Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành Văn học với đề tài "Khảo sát từ địa phương Nam Bộ trong tác phẩm Hòn Đất của Anh Đức" do sinh viên Trần Thị Thúy Vân thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Nguyễn Văn Nở tại Khoa Khoa học Cơ bản, Trường Đại học Võ Trường Toản (tháng 06/2012). Công trình có dung lượng 77 trang, tập trung nghiên cứu đặc điểm và giá trị biểu đạt của lớp từ ngữ địa phương Nam Bộ trên bình diện từ vựng học và phong cách học ngôn ngữ trong văn bản tiểu thuyết Hòn Đất.

1. Lý do chọn đề tài và bối cảnh thực tiễn

Quá trình hình thành và phát triển dân cư, điều kiện tự nhiên cùng phương thức sản xuất đặc thù đã tạo nên những vùng văn hóa mang đậm bản sắc riêng biệt trên lãnh thổ Việt Nam. Phương ngữ Nam Bộ nói chung và từ vựng địa phương Nam Bộ nói riêng phản ánh chân thực nếp sống, tâm hồn, tính cách bộc trực, hào sảng và thế giới quan của con người phương Nam.

Trong nền văn học hiện đại Việt Nam giai đoạn 1954 - 1975, nhà văn Anh Đức (tên thật là Bùi Đức Ái) được xem là cây bút tiêu biểu của văn học vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Một trong những nét nghệ thuật đặc sắc làm nên phong cách văn chương của ông là việc đưa hệ thống từ địa phương Nam Bộ vào tác phẩm một cách tự nhiên, biến khẩu ngữ sinh hoạt hàng ngày thành ngôn ngữ nghệ thuật giàu sức biểu đạt. Tiểu thuyết Hòn Đất (xuất bản năm 1965) là tác phẩm đỉnh cao của Anh Đức, tái hiện cuộc chiến đấu kiên cường của quân dân Hòn Đất (Kiên Giang) trong phong trào Đồng khởi.

Tuy nhiên, khảo sát lịch sử vấn đề cho thấy các công trình nghiên cứu trước đó về tác giả và tác phẩm chủ yếu tiếp cận dưới góc độ phân tích nội dung tư tưởng, hình tượng nhân vật (như các bài viết của Hoài Thanh, Đỗ Quang Lưu, Phan Cự Đệ, Trần Văn Giàu, Phan Nhạn, Thanh Duy) hoặc nghiên cứu thành ngữ (khóa luận của Phan Thị Hà Tiên). Việc khảo sát hệ thống từ địa phương Nam Bộ trong tiểu thuyết Hòn Đất một cách toàn diện, định lượng và có căn cứ lý luận ngôn ngữ học vẫn còn bỏ ngỏ. Xuất phát từ thực tế đó cùng sự gắn bó thực tế với vùng đất Kiên Giang, tác giả đã lựa chọn đề tài này làm chuyên luận tốt nghiệp.

2. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu chính của khóa luận được xác định cụ thể:

  1. Thống kê, phân loại và phân tích đặc điểm các lớp từ vựng địa phương Nam Bộ được tác giả Anh Đức sử dụng trong tiểu thuyết Hòn Đất.
  2. Làm rõ giá trị biểu đạt và chức năng tu từ của hệ thống từ ngữ địa phương trong việc khắc họa bức tranh thiên nhiên, không gian sinh thái, nếp sống sinh hoạt, lao động, chiến đấu và nghệ thuật xây dựng tính cách nhân vật.
  3. Tìm hiểu quan điểm nghệ thuật, phong cách ngôn ngữ của nhà văn Anh Đức; qua đó góp phần làm sáng tỏ mối quan hệ tương tác giữa từ vựng phương ngữ Nam Bộ và vốn từ vựng toàn dân trong tiến trình phát triển của tiếng Việt.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Toàn bộ hệ thống từ ngữ mang sắc thái địa phương Nam Bộ xuất hiện trong văn bản tiểu thuyết Hòn Đất của nhà văn Anh Đức (Nxb Văn học).
  • Phạm vi nghiên cứu: Giới hạn khảo sát ở bình diện từ vựng - ngữ nghĩa và tu từ học. Tác giả tập trung phân tích sâu các lớp từ vựng tiêu biểu: lớp từ xưng hô, lớp từ định danh (gồm động vật, thực vật, địa hình, hiện tượng tự nhiên, vật thể nhân tạo, nghề nghiệp, không gian, thời gian), lớp từ biểu thị hành động và tính chất, lớp ngữ khí từ và lớp từ gốc Khmer.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

