có thể lan tỏa các khí độc hại… 1.3 Điều kiện xảy ra quá trình cháy: 6 Để cho quá trình cháy xuất hiện và phát triển cần phải có đủ ba yếu tố là: chất cháy, chất oxy hóa và nguồn gây cháy. Ba yếu tố này hợp với nhau đúng tỷ lệ, xảy ra cùng một thời gian tại cùng ñòa điểm thì mới bảo đảm sự cháy.4 Sơ đồ tam giác cháy Chất cháy Sự cháy Chất Nguồn oxy hoá nhiệt - Chất cháy: Là những chất khi có sự kết hợp với chất oxy hóa thì tạo ra môi trường cháy. Chất cháy có thể ở dạng rắn, lỏng, khí.
Trong điều kiện bình thường, chất cháy và vật liệu cháy trong không khí tạo ra môi trường cháy. - Chất oxy hóa: Là những chất có khả năng oxy hóa mạnh các chất khác hoặc hợp chất dễ dàng bị phân hủy kèm theo sự tảo ra những chất oxy hóa mạnh. - Nguồn gây cháy: Chỉ riêng sự hiện diện của môi trường cháy ( chất cháy và chất oxy hóa) không thì chưa thể có sự cháy; muốn có sự cháy cần phải có nguồn gây cháy để đưa môi trường cháy đến điểm cháy và kích thích bùng cháy. Nguồn gây cháy là nguồn nhiệt có nhiệt độ tương ứng và dự trữ một lượng nhiệt đủ để làm bắt cháy hay phát sinh cháy.
- Các nguồn gây cháy trong các quá trình công nghệ Cháy do ngọn lửa trần, tia lửa hoặc tàn lửa. Cháy do các phản ứng hóa học. 7 Cháy do tác dụng của năng lượng điện. Cháy do tác dụng của năng lượng nhiệt ( bức xạ nhiệt, dẫn nhiệt, đối lưu).