Chương 1: TRIỀU ĐẠI ĐINH LÊ TRONG LỊCH SỬ VÀ TRONG TRUYỀN THUYẾT DÂN GIAN 1. Vua Đinh Tiên Hoàng và vua Lê Đại Hành trong lịch sử Trong tiến trình lịch sử Việt Nam, thế kỉ X đánh dấu một chuyển biến lớn lao về nhiều mặt, có ý nghĩa như bước ngoặt của lịch sử dân tộc. Tất cả những chuyển biến lớn lao đó đều quay xung quanh một trục trung tâm là chống Bắc thuộc, giành độc lập dân tộc, chấm dứt họa mất nước kéo dài hơn nghìn năm và mở ra một thời kì phát triển độc lập của đất nước. Có thể nói một thành tựu trọng đại của thế kỉ bản lề đó là sự thành lập và củng cố chính quyền độc lập từ nền móng ban đầu của chính quyền họ Khúc, họ Dương đến vương triều Ngô, Đinh, tiền Lê.
Trong dòng chảy hào hùng của lịch sử, Đinh Bộ Lĩnh và Lê Hoàn đã cắm được những mốc son chói lọi mà cho dù năm tháng có chảy trôi thì những dấu ấn đó cũng không thể phai nhạt. Những trang vàng của lịch sử đã ghi chép lại cuộc đời và những chiến công vang giội của hai vị anh hùng dân tộc đó theo những định luật riêng của sử học: Luật thứ nhất của sử học là không dám nói láo Luật thứ hai là không sợ nói đến sự thật ( Léon XIII) Đinh Bộ Lĩnh và Lê Hoàn, mỗi người đã đảm nhận một sứ mệnh, một vai trò lịch sử của riêng mình nhưng đều góp phần làm nên: “một nhà nước dân tộc tiêu biểu của đất nước” (Phan Huy Lê). Có người lên thuyền khiến cho thuyền bị nghiêng đổ nhưng có người lên thuyền khiến cho thuyền có thể lướt tới băng băng. Đinh Bộ Lĩnh, Lê Hoàn chính là người bước lên thuyền khiến cho thuyền nước Việt ta băng tới.
Nước độc lập mà dân không được hưởng thái bình thì đại họa vẫn còn đó, cho nên thay đấng dẹp loạn, tạo dựng nền quốc thái dân an, do trí đại định cho xã tắc, tên tuổi của Đinh Tiên Hoàng 18 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com sánh ngang tên tuổi các bậc anh hùng đã có công phá giặc ngoại xâm. Cùng với Đinh Bộ Lĩnh, tên tuổi của Lê Hoàn cũng mãi mãi được người đời ngợi ca. Ai lên ngôi để hưởng cuộc đời nhung lụa, còn Lê Hoàn lên ngôi trước hết là nhận lấy sứ mệnh vinh quang mà cực kì khó khăn, đó là chỉ huy cuộc chiến đấu chống quân Tống xâm lược, bảo vệ nền tự chủ và thái bình cho xã tắc. Đinh Bộ Lĩnh là vị vua khai sáng đầu tiên của nước Việt Nam độc lập sau một ngàn năm bị bọn phương Bắc đô hộ.
Hoa Bằng trong Tri tân tạp chí (số 41 năm 1942, trang 3) đánh giá Đinh Tiên Hoàng là người anh hùng, có ý thức dân tộc đã “khai sơn phá thạch” xây dựng quốc thống Việt Nam đầu tiên. Nguyễn Đăng Thục thì nhận định: “Sự nghiệp hỗn nhất nước Đại Cồ Việt ấy phải chăng cũng công to bằng Tần Thuỷ Hoàng đã thống nhất nước Tàu thời chiến quốc” [42, 323]. Các nhà nho xưa cũng đã khẳng định: Đinh Bộ Lĩnh là người mở đường của nhà nước phong kiến trung ương tập quyền ở Việt Nam, người mở nền chính thống (chính thống thuỷ). Ngày rằm tháng hai năm 924 Đinh Bộ Lĩnh cất tiếng khóc chào đời tại thôn Kim Lưu, làng Đại Hữu, châu Đại Hoàng.