1. Khung lý thuyết và khái niệm công cụ

Khóa luận vận dụng hệ thống lý luận từ vựng học và phong cách học tiếng Việt từ các công trình nghiên cứu tiêu chuẩn:

  • Khái niệm từ địa phương: Tiếp thu quan điểm của Nguyễn Thiện Giáp (Từ vựng học tiếng Việt, Nxb Giáo dục) và Đinh Trọng Lạc (Phong cách học tiếng Việt), xác định từ địa phương là những từ ngữ thuộc một phương ngữ nhất định, phổ biến trong phạm vi lãnh thổ của cộng đồng địa phương đó và đóng vai trò như một bộ phận cấu thành làm phong phú thêm kho từ vựng toàn dân.
  • Phân loại quan hệ giữa từ địa phương và từ toàn dân:
    • Từ địa phương dân tộc học: Biểu thị các sự vật, hiện tượng, sản vật đặc thù chỉ có ở địa phương mà ngôn ngữ toàn dân không có từ tương đương thay thế (ví dụ: chôm chôm, măng cụt, sầu riêng, chao, tàu hũ ki...).
    • Từ địa phương đối lập với từ toàn dân: Bao gồm đối lập về mặt ý nghĩa (ngữ âm giống nhưng nghĩa khác, như nón = mũ, chén = bát, dù = ô, hòm = quan tài) và đối lập về mặt ngữ âm (khác biệt ngữ âm hoàn toàn hoặc một phần, như vịm = liễn, cà ràng = bếp kiềng).
    • Từ địa phương đồng âm với từ toàn dân: Hiện tượng đồng âm ngẫu nhiên hoặc do quá trình biến đổi lịch sử nghĩa từ (như ốm = gầy, thằn lằn = thạch sùng, kiếng = gương/kính).
  • Chức năng tu từ của phương ngữ trong văn học: Dẫn xuất nhận định của Đinh Trọng Lạc và Huỳnh Công Tín, xác định từ địa phương trong văn bản nghệ thuật là phương tiện miêu tả chân thực hiện thực đời sống, tâm lý nhân vật và tạo lập màu sắc địa phương đậm nét.
Từ ngữ Ý nghĩa chung (Toàn dân) Ý nghĩa trong phương ngữ Nam Bộ
Ốm Có bệnh, không khỏe Gầy (thể trạng)
Hòm Đồ vật hình hộp để đựng đồ Áo quan, quan tài
Thằn lằn Con thằn lằn Con thạch sùng
Kiếng Bếp kiềng Gương soi, kính, râm

2. Phương pháp nghiên cứu

Khóa luận kết hợp đồng bộ 4 phương pháp nghiên cứu chuyên ngành:

  • Phương pháp thống kê: Rà soát ngữ liệu toàn văn tiểu thuyết Hòn Đất, trích xuất, lập danh mục và tính toán tần số, tỷ lệ phần trăm của từng nhóm từ địa phương.
  • Phương pháp tổng hợp: Khái quát hóa các dữ liệu định lượng thành các bảng phân loại có hệ thống.
  • Phương pháp so sánh, đối chiếu, phân tích: Đặt từ địa phương bên cạnh các từ ngữ toàn dân tương đương để phân tích hiệu quả biểu đạt ngữ nghĩa và sắc thái phong cách.
  • Phương pháp miêu tả: Phân tích ngữ cảnh xuất hiện của từ ngữ trong lời kể của tác giả và lời thoại, độc thoại của nhân vật nhằm làm rõ vị trí của phương ngữ trong việc phản ánh hiện thực.

3. Nguồn dữ liệu

Nguồn tư liệu khảo sát trực tiếp là văn bản tiểu thuyết Hòn Đất của nhà văn Anh Đức (tác phẩm đạt Giải thưởng Văn nghệ Nguyễn Đình Chiểu năm 1965), kết hợp các văn bản lý luận ngôn ngữ học, phê bình văn học của Hoài Thanh, Đỗ Quang Lưu, Phan Cự Đệ, Trần Văn Giàu, Nguyễn Thiện Giáp, Đinh Trọng Lạc.


