Đặt vấn đề Cây ăn quả có giá trị kinh tế quan trọng đối với nhiều hộ gia đình ở nông thôn - cũng như nền kinh tế quốc dân của nước ta. Là một nước nhiệt đới ẩm gió mùa nên Việt Nam có rất nhiều sản vật phong phú, với nhiều loại nông sản mang tính đặc trưng của các vùng miền như: vải thiều Lục Ngạn (Bắc Giang), nhãn lồng Hưng Yên, bưởi Đoan Hùng, bưởi Khả Lĩnh,. Những sản vật đó đã góp phần to lớn cho việc phát triển kinh tế tại địa phương và đất nước đồng thời nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống cho người dân. Ngành trồng trọt tạo ra nhiều việc làm cũng như thu nhập cho người lao động.
Với ưu thế có điều kiện tự nhiên, khí hậu và thổ nhưỡng khá thuận lợi nên các địa phương có rất nhiều lợi thế cho việc trồng và phát triển các loại cây ăn quả. Bưởi là loại quả có hàm lượng dinh dưỡng cao, đặc biệt trong bưởi có nhiều loại vitamin và khoáng chất khác nhau, có thể ăn tươi hoặc chế biến ra nhiều loại sản phẩm khác. Ngoài ra, bưởi là loại quả tươi, dễ vận chuyển, bảo quản được nhiều ngày mà vẫn giữ nguyên được hương vị và phẩm chất. Trong công nghiệp chế biến thì vỏ bưởi dùng để chiết xuất lấy tinh dầu, bã tép thì để sản xuất pectin có tác dụng bồi bổ cơ thể.
Đặc biệt, bưởi là loại thực phẩm có tác dụng rất tốt hỗ trợ cho điều trị các bệnh về tim mạch, đường ruột cũng như chống ung thư (Trần Thế Tục, 1995). Giống bưởi Khả Lĩnh có nguồn gốc ở thôn Khả Lĩnh, xã Đại Minh, huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái. Đây là giống bưởi thấp cây, lá tròn, tán rộng, cho quả sai, hình cầu dẹt, vỏ vàng, múi mỏng, tôm ngọt, mọng nước, ăn ngọt và có mùi thơm dìu dịu.Trọng lượng trung bình của quả nặng từ 700 - 850 gram, vỏ quả mỏng, nhẵn, ít cùi; tỷ lệ ăn khoảng 70 - 75% quả; hàm lượng vitamin cao, đa dạng nhiều vitamin A, B, C, D, E,. Theo tiến sĩ Lữ Văn Quý (Viện rau quả Trung ương), lượng vitamin có trong 100 gram quả bưởi là 32,6 1 mg; độ brix là 13°; tỷ lệ acid là 0,32%.
Bưởi Khả Lĩnh là giống bưởi có rất nhiều tiềm năng để phát triển nhờ vào điều kiện khí hậu thuận lợi đặc trưng do ảnh hưởng điều tiết của hồ Thác Bà. Mặt khác, vùng bưởi đặc sản này còn nằm trên điểm giao nhau của nhiều tuyến giao thông trọng điểm của nhiều tỉnh miền Bắc và đang được chính quyền địa phương và nhiều tổ chức quan tâm. Hiện nay trên địa bàn toàn xã Đại Minh có 308 ha diện tích bưởi. Trong đó diện tích trồng bưởi kinh doanh là 270 ha, diện tích trồng bưởi kiến thiết cơ bản: 28 ha, diện tích trồng mới 10 ha với 710 hộ trồng bưởi trên toàn xã.
Tính đến vụ thu hoạch năm 2020 với 270 ha bưởi kinh doanh, sản lượng ước đạt khoảng: 5.600 tấn bưởi đem về thu nhập cho các hộ trồng bưởi số tiền trên 44 tỷ đồng. Tuy nhiên, do nhiều năm khai thác liên tục nhưng không được chăm sóc, đầu tư đúng mức kèm theo tình trạng sâu bệnh gây hại ngày càng nặng, giống bưởi Khả Lĩnh đã có biểu hiện thoái hóa nghiêm trọng. Nhiều vườn cây không cho quả, một số hộ gia đình đã tiến hành chặt bỏ để trồng các loại giống cây trồng khác. Cho đến nay, các biện pháp kỹ thuật để khắc phục hiện tượng thoái hóa và phát triển giống bưởi Khả Lĩnh theo hướng tác động nâng cao được năng suất và chất lượng quả vẫn là một câu hỏi lớn.