Cuộc đời lăn lộn “nếm mật nằm gai” đầy gian khổ dễ khiến chúng ta lầm tưởng gốc gác nông dân của ông nhưng thực ra ông là con quan thứ sử Hoan Châu (Nghệ An) là Đinh Công Trứ (đời Dương Đình Nghệ: 930 – 937, đến thời Ngô Vương Quyền vẫn giữ chức đó). Tuy là con quan nhưng cuộc đời của Đinh Bộ Lĩnh không phải lớn lên trong lụa là gấm vóc, trong phú quý giàu sang. Cha mất sớm, Bộ Lĩnh phải theo mẹ là Đàm thị về quê, nương thân chú là Đinh Dự. Tiếng là ở với chú, được chú nuôi nhưng lại là cuộc sống của một đứa ở chăn trâu đầy cực nhục.
Có lẽ chính cảnh “ăn nhờ ở đậu” lại là phép thử đầu tiên tạo nên bản lĩnh cho người anh hùng dũng lược sau này. Từ thuở chăn trâu cắt cỏ, cái khí phách của một bậc đế vương đã lộ rõ. Bộ Lĩnh thường bẻ hoa lau làm cờ, lập trận giả tỏ rõ tài chỉ huy. Có ai ngờ những trò chơi thuở thiếu thời này, sau đã trở thành những trận hùng binh của một vị tướng tài uy danh cả một góc trời Nam.
Trước tư chất hơn người, trước khí phách của một vị tướng trẻ đầy 19 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com oai phong, bọn trẻ trong làng thường: “Lấy tay làm kiệu, lấy hoa lau làm cờ, đi hai bên Bộ Lĩnh để rước như nghi vệ thiên tử” (Toàn thư). Nhân dân địa phương còn lưu truyền Bộ Lĩnh đã: Đặt ra có ngũ, có dinh Có quân túc vệ, có thành tứ vi Trên thì bảo điện uy nghi Bên ngoài lại sẵn đan trì nghi môn Nếu đúng như những câu ca trên thì ngay từ thuở thiếu thời Bộ Lĩnh đã có những hình dung bước đầu về mô hình của nhà nước phong kiến. Đúng là anh hùng nổi danh bất luận tuổi tác. Đinh Bộ Lĩnh như rồng thiêng giữa chốn rừng xanh.
Ông được tôn lập làm trưởng ở sách Đào Áo, người theo về rất đông. Ngay từ thuở chăn trâu cắt cỏ, ngay từ thuở cờ lau tập trận, Đinh Bộ Lĩnh đã kết nghĩa “đào viên” với bốn người bạn cùng làng cùng tuổi (đồng lân đồng giáp) là Đinh Điền, Nguyễn Bặc, Lưu Cơ, Trịnh Tú. Đây là những người bạn thuỷ chung như nhất, luôn luôn kề vai sát cánh cùng Đinh Bộ Lĩnh, cả khi chiến đấu gian khổ đến khi đất nước thái bình. Quan hệ giữa Đinh Bộ Lĩnh với “tứ trụ triều Đinh” là sự gắn bó đẹp đẽ bền chặt như kim cương không gì phá nổi.
Ân tình sâu nặng của ba người có gắn rễ bền chặt từ thuở còn thơ tóc còn xanh mướt dưới bóng cờ lau chứ không phải đợi đến khi quốc gia hữu sự, cần dẹp giặc khăn vàng mới “đào viên kết nghĩa” như Lưu Bị, Quan Vân Trường, Trương Phi. Tuổi thơ đã hun đúc trong Đinh Bộ Lĩnh những hoài bão khác thường vượt xa lứa tuổi. Đến tuổi trưởng thành, vốn mang sẵn trong mình dòng máu của bậc anh hùng cái thế, lại chứng kiến cảnh đất nước đang lâm vào cơn hỗn loạn nên Bộ Lĩnh đã quyết tâm đem lại cảnh thái bình cho muôn dân. Ông chiêu tập các bạn từ thuở cờ lau tập trận, các nghĩa sĩ quanh vùng, tại động Hoa Lư, tập võ nghệ, luyện kiếm cung, tích trữ lương thảo, chờ thời cơ nổi dậy.
20 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Sau một thời gian đất nước hưởng cảnh thái bình dưới thời Ngô Vương Quyền thì đến nay đất nước lại chìm trong cảnh máu me tang tóc của những cuộc chiến tranh huynh đệ tương tàn. Những cảnh “nồi da nấu thịt”, cảnh “chia ba rẽ bảy”, mỗi địa bàn phấp phới một lá cờ sứ quân. Người ta gầm ghè nhau, hục hặc lẫn nhau trong vòng mấy năm trời chỉ đưa quần chúng vào lò sát sinh để hòng lấy cái ngôi chúa tể mà thôi. Cảnh cát cứ ấy, sự phân chia ấy chỉ tổ làm tê liệt cái nguyên khí của nước Văn Lang.