Nội dung chính theo từng chương

                       CẤU TRÚC KHÓA LUẬN (77 TRANG)
 Chương 1 (tr. 8-23)             Chương 2 (tr. 24-46)            Chương 3 (tr. 47-74)
 Vài nét về từ địa phương       Đặc điểm các lớp từ             Giá trị biểu đạt của từ
 & tác phẩm "Hòn Đất"           địa phương tiêu biểu            địa phương trong tác phẩm

Chương 1: Vài nét về từ địa phương và tác phẩm Hòn Đất của Anh Đức

Chương 1 thiết lập nền tảng lý luận và bối cảnh văn học cho toàn bộ công trình (từ trang 8 đến trang 23):

  • Cơ sở lý luận về từ địa phương: Trình bày bản chất ngôn ngữ học của phương ngữ, sự hình thành các biến thể phương ngữ do lịch sử di dân và tiếp xúc văn hóa. Phân tích vai trò của từ địa phương như nguồn chất liệu bổ sung liên tục cho vốn từ vựng toàn dân.
  • Tiểu sử và hành trình sáng tác của Anh Đức: Tác giả hệ thống hóa cuộc đời nhà văn Bùi Đức Ái (sinh ngày 05/05/1935 tại Châu Thành, An Giang). Điểm lại các mốc giải thưởng quan trọng: Giải Ba cuộc thi văn nghệ Cửu Long năm 1952 với tập truyện Biển động; Giải Nhất cuộc thi truyện ngắn 1958 - 1959 của Tạp chí Văn nghệ với truyện ngắn Con cá song; Giải thưởng Nguyễn Đình Chiểu năm 1965 cho tập ký Bức thư Cà Mau và tiểu thuyết Hòn Đất; Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học Nghệ thuật năm 2000.
  • Tổng quan tiểu thuyết Hòn Đất: Tác phẩm gồm hệ thống 19 nhân vật bám trụ trong hang Hòn, đối đầu với lực lượng quân đội Sài Gòn đông gấp nhiều lần. Tác giả phân tích hoàn cảnh sáng tác năm 1965 nhằm "gây mầm, gây niềm tin" cho cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, làm nổi bật phương châm "ba mũi giáp công" và sức mạnh chiến tranh nhân dân.

Chương 2: Đặc điểm của một số lớp từ địa phương tiêu biểu trong tác phẩm Hòn Đất của Anh Đức

Chương 2 là phần trọng tâm định lượng của đề tài (từ trang 24 đến trang 46), khảo sát và phân loại chi tiết các lớp từ ngữ:

1. Lớp từ xưng hô

Khảo sát 37 đơn vị từ ngữ xưng hô đặc trưng trong tác phẩm, chia thành hai nhóm chính:

  • Xưng hô trong gia đình, thân tộc (13 từ, chiếm 35,1%): Sử dụng các từ xưng hô ruột thịt như tía, má, mình, má sắp nhỏ, má nó, bầy, mấy đứa nhỏ, sắp nhỏ, ông già, bà già. Điểm đặc biệt là cách định danh theo thứ bậc sinh đẻ kết hợp tên riêng: anh Hai, anh Ba, anh Tám, bác Tư, thím Ba, bà Sáu, dì Út, Hai Thép, Ba Rèn, Tám Chân, Út Quyên. Hiện tượng biến âm thể hiện đại từ ngôi thứ ba khiếm diện: ổng, bả, ảnh, chỉ. Từ xưng hô cộng đồng nổi bật nhất là bà con.
  • Xưng hô ngoài xã hội (24 từ, chiếm 64,9%): Sử dụng các đại từ tự xưng và hô gọi dân dã, suồng sã: tui, tụi tui, bồ, y, nhỏ, mấy cha, uổng, chú em. Trong ngôn ngữ của phe địch, xuất hiện các từ mang sắc thái trịch thượng, thông tục hoặc khinh miệt: con mẹ, cha nội, bà nội, tụi nó, thằng.
Phân loại phạm vi xưng hô Số lượng từ khảo sát Tỷ lệ tương ứng (%)
Xưng hô trong quan hệ gia đình, họ hàng 13 35,1%
Xưng hô ngoài quan hệ xã hội 24 64,9%
Tổng cộng 37 100,0%

2. Lớp từ định danh

Khảo sát tổng cộng 146 từ định danh thuộc 5 tiểu nhóm chức năng:

