Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ KHIẾU NẠI, TỐ CÁO TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ 1. KHÁI QUÁT VỀ KHIẾU NẠI, TỐ CÁO 1. Khiếu nại, tố cáo là một trong những quyền cơ bản của công dân Trong giai đoạn hiện nay, khi xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền, một trong những nguyên tắc, yêu cầu cơ bản nhất là đảm bảo, bảo vệ các quyền con người bằng pháp luật và các biện pháp xã hội. Quy định và bảo vệ quyền con người là nguyên tắc xuyên suốt toàn bộ hệ thống chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước ta.
Điều 50, Hiến pháp năm 1992 quy định: "Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa và xã hội được tôn trọng thể hiện ở các quyền công dân và được quy định trong Hiến pháp và pháp luật" [47]. Trong các quyền cơ bản của công dân được thể hiện theo các nhóm quyền như: nhóm quyền công dân về dân sự, chính trị, các quyền về kinh tế, xã hội và văn hóa, thì một trong những quyền đặc biệt là quyền được khiếu nại, tố cáo của công dân. Bản chất của quyền được khiếu nại, tố cáo chính là đảm bảo cơ chế giám sát một cách thực thi nhất đối với các hoạt động của Nhà nước. Khi thực hiện chức năng quản lý xã hội các hoạt động quản lý này có thể vì một lý do nào đó không thực hiện đúng, đủ hoặc trái luật, xâm phạm tới quyền, lợi ích hợp pháp của công dân.
Chính vì vậy, khiếu nại, tố cáo một mặt là đảm bảo các hoạt động này đúng pháp luật, mặt khác bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình đồng thời là phương thức hạn chế sự lạm quyền trong chức năng quản lý xã hội của Nhà nước. 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Mặc dù quyền khiếu nại, tố cáo của công dân chỉ được ghi nhận từ bản Hiến pháp năm 1946, trong quá trình phát triển của xã hội, quyền khiếu nại, tố cáo của công dân ngày càng được quy định cụ thể qua các bản Hiến pháp và pháp luật đủ thấy tầm quan trọng của nhóm quyền này trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền. Sự hình thành và phát triển của pháp luật về khiếu nại, tố cáo và khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hình sự Việt Nam Việc quy định và thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo của luật tố tụng hình sự qua các giai đoạn lịch sử, chúng ta cần phải xem xét, đánh giá các quyền này thông qua các bản Hiến pháp 1946, 1959, 1980 và 1992. Bởi lẽ, khiếu nại, tố cáo được coi là một trong những quyền cơ bản của công dân được quy định bằng một văn bản pháp luật có giá trị cao nhất đó là Hiến pháp.
Từ các quyền này, sau khi được hiến định sẽ được quy định cụ thể bằng các văn bản luật trong đó có pháp luật tố tụng hình sự. Bên cạnh đó, tìm hiểu các ưu điểm và nhược điểm của pháp luật về khiếu nại, tố cáo ở các giai đoạn và xu hướng vận động tiến bộ của nó. Khiếu nại, tố cáo nói chung và khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hình sự nói riêng được xuất phát điểm từ tư tưởng "dân chủ, nhân quyền" của chủ tịch Hồ Chí Minh và thể hiện rất đậm nét ngay từ những ngày đầu lập nước. Trong Điều 2 Sắc lệnh số 64/SL ngày 23 tháng 11 năm 1945 quy định về thành lập Ban thanh tra đặc biệt, với các nhiệm vụ như: "Nhận đơn khiếu nại của nhân dân; điều tra hội chứng, xem xét các tài liệu giấy tờ của Ủy ban nhân dân hoặc các cơ quan cần thiết cho việc giám sát" [16].
Ngày 11 tháng 11 năm 1946, bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa được Quốc hội thông qua, lần đầu tiên trong lịch sử, các quyền tự do của công dân đã được ghi nhận trong văn bản pháp luật có hiệu lực cao nhất, cùng với một cơ chế, bộ máy nhà nước kiểu mới. Mặc dù Hiến pháp năm 1946 chưa có những điều khoản cụ thể quy định quyền khiếu 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nại, tố cáo của công dân nhưng chế độ dân chủ được Hiến pháp ghi nhận là cơ sở bảo đảm cho sự hình thành, phát triển của pháp luật về quyền khiếu nại, tố cáo của công dân sau này. Trên cơ sở đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký các văn bản cụ thể hóa tư tưởng về bảo đảm quyền khiếu nại, tố cáo của công dân như: Sắc lệnh số 09 ngày 29 tháng 01 năm 1947 ấn định lại thủ tục truy tố các nhân viên cao cấp trong Chính phủ cùng các cơ quan hành pháp và tư pháp. Sắc lệnh số 261/SL, ngày 28 tháng 03 năm 1956, thành lập Ủy ban Thanh tra Trung ương của Chính phủ (năm 1959 Ủy ban này đổi tên thành Ủy ban Thanh tra của Chính phủ), có nhiệm vụ giải quyết kịp thời các đơn, thư khiếu nại, tố cáo của công dân.