Mâm cát vụn kia, nắm đũa rời kia càng dễ làm mồi cho con hùm Nam Hán. Trước tình thế phân chia nguy ngập đó, nếu nước ta hồi ấy không có một tay hào kiệt phi thường đứng cao giơ lên, xoay lại thời cuộc thì: Một miếng thịt trăm dao xâu xé Chiếc kim âu chẳng mẻ cũng khôn lành Thanh gươm “vạn Thắng” đã chăm rèn Đinh Bộ Lĩnh thực chất cũng là một sứ quân dù trong danh sách “Thập nhị sứ quân” cát cứ, đánh chiếm, tranh giành và chống lại triều đình trung ương lúc đó không có tên ông. Ông đứng ngoài cuộc chiến huynh đệ tương tàn đó. Lúc này ông cũng như hùm thiêng đang náu nơi rừng sâu, rồng linh đang ẩn nơi bể cả chờ thời cơ đến.
Để dựng nên nghiệp đế vương, Đinh Bộ Lĩnh đã vận dụng, thực thi rất nhiều kế sách và chiến lược tài tình. Có lúc giành thắng lợi bằng sức mạnh quân sự, có lúc giành thắng lợi bằng kế sách thuyết hàng, thu phục nhân tâm. Có khi để thu phục được một sứ quân lại là sự kết hợp tài tình của rất nhiều kế sách, rất nhiều chiến thuật. Trong suốt toàn bộ cuộc đời binh nghiệp của mình, Đinh Bộ Lĩnh đã vận dụng những điều đó một cách linh hoạt.
Ở giai đoạn đầu, khi lực lượng của nghĩa quân Hoa Lư chưa phải đã mạnh, khi mà lòng dân vẫn còn hướng nhiều về nhà Ngô, vì vậy mà Đinh Bộ Lĩnh đã tránh đối đầu trực diện với triều đình trung ương. Bộ Lĩnh đã khéo léo, giả thần phục, triều cống, lại cho con trưởng của mình là Đinh Liễn về Cổ Loa làm con tin triều đình. Bậc tuấn kiệt ấy lấy hoà hoãn để tranh thủ thời 21 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com gian xây dựng lực lượng, mưu đồ sự nghiệp lớn. Vẻ bề ngoài của một bề tôi cam chịu, vẻ án binh bất động của một con hổ nơi rừng xanh đã nhờ thế mà che giấu được bao hoài bão lớn lao, bao hoạch định và sự khẩn trương thực thi các hoạch định đó.
Cũng chính nhờ sự khôn khéo mềm dẻo trong kế sách mà lực lượng của Bộ Lĩnh càng ngày càng lớn mạnh đến khi triều đình Cổ Loa biết thì sự đã rồi. Năm Tân Hợi (951), đời hậu Ngô hai vương là Thiên Sách Vương và Nam Tấn Vương xuất binh đánh nghĩa quân Hoa Lư để trừ hậu hoạ. Họ biết rằng mối hoạ này nguy hiểm khôn lường vì thủ lĩnh của nó là một vị tướng tài ba có tầm nhìn chiến lược. Đinh Bộ Lĩnh chống lại triều đình Cổ Loa nhưng không bị gọi là làm loạn bởi lẽ triều đình đã suy yếu, cũng chỉ là một trong 12 sứ quân mà thôi.
Các vương của triều hậu Ngô đã không gánh vác được trách nhiệm lịch sử để đất nước rơi vào cảnh hỗn loạn tang thương biết bao ngày. Hẳn ai cũng rõ chẳng có sự nào đáng sợ như sự thừa vua. Nước nhỏ mà cùng một lúc có đến hai vua, điều đó cũng có nghĩa là sẽ không còn có vua nào nữa, loạn 12 sứ quân sau đó chẳng phải là sự báo ứng rành rành đó sao? Chính quyền trung uơng suy yếu đến mức dù đã bao vây và đánh phá động Hoa Lư nhiều ngày mà vẫn không hạ được nghĩa quân ở đây. Đều là các bậc vương giả mà phải dùng đến cả kế sách treo Đinh Liễn lên ngọn cây để dụ hàng.