STT Phân lớp từ định danh Nam Bộ Số lượng từ Tỷ lệ tương ứng (%)
1 Lớp từ chỉ một số động vật, thực vật 27 18,6%
2 Lớp từ chỉ đặc điểm địa hình, hiện tượng tự nhiên 21 14,3%
3 Lớp từ chỉ vật thể nhân tạo (công cụ, phương tiện, vật dụng, vũ khí) 61 41,8%
4 Lớp từ chỉ nghề nghiệp, công việc sinh hoạt nông thôn 18 12,3%
5 Lớp từ chỉ không gian, thời gian 19 13,0%
Tổng cộng 146 100,0%
  • Động vật, thực vật (27 từ): Động vật hoang dã và thủy sản vùng ngập mặn/biển như chim cu đất, con nhện, con vích, mỏ nhác, rắn hổ đất, trăn lạt, vọp, bìm bịp, chồn, khỉ, rùa, cá thòi lòi, cá giồng, cá gộc, cá chẽm. Thực vật miệt vườn và rừng ngập mặn: tràm, sua đũa, bông súng, vú sữa, lê-ki-ma, măng cụt, dừa, bình bát.
  • Địa hình, hiện tượng tự nhiên (21 từ): Hệ thống địa hình sông nước (kinh, rạch, vàm, xẻo, mương, bàu, đìa, đáy) và địa hình vùng đất Hòn (hòn, hang, miệt, sóc, xóm). Đặc biệt khắc họa chi tiết không gian hang Hòn.
  • Vật thể nhân tạo (61 từ): Công cụ đánh bắt và lao động nông nghiệp thô sơ (nò, trùm, cây vá, nài); phương tiện vận tải thủy bộ (ghe buồm, tàu mặt dựng, xe ca-nhông, cộ, cộ lăn, xuồng ba lá); vật dụng sinh hoạt gia đình (bộ ván gõ, sàn lãng, cà om, cà ròn, cái trã đất, chén, đèn ma-cút, gáo dừa, cái vịm sành, khạp, nốp); các tên gọi vũ khí chiến đấu tự chế hoặc vũ khí phương Tây được Việt hóa (cà-nông, các-bin, cần gáo, cây ngựa trời, cây quành tám sao, cúp cúp, đạn giả, nạng giàn thun, cần 12, mọt-chê, trường mút 36).
  • Nghề nghiệp và phương thức mưu sinh (18 từ): Phản ánh kinh tế tự nhiên và tiểu thủ công nghiệp truyền thống: giăng câu, đặt lờ, đặt trùm, nghề hạ bạc, lội ruộng, gặt mướn, tát đìa mướn, đi lúa, mót lúa, đan cà ròn, đan rổ, nặn nồi đất.
  • Không gian và thời gian (19 từ): Các từ chỉ mốc thời gian và cự ly rút gọn: hồi năm, bữa hôm, độ rày, hôm rày, lóng rày, lóng này, giấc, xế xế, một đỗi, gần xỉu, trong, ngoài.

3. Lớp từ biểu thị tính chất, hành động và các lớp từ khác

  • Từ chỉ hành động: Các hoạt động sản xuất (mần ruộng, đặt trùm, bỏ hàng, tát đìa); hành vi ứng xử giao tiếp (đụng, đụng độ, dóc, láo, cỏ xóc, ưng); hành động quân sự du kích (chìm vè, rượt nà, nọt, lùng, găng, chở, cách, bủa, ém, gặt máu). Tác giả làm rõ nghĩa của các từ đặc biệt như chìm vè (ngụy trang lặn dưới nước/bụi rậm đánh du kích), rượt nà (đuổi riết), bủa (bao vây, lùng sục).
  • Lớp ngữ khí từ: Tần số xuất hiện cao ở cuối câu thoại nhằm bộc lộ cảm xúc trực tiếp: hén, hen, nghen, hả, hà, hở, á, cà.
  • Lớp từ gốc Khmer và tiếp xúc ngôn ngữ: Vay mượn và đồng hóa tự nhiên qua quá trình cộng cư lâu đời: mè (mẹ), cà ròn (bao đệm đan bằng bàng), xà rông (váy), cà om (nồi đất đựng nước), la-ve (từ gốc Pháp: bia).