Hiến pháp năm 1959 tiến bộ hơn Hiến pháp năm 1946 về mặt lập pháp, Điều 29 Hiến pháp năm 1959 đã quy định cụ thể quyền khiếu nại, tố cáo của công dân: "Công dân nước Việt Nam dân chủ cộng hòa có quyền khiếu nại, tố cáo với bất cứ cơ quan nào của Nhà nước về những việc làm vi phạm pháp luật của cán bộ và nhân viên cơ quan nhà nước. Người bị thiệt hại do những việc làm trái pháp luật gây ra có quyền được bồi thường" [43]. Điểm mới ở đây là Hiến pháp năm 1959 đã quy định mọi việc làm vi phạm pháp luật của cán bộ và nhân viên cơ quan nhà nước đều là đối tượng của quyền khiếu nại, tố cáo. Mặc dù nội dung chưa đầy đủ, nhưng Hiến pháp năm 1959 có bước tiến quan trọng, thể hiện trách nhiệm của Nhà nước trước những thiệt hại gây ra bởi việc làm trái pháp luật của công chức Nhà nước khi khẳng định: Người bị thiệt hại do những việc làm trái pháp luật gây ra có quyền được bồi thường.
Nội dung quyền khiếu nại, tố cáo của công dân được mở rộng trong Hiến pháp năm 1980. Điều 73 quy định: Công dân có quyền khiếu nại và tố cáo với bất cứ cơ quan nào của Nhà nước về những việc làm trái pháp luật của cơ quan nhà 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nước, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân hoặc của bất cứ cá nhân nào thuộc các cơ quan, tổ chức đó. Các khiếu nại và tố cáo phải được xem xét và giải quyết nhanh chóng [44]. Hiến pháp năm 1980 đã chỉ ra đối tượng rộng hơn, cụ thể hơn, không những chỉ là: "Hành vi phạm pháp của nhân viên cơ quan nhà nước mà còn cả những việc làm trái pháp luật của cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân hoặc của bất cứ cá nhân nào thuộc cơ quan, tổ chức và đơn vị đó" [44].
Ngoài sự rõ ràng và tương đối đầy đủ về đối tượng khiếu nại, tố cáo, Điều 73 Hiến pháp 1980 còn quy định những bảo đảm quyền khiếu nại, tố cáo, như: "Mọi hành động xâm phạm quyền và lợi ích chính đáng của công dân phải được kịp thời sửa chữa và xử lý nghiêm minh. Nghiêm cấm trả thù người khiếu nại, tố cáo" [44]. Quyền khiếu nại, tố cáo của công dân còn được khẳng định ở Điều 94 và Điều 119: "Đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân có nhiệm vụ xem xét và giúp giải quyết những điều khiếu nại, tố cáo của nhân dân" [44]. Điều 123 cũng quy định: "Ủy ban nhân dân các cấp có nhiệm vụ xét và giải quyết các điều khiếu nại, tố cáo của nhân dân" [44].
Khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực tố tụng hình sự giai đoạn từ khi ra đời bản Hiến pháp đầu tiên cho đến trước năm 1988 không được thể hiện rõ nét. Do đặc điểm về tình hình kinh tế xã hội, cũng như điều kiện về trình độ phát triển nên khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hình sự giai đoạn này còn chưa được quy định cụ thể. Tuy nhiên, bên cạnh đó, tiếp thu tinh thần của việc giải quyết khiếu nại, tố cáo nói chung, đặc biệt Pháp lệnh năm 1981 về việc xét, giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân và các văn bản khác cụ thể hóa, hướng dẫn thi hành. Bộ luật Tố tụng hình sự năm 1988 có quy định về quyền khiếu nại của tám loại người tham gia tố tụng vì quyền, lợi ích hợp pháp (Điều 34 - 42) nhưng không quy định quyền đó cho người có quyền, nghĩa vụ liên quan đến 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.
Mặc dù, có quy định về quyền khiếu nại của tám người trong tổng số chín người tham gia tố tụng vì quyền, lợi ích hợp pháp, nhưng Bộ luật Tố tụng hình sự năm 1988 chưa đề cập đến quyền tố cáo của họ. Sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (tháng 12/1986), tình hình kinh tế-xã hội, chính trị nước ta có những thay đổi, tình hình khiếu nại, tố cáo của công dân có nhiều diễn biến phức tạp, như: khiếu nại vượt cấp, khiếu nại tập thể xảy ra ở nhiều nơi, tồn đọng đơn, thư khiếu nại kéo dài không được giải quyết, vi phạm nghiêm trọng quyền khiếu nại, tố cáo ở một số nơi. Nhưng Pháp lệnh năm 1981 có những mặt hạn chế không đáp ứng được với tình hình thực tiễn.