Phân DAP (diamon photphat) là loại phân chậm tan trong nước tránh bị rửa trôi, có thành phần chủ yếu là đạm và lân (tỷ lệ khá cao 18% và 46%) điều này giúp cây trồng sinh trưởng và phát triển nhanh chóng; ngoài ra phân còn được bổ sung một số khoáng chất làm cho quá trình tan trong nước chậm lại, tránh trường hợp rửa trôi gây tổn thất. Phân kali vi lượng (Công ty cổ phần CNN Tiến Nông) tăng sức đề kháng, tăng cường cấu trức cây, vận chuyển chất quang hợp trong cây tốt hơn, tăng cường phát triển bộ rễ giúp cây hấp thụ dinh dưỡng tốt nhất,… Chế phẩm HB – 101 là chế phẩm có thành phần hoàn toàn tự nhiên an toàn với môi trường và con người. Giúp tăng năng suất cây trồng, làm cho 2 mẫu mã quả đẹp hơn, xua đuổi các loại côn trùng, giữ cho sản phẩm nông sản tươi hơn, cải tạo đất,… Nhằm mục đích nghiên cứu và đánh giá ảnh hưởng của phân bón tới sự phục hồi và phát triển của giống bưởi Khả Lĩnh đồng thời nâng cao chất lượng nông sản, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Ảnh hưởng của lượng phân bón và nồng độ HB - 101 đến sinh trưởng và yếu tố cấu thành năng suất của bưởi Khả Lĩnh”. Mục đích nghiên cứu Đánh giá ảnh hưởng của việc bón bổ sung phân DAP, phân kali vi lượng kết hợp với tưới chế phẩm HB – 101 khác nhau có ảnh hưởng như thế nào tới khả năng sinh trưởng và năng suất bưởi Khả Lĩnh, từ đó xác định được mức bón phù hợp đối với bưởi Khả Lĩnh.
Yêu cầu nghiên cứu Nghiên cứu ảnh hưởng của lượng phân DAP, phân kali vi lượng và nồng độ chế phẩm HB101 đến sinh trưởng bưởi Khả Lĩnh. Nghiên cứu ảnh hưởng của lượng phân DAP, phân kali vi lượng và nồng độ chế phẩm HB101 đến yếu tố cấu thành năng suất bưởi Khả Lĩnh. 3 PHẦN II: TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 2. Tổng quan về cây bưởi 2.
Giới thiệu chung về cây bưởi 2. Nguồn gốc Hiện nay, cây có múi là một trong những loại cây ăn quả được trồng chủ yếu và rất phổ biến tại nhiều nước trên thế giới, đặc biệt là các nước khu vực thuộc Đông Nam Á, cây có múi được coi là cây trồng chủ lực (Mung, 2008). Trên toàn thế giới, cây có múi đã được trồng và người dân sử dụng từ rất lâu về trước. Riêng khu vực Đông Nam Á, cây có múi đã xuất hiện cách đây khoảng 4.000 năm Trước Công Nguyên (Webber, 1967).
Diện tích đất trồng cây ăn quả chiếm khoảng 1% diện tích đất nông nghiệp trên thế giới (FAO, 2011). Trên thế giới, diện tích cây ăn quả chiếm 65,29 triệu ha (cam quýt > nho > chuối) với sản lượng khoảng 883 triệu tấn (cam quýt > chuối > táo) và năng suất bình quân khoảng 13,52 tấn/ha (FAO, 2020). Vùng Địa Trung Hải và Hoa Kì là hai khu vực có diện tích trồng cây có múi lớn nhất thế giới chiếm đến 70% (Theo cơ quan phát triển Quốc tế Hoa Kì USDA, 2004). Đông Nam Á là khu vực có các loài cây ăn quả phong phú và đa dạng nhất, trong số hơn 12.000 loài thực vật thì có nhiều loài cây cho quả ăn được (Wikipedia, 2016b).