Chương 3: Giá trị biểu đạt của từ địa phương trong tác phẩm Hòn Đất của Anh Đức

Chương 3 (từ trang 47 đến trang 74) phân tích các giá trị nghệ thuật của phương ngữ trên hai bình diện chính:

  • Khắc họa bức tranh thiên nhiên, đời sống lao động và chiến đấu: Hệ thống từ ngữ địa phương tái hiện chân thực không gian sinh thái ngập mặn đặc trưng của vùng biển Tây Nam Bộ, phản ánh đời sống cơ cực, mộc mạc nhưng kiên cường của người nông dân xứ Hòn qua các mùa gặt mướn, đặt trùm, đan cà ròn. Phương ngữ quân sự dân dã thể hiện khí thế quật khởi, mưu trí của chiến thuật chiến tranh nhân dân.
  • Xây dựng thế giới nhân vật điển hình:
    • Ngoại hình và cử chỉ: Sử dụng từ ngữ tạo hình chính xác, giản dị (vóc dáng chị Sứ, má Sáu, Cà Mỵ, bác Tư Đơng).
    • Đời sống nội tâm và tâm lý: Diễn tả xung đột giằng xé bên trong nhân vật (suy nghĩ của chị Sứ trước khi hy sinh, sự ân hận đau đớn của bà Cà Xợi khi biết bộ mặt phản bội của đứa con - trung úy Xâm).
    • Ngôn ngữ nhân vật: Phân hóa rõ nét qua từng vai giao tiếp. Lời thoại của lực lượng cách mạng và nhân dân mang tính đùm bọc, giàu tình cảm (má, anh em, bà con); lời thoại của binh lính địch bộc lộ bản chất hung hãn, lưu manh qua lớp từ ngữ thô tục (con mẹ, cha nội).

Kết quả và đóng góp

1. Kết quả nghiên cứu chính

  • Thống kê định lượng cụ thể: Khóa luận đã khảo sát và phân loại 37 từ xưng hô (13 từ thân tộc, 24 từ xã hội) và 146 từ định danh thuộc 5 nhóm chức năng trong tiểu thuyết Hòn Đất, cung cấp dữ liệu số liệu xác thực về mật độ phân bố của phương ngữ Nam Bộ.
  • Làm rõ nghĩa và nguồn gốc từ: Phân tích ngữ nghĩa học của nhiều từ ngữ địa phương khó, từ ngữ nghề nghiệp cổ truyền (nghề hạ bạc, đan cà ròn, đặt trùm, cộ lăn, nạng giàn thun, chìm vè, rượt nà) và hệ thống từ vay mượn tiếng Khmer (cà om, cà ròn, xà rông).
  • Chứng minh giá trị phong cách học: Luận văn chứng minh việc sử dụng từ địa phương của Anh Đức không phải là sự sao chép khẩu ngữ cơ học, mà là thao tác chọn lọc nghệ thuật có chủ đích nhằm cá thể hóa ngôn ngữ nhân vật và tạo dựng không khí sử thi chân thực của chiến trường Nam Bộ.

2. Đóng góp khoa học và thực tiễn

  • Đóng góp một chuyên luận khảo sát có hệ thống, toàn diện đầu tiên về phương diện từ vựng địa phương trong tiểu thuyết Hòn Đất của nhà văn Anh Đức.
  • Cung cấp nguồn ngữ liệu thực tế phục vụ cho việc nghiên cứu phương ngữ học Nam Bộ và phong cách học tác giả văn học cách mạng giai đoạn 1954 - 1975.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Do giới hạn thời gian và tư liệu thực tế của một khóa luận tốt nghiệp bậc đại học, công trình chỉ tập trung khảo sát ngôn ngữ trên bình diện từ vựng - ngữ nghĩa trong phạm vi một tác phẩm đơn lẻ (Hòn Đất), chưa mở rộng khảo sát trên bình diện ngữ âm học, ngữ pháp học và cú pháp học phương ngữ.
  • Hướng mở: Mở rộng diện khảo sát đối với toàn bộ di sản văn xuôi của nhà văn Anh Đức (bao gồm các tập truyện ngắn, bút ký như Bức thư Cà Mau, Giấc mơ ông lão vườn chim, Miền sóng vỗ); hoặc thực hiện nghiên cứu so sánh đối chiếu phương ngữ Nam Bộ giữa Anh Đức với các tác giả Nam Bộ cùng thời kỳ như Đoàn Giỏi, Nguyễn Quang Sáng, Sơn Nam, Trang Thế Hy.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng thụ hưởng:
    • Sinh viên, học viên cao học chuyên ngành Ngôn ngữ học, Văn học Việt Nam, Sư phạm Ngữ văn.
    • Giáo viên giảng dạy các bài học văn học địa phương hoặc tác phẩm văn học giai đoạn kháng chiến chống Mỹ trong nhà trường phổ thông.
    • Các nhà nghiên cứu quan tâm đến văn hóa, phong tục, sinh hoạt và từ vựng phương ngữ Nam Bộ.
  • Phần giá trị nhất: Hệ thống bảng biểu thống kê chi tiết tại Chương 2 (Bảng tóm tắt lớp từ xưng hô, Bảng phân loại lớp từ định danh) và phần giải nghĩa các thuật ngữ nghề nghiệp, công cụ, vũ khí dân dã vùng Nam Bộ.

