Chương 1: Tổng quan về vấn đề nghiên cứu. Chương 2: Một số vấn đề lý luận về năng lực cung ứng dịch vụ vận tải hàng hoá quốc tế bằng đường biển Chương 3: Thực trạng năng lực cung ứng dịch vụ vận tải hàng hoá quốc tế bằng đường biển tại Công ty Cổ phần Vận tải biển Việt Nam Chương 4: Giải pháp nâng cao năng lực cung ứng dịch vụ vận tải hàng hoá quốc tế bằng đường biển tại Công ty Cổ phần Vận tải biển Việt Nam. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC CUNG ỨNG DỊCH VỤ VẬN TẢI HÀNG HOÁ QUỐC TẾ BẰNG ĐƯỜNG BIỂN 2. Khái quát về dịch vụ vận tải hàng hoá quốc tế bằng đường biển 2.
Khái niệm và nội dung dịch vụ vận tải hàng hoá quốc tế bằng đường biển Theo giáo trình Vận tải và giao nhận trong ngoại thương, Trường Đại học Ngoại Thương: “Theo nghĩa rộng, vận tải là một quy trình kĩ thuật của bất kì sự di chuyển vị trí nào của vật phẩm và con người. Còn với ý nghĩa kinh tế (nghĩa hẹp), vận tải chỉ bao gồm những sự di chuyển của vật phẩm và con người khi thoả mãn đồng thời hai tính chất: là một hoạt động sản xuất vật chất và là một hoạt động kinh tế độc lập”. Vận tải hàng hoá quốc tế được nhìn nhận như quá trình di chuyển hàng hóa trong không gian bằng sức người hay phương tiện vận chuyển trong khoảng thời gian xác định nhằm thực hiện các nhu cầu của hợp đồng mua bán ngoại thương. Vận tải quốc tế được tiến hành thông qua hoạt động chuyên môn của các tổ chức vận tải chuyên ngành thực hiện.
Việc vận chuyển được thực hiện dưới nhiều phương thức khác nhau hoặc có thể kết hợp nhiều phương thức. Trong đó một trong những phương thức phổ biến nhất là vận tải bằng đường biển. Vận tải hàng hoá quốc tế bằng đường biển thích hợp với tất cả các chủng loại hàng hoá và và là một trong những dịch vụ có tuyến đường đi thẳng, có sự liên kết chặt chẽ với các cảng lớn nhỏ trên thế giới. Dịch vụ vận tải hàng hoá quốc tế bằng đường biển là dịch vụ trong đó các tổ chức, cá nhân kinh doanh dịch vụ này tiến hành các công việc cần thiết để chuyển hàng hóa từ địa điểm này sang địa điểm khác bằng đường biển theo thỏa thuận với những tổ chức, cá nhân có nhu cầu để hưởng thù lao dịch vụ, thường sử dụng phương tiện vận tải bằng đường biển.
Đặc điểm của dịch vụ vận chuyển hàng hoá quốc tế bằng đường biển. 6 Do cũng là một loại hình dịch vụ nên dịch vụ vận tải quốc tế cũng mang những đặc điểm chung của dịch vụ, đó là: Tính không hiện hữu: Tính không không hiện hữu của dịch vụ thể hiện ở chỗ sản phẩm dịch vụ không có kiểu dáng, kích cỡ rõ ràng như sản phẩm hàng hóa nên không nhận biết được bằng các giác quan (ngửi, xem, cầm, nắm…). Chỉ khi tiêu dùng rồi thì khách hàng mới có thể thấy được chất lượng dịch vụ thông qua các tiêu thức như: thời gian vận chuyển nhanh hay chậm, có đúng lịch trình và an toàn không, thủ tục chứng từ có đúng quy cách, rõ ràng không.Từ đặc điểm này doanh nghiệp giao nhận cần chú trọng kiểm tra và đánh giá dịch vụ, cũng như chú trọng tâm lý khách hàng. Tính không lưu giữ được: Do đặc điểm vô hình nên dịch vụ không dự trữ, bảo quản và tồn kho được.