Do được phát hiện và trồng từ rất lâu đời nên khó phát hiện cây ăn quả có múi phát sinh từ trung tâm cụ thể của loài cây nào. Cây bưởi thuộc họ Cam quýt, theo nhiều kết quả nghiên cứu của nhiều tác giả cho thấy rằng hầu hết các giống Cam quýt đều có nguồn gốc từ vùng Nhiệt đới và cận Nhiệt đới Đông Nam của Châu Á. Phân loại Về phân loại thực vật: Theo Estella và Odtojan, 1992; Hoàng Thị Sản, 2006 cây bưởi thuộc: 4 Bộ: Aurantiodeae Họ: Rutaceae Chi: Citrus Loài: Maxima Cây bưởi có tên khoa học là Citrus grandis Osbeck hay Citrus maxima (Burm) Merr. Tên tiếng Anh là Pummelo.
Cũng gọi là bưởi nhưng bưởi chùm (Citrus paradishi Merr.) được các nhà thực vật học xếp khác loại với các giống bưởi Citrus maxima. Các giống bưởi (Citrus grandis L.) được coi là có nguồn gốc từ Malaysia, Ấn Độ (Theo Estella và Odtojan, 1992): quả to nhất trong họ cam quýt, có vị chua hoặc ngọt, bầu có từ 13 – 15 noãn, eo lá khá lớn, hạt nhiều. Hiện nay, các giống bưởi phần lớn thuộc dạng hạt đơn phôi và được trồng chủ yếu tại các nước có khí hậu nhiệt đới. Việt Nam có rất nhiều giống bưởi ngon và nổi tiếng như: bưởi Năm Roi, bưởi Phúc Trạch, bưởi Da Xanh, bưởi Thanh Trà, bưởi Phú Diễn, bưởi Đoan Hùng, bưởi Khả Lĩnh,.
Bưởi chùm (Citrus paradishi Merr.) xuất hiện sớm nhất ở vùng Trung Mỹ (Garner và cộng sự.,1976) được đánh giá là con lai tự nhiên của bưởi Citrus grandis L. vì vậy hình thái bưởi chùm khá giống bưởi Citrus grandis L. nhưng lá và eo lá nhỏ hơn, cùi mỏng, quả nhỏ, có vị chua nhẹ. Phần lớn các giống bưởi chùm đều có hạt đa phôi nên đều có thể dùng làm gốc ghép.
Được trồng nhiều ở Mỹ, Brazil, riêng Bang Florida Mỹ đã chiếm 70% sản lượng bưởi chùm trên toàn thế giới (Lang, 1977). Giữa Citrus grandis L. và Citrus paradishi Merr. khác nhau về hình thái lộc non (lớp lông tơ mịn trên lộc) và khối lượng quả C.
quả to, không tạo thành chùm như C. Giá trị của bưởi Bưởi chùm (grapefruit) là loại mặt hàng bưởi xuất khẩu phổ biến ở Châu Âu và Châu Mỹ. Bưởi chùm có dạng quả nhỏ, có vị chua, ngọt, hơi the 5 và đắng nhưng là món quái khẩu, quen dùng của người tiêu dùng ở Âu Mỹ và nhiều nước trên thế giới. Giá trị sử dụng: Các múi bưởi đã bóc vỏ có thể tách ra để làm salad, làm món tráng miệng hoặc làm mứt.
Nước ép bưởi là nước uống rất tuyệt vời, vỏ bưởi có thể dùng để tẩm ướp đường, hoa bưởi được dùng để chế tạo nước hoa. Gỗ bưởi nặng, cứng, dai rất thích hợp để làm các dụng cụ cầm tay. Giá trị dược liệu: Ở Philippin và Đông Nam Á, nước sắc từ lá bưởi, hoa bưởi và vỏ cây bưởi được sử dụng nhiều vì nó có tác dụng làm giảm đau trong điều trị chứng động kinh, co giật và ho. Ngoài ra nước sắc từ lá bưởi khi còn nóng còn được dùng để chườm lên chỗ bị sưng, bị tấy.
Nước ép bưởi thì được dùng để hạ nhiệt, giảm sốt. Hạt bưởi được dùng để trị ho, trị chứng khó tiêu và chứng đau lưng. Ở Brazil, nhựa ứa ra từ các cây bưởi già được thu lại và được sử dụng như thuốc ho. Giá trị kinh tế: Bưởi là loại cây lâu năm, nhanh cho thu hoạch, một số giống có thể cho thu hoạch quả bói ở năm thứ 2 sau khi trồng.
Bưởi không chỉ được tiêu thụ ở nội địa mà còn là một mặt hàng nông sản để xuất khẩu vô cùng có giá trị. Sản xuất bưởi chùm ở Mỹ chiếm khoảng 90% sản lượng bưởi chùm thế giới.