Câu hỏi thường gặp

1. Tác giả khóa luận phân loại từ xưng hô trong tiểu thuyết Hòn Đất như thế nào?

Hệ thống từ xưng hô gồm 37 từ được khảo sát, chia làm 2 nhóm:

  • Xưng hô trong gia đình, thân tộc: 13 từ (chiếm 35,1%), tiêu biểu như tía, má, mình, má sắp nhỏ, bầy, ông già, bà già, cách gọi ghép thứ bậc sinh đẻ với tên riêng (Hai Thép, Ba Rèn, Út Quyên) và các đại từ biến âm (ổng, bả, ảnh, chỉ).
  • Xưng hô ngoài xã hội: 24 từ (chiếm 64,9%), tiêu biểu như tui, tụi tui, bồ, y, mấy cha, chú em, và các từ ngữ mang tính suồng sã, miệt thị của phe địch (con mẹ, cha nội, bà nội).

2. Các nhóm từ định danh nào chiếm tỷ lệ cao nhất trong tác phẩm?

Trong tổng số 146 từ định danh được thống kê, nhóm từ chỉ vật thể nhân tạo (công cụ lao động, phương tiện đi lại, đồ dùng sinh hoạt, vũ khí) chiếm tỷ lệ cao nhất với 61 từ (41,8%). Xếp thứ hai là nhóm từ chỉ động vật và thực vật với 27 từ (18,6%). Tiếp theo là nhóm từ chỉ địa hình, hiện tượng tự nhiên với 21 từ (14,3%), nhóm từ chỉ không gian, thời gian với 19 từ (13,0%) và nhóm từ chỉ nghề nghiệp, công việc nông thôn với 18 từ (12,3%).

3. Thuật ngữ "nghề hạ bạc" và "chìm vè" trong Hòn Đất có nghĩa là gì?

  • Nghề hạ bạc: Là thuật ngữ dân gian Nam Bộ chỉ chung các nghề chài lưới, đánh bắt tôm cá, thủy hải sản trên sông nước, biển cả. Đây là công việc vất vả, bấp bênh và nhiều nguy hiểm ("Nhất phá sơn lâm, nhì đâm hà bá").
  • Chìm vè: Là thuật ngữ chỉ phương thức tác chiến du kích đặc thù của người Nam Bộ bằng cách ẩn nấp, ngâm mình lặn sâu dưới nước hoặc ẩn kín trong các bụi rậm ngập mặn để phục kích đánh địch bất ngờ.

4. Yếu tố tiếp xúc ngôn ngữ nào được thể hiện qua lớp từ vựng trong Hòn Đất?

Tác phẩm phản ánh sự giao thoa văn hóa giữa người Kinh và người Khmer cùng sinh sống tại miền Tây Nam Bộ qua các từ ngữ vay mượn gốc Khmer đã được bản địa hóa: mè (mẹ), cà om (loại nồi đất nung đựng nước), cà ròn (loại bao đệm đan bằng cọng bàng), xà rông (trang phục váy truyền thống). Ngoài ra còn có từ ngữ gốc Pháp được sử dụng phổ biến trong khẩu ngữ Nam Bộ như la-ve (bia).


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Trần Thị Thúy Vân đã thực hiện thành công việc khảo sát định lượng và phân tích định tính hệ thống từ địa phương Nam Bộ trong tiểu thuyết Hòn Đất của nhà văn Anh Đức. Bằng việc phân loại cụ thể các lớp từ xưng hô, định danh, hành động, tính chất và ngữ khí, tác giả đã làm nổi bật giá trị thẩm mỹ và chức năng tu từ của phương ngữ trong việc tái hiện không gian sinh thái sông nước cùng phẩm chất anh hùng, bộc trực của con người phương Nam. Công trình là tài liệu tham khảo học thuật có giá trị tư liệu tốt cho việc nghiên cứu ngôn ngữ văn học kháng chiến và phương ngữ học tiếng Việt.