Hoạt động vận tải chỉ có thể cung ứng khi xuất hiện nhu cầu của khách hàng nên người vận tải không có khả năng sản xuất hàng loạt dịch vụ vận chuyển. Dịch vụ vận tải cung ứng ra bao nhiêu thì được sử dụng hết bấy nhiêu, nên không có khả năng tồn kho Tính không tách rời: Tính không thể tách rời thể hiện sự đồng thời cả về không gian và thời gian giữa sản xuất và tiêu dùng dịch vụ vận chuyển. Vì vậy khách hàng được xem như là nguyên liệu đầu vào của quá trình sản xuất và cung ứng sản phẩm dịch vụ. Do không thể sản xuất hàng loạt, sản xuất trước nên người vận chuyển cần có kế hoạch, dự trữ phương tiện, nhiên liệu, dự báo được nhu cầu của khách hàng cũng như đào tạo nhân viên chuyên nghiệp để hiểu nhu cầu khách hàng và đáp ứng tốt nhất nhu cầu khách hàng.
Tính không tách rời tạo điều kiện cho khách hàng tham gia vào quá trình tạo dịch vụ, do đó khách hàng có cơ hội để quan sát theo dõi dịch vụ. Tính không ổn định: Tính không ổn định thể hiện ở sự không đồng nhất ở chất lượng của cùng một loại dịch vụ, chất lượng dịch vụ phụ thuộc vào trình độ, tâm lý, trạng thái tình cảm của nhà cung ứng và sở thích, thị hiếu, thái độ, cách ứng xử…của khách hàng. Do tính không ổn định mà việc tiêu chuẩn hóa dịch vụ khó 7 khăn. Do đặc điểm này nên doanh nghiệp dịch vụ vận tải gặp khó khăn trong việc giữ chân khách hàng Tuy nhiên đây là một hoạt động đặc thù nên dịch vụ vận tải hàng hoá quốc tế cũng có một số đặc điểm riêng như sau: Dịch vụ vận tải quốc tế không tạo ra sản phẩm vật chất, nó chỉ làm cho đối tượng thay đổi vị trí về mặt không gian chứ không tác động về mặt kỹ thuật làm thay đổi hình dáng kích thước của đối tượng, qua đó làm tăng giá trị của hàng hóa.
Mang tính thụ động: dịch vụ này phụ thuộc rất nhiều vào nhu cầu của khách hàng, các quy định của người vận chuyển, các ràng buộc về luật pháp, thể chế của chính phủ (nước XK, nước NK, nước thứ ba)… Mang tính thời vụ: Dịch vụ vận tải quốc tế là dịch vụ phục vụ cho hoạt động XNK nên nó phụ thuộc rất lớn vào lượng hàng hóa XNK. Thông thường, hoạt động XNK mang tính chất thời vụ nên hoạt động vận tải quốc tế cũng chịu ảnh hưởng của tính thời vụ. Vai trò của dịch vụ vận tải hàng hoá quốc tế bằng đường biển Trong xu thế toàn cầu hoá như hiện nay, dịch vụ vận tải hàng hoá quốc tế đóng góp vai trò ngày càng quan trọng và là một ngành kinh tế quan trọng của nền kinh tế quốc dân, cụ thể: Dịch vụ vận tải quốc tế thúc đẩy phát triển sản xuất và lưu thông hàng hóa. Một trong những yếu tố ảnh hưởng đến khối lượng hàng hóa lưu chuyển giữa các nước là khả năng vận tải giữa các nước đó.
Dịch vụ vận tải quốc tế góp phần mở rộng thị trường trong buôn bán quốc tế. Dịch vụ này là cầu nối trong vận chuyển hàng hóa trên các tuyến đường đến các thị trường mới đúng yêu cầu về thời gian và địa điểm đặt ra. Từ đó các doanh nghiệp có thể khai thác và mở rộng thị trường nhanh và mạnh hơn. 8 Dịch vụ vận tải quốc tế phát triển làm thay đổi cơ cấu hàng hóa và cơ cấu thị trường trong thương mại quốc tế.
Trước đây thương mại quốc tế chỉ tập trung ở những mặt hàng thành phẩm và bán thành phẩm. Cho đến khi các công cụ vận tải hiện đại ra đời có cấu tạo thuận tiện cho việc chuyên chở và cho phép hạ giá thành vận tải đã tạo điều kiện mở rộng chủng loại mặt hàng. Sự thay đổi cơ cấu hàng hóa thể hiện rõ nét nhất là việc mở rộng buôn bán mặt hàng lỏng. Khi mà vận tải chưa phát triển, giá cước vận tải cao thì thị trường tiêu thụ thường ở gần nơi sản xuất.
Cho đến khi vận tải phát triển đã tạo điều kiện mở rộng thị trường buôn bán. Nội dung năng lực cung ứng dịch vụ vận tải hàng hoá quốc tế bằng đường biển 2. Khái niệm năng lực cung ứng dịch vụ vận tải hàng hoá quốc tế bằng đường biển Năng lực là tập hợp các khả năng, nguồn lực của một con người hay một tổ chức nhằm thực thi một công việc nào đó. Bởi vậy, về thực chất, năng lực của một con người là tập hợp những gì mà con người đó hiện có.
(Kathryn Barto & Graham Matthews, 2001) Theo Điều 3 luật Thương mại 2005: “Cung ứng dịch vụ là hoạt động thương mại, theo đó một bên (bên cung ứng dịch vụ) có nghĩa vụ thực hiện dịch vụ cho một bên khác và nhận thanh toán; bên sử dụng dịch vụ (khách hàng) có nghĩa vụ thanh toán cho bên cung ứng dịch vụ và sử dụng dịch vụ theo thỏa thuận.” Năng lực cung ứng dịch vụ là khả năng phối hợp các nguồn lực sẵn có của doanh nghiệp để cung cấp những sản phẩm dịch vụ cần thiết, đáp ứng nhu cầu của khách hàng. Năng lực cung ứng dịch vụ của doanh nghiệp thể hiện thực lực và lợi thế của doanh nghiệp trong việc thỏa mãn nhu cầu của khách hàng để đạt được mục tiêu về lợi nhuận cho doanh nghiệp. Dựa vào những quan điểm trên, ta có thể xác định khái niệm: “Năng lực cung ứng dịch vụ vận tải hàng hoá quốc tế bằng đường biển là khả năng phối hợp các nguồn lực sẵn có của doanh nghiệp để cung cấp dịch vụ liên quan đến việc di chuyển 9 hàng hóa từ nơi gửi hàng (người gửi hàng) ở quốc gia này đến nơi nhận hàng (người nhận hàng) ở quốc gia khác bằng đường biển, thường sử dụng phương tiện vận tải là tàu biển. Các chỉ tiêu phản ánh năng lực cung ứng dịch vụ vận tải hàng hoá quốc tế bằng đường biển 2.
Năng lực quản lý điều hành của lãnh đạo Năng lực quản lý điều hành là năng lực của ban lãnh đạo trong việc quản lý và điều hành doanh nghiệp, đưa ra định hướng, tầm nhìn, chiến lược và điều phối, giám sát hoạt động của doanh nghiệp. Ban lãnh đạo là những người vạch ra các chiến lược kinh doanh, trực tiếp điều hành và tổ chức sản xuất kinh doanh, quyết định sự thành công hay thất bại của một doanh nghiệp. Những thành viên của ban lãnh đạo cần có kinh nghiệm, biết cách động viên sức mạnh tập thể cùng phấn đấu cho sự nghiệp phát triển chung của doanh nghiệp. Ban lãnh đạo có năng lực quản lý lãnh đạo tốt mới có thể đưa ra được các phương hướng giúp thúc đẩy cả tập thể cùng phát triển, tăng năng suất và hiệu quả trong công việc.