Đặt vấn đề Hiện nay, những tiến bộ khoa học ứng dụng của ngành công nghệ sinh học nhằm nâng cao năng suất cũng như cải thiện chất lượng sản phẩm, chất lượng cuộc sống đang được áp dụng rộng rãi trong những công nghiệp, nông nghiệp, y học,… Một trong những ngành có áp dụng nhiều ứng dụng của công nghệ sinh học nhất là nông nghiệp, đặc biệt là trong chăn nuôi. So với các phương pháp chăn nuôi truyền thống, có thời gian nuôi kéo dài, gây hao tốn rất nhiều về thức ăn ảnh hưởng đến lợi nhuận, do đó nhiều người chăn nuôi đã tiến hành bổ sung thêm một số chất kích thích tăng trưởng, chất tăng trọng, kháng sinh… để đạt lợi nhuận kinh tế cao. Đa số những chất này là những chất tổng hợp hóa học, nếu vật nuôi sử dụng sẽ tích lại dần trong cơ thể hoặc bài thải ra ngoài. Như vậy, sẽ làm ảnh hưởng tới chất lượng sản phẩm, gây nguy hại cho người sử dụng, không đáp ứng được yêu cầu về chất lượng sản phẩm hoặc gây ô nhiễm môi trường.
Luật quốc tế về vệ sinh thực phẩm tươi sống ra đời năm 1967. Nhưng cho đến nay, vấn đề về “thực phẩm sạch và an toàn” vẫn là điều mà xã hội quan tâm. Thịt không an toàn không những gây nguy hại cho người tiêu dùng mà còn có thể tạo ảnh hưởng không tốt, gây sự lo ngai cho những sãn phẩm từ thịt vốn được coi là nhiều chất dinh dưỡng có lợi cho sức khỏe. Chẳng hạn như thịt gà Ác là một loại thực phẩm đặc biệt có tác dụng bồi bổ sức khỏe nhanh chóng nên được dùng như một phương thuốc để cải thiện thể lực được sử dụng từ lâu, trước khi có các loại thuốc hiện đại.
Từ những vấn đề trên, chúng tôi thử nghiệm nuôi gà Ác thay thế những hợp chất hóa học không có lợi cho cơ thể vật nuôi và môi trường bằng những hợp chất tự nhiên có nguồn gốc thực vật và vi sinh vật nhằm giúp cho vật nuôi cải thiện sức khỏe, tăng trọng nhanh, giảm thời gian nuôi…, đem lại lợi nhuận cao cho người chăn nuôi cũng như chất lượng tốt cho sản phẩm. SVTT: LƯ QUỐC VIỆT 1 Luận Văn Tốt Nghiệp GVHD: TS HUỲNH THỊ BẠCH YẾN Được sự đồng ý của Khoa Khoa Học Ứng Dụng, Trường Đại Học Tôn Đức Thắng, với sự hướng dẫn của TS. Huỳnh Thị Bạch Yến, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Khảo sát khả năng tăng trưởng của gà Ác nuôi có bổ sung enzyme cellulase và Nha Đam” 1.2 Mục đích và yêu cầu 1.1 Mục đích Sử dụng chế phẩm tự nhiên có nguồn gốc thực vật và vi sinh vật bổ sung vào nguồn thức ăn chăn nuôi gà Ác để tăng khả năng hấp thụ thức ăn, giúp tăng trọng nhanh.2 Yêu cầu - Khảo sát khả năng tăng trưởng của gà Ác nuôi có bổ sung Nha Đam và cellulase so với gà nuôi theo phương pháp truyền thống. - Khảo sát tỷ lệ nuôi sống và hiệu quả kinh tế.
SVTT: LƯ QUỐC VIỆT 2 Luận Văn Tốt Nghiệp GVHD: TS HUỲNH THỊ BẠCH YẾN PHẦN II TỔNG QUAN 2.1 Sơ lược về giống gà Ác 2.1 Nguồn gốc giống gà Ác Gà Ác là một trong những giống gà nội địa ở Việt Nam. Gà Ác gắn bó với người dân Việt Nam từ rất lâu đời. Cho đến nay, không ai biết chính xác gà Ác xuất hiện từ đâu và từ bao giờ. Tác giả Từ Thái Trung (1997) điều tra cho thấy cụ Lê Chu Kỳ ở xã Mỹ Cẩm, huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh thì gà Ác được nuôi ở huyện khoảng những năm 1920-1930.
Theo cụ Đáp ở xã Trung Hiếu, huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long thì gà Ác cũng được nuôi vào khoảng những năm 1920-1930.2 Đặc điểm giống gà Ác Gà Ác thuộc nhóm gà có tên khoa học là Gallus Bankiwa. Gà Ác còn có các tên gọi khác như gà 5 móng, hắc kê, ô cốt kê, white chicken. Gà Ác có ngoại hình nhỏ, lông trắng tuyết, da, thịt và chân có màu đen. Mỗi chân gà có 5 ngón chân, ức và ngực phát triển.
Đùi ngắn phù hợp với tầm vóc nhỏ, trọng lượng trung bình là từ 1-1.5 kg ở một năm tuổi. Con trống có mào đỏ hình răng cưa và phát triển lông đuôi dài. Con mái có mào đen, lông đuôi ngắn, phát triển kém hơn gà trống. Tuổi thọ trung bình của gà vào khoảng 24-25 năm.
Gà đẻ trung bình một năm khoảng 60-70 trứng. Gà con có trọng lượng sơ sinh thấp, khoảng 18-23g/con, tỉ lệ nuôi sống cao 94-96%. Gà Ác có thể thích ứng với nhiều phương thức nuôi khác nhau: - Nuôi theo phương pháp quãng canh: gà Ác có khả năng tự kiếm mồi rất tốt, chỉ cần bổ sung một lượng thức ăn rất nhỏ. - Nuôi theo phương pháp thâm canh: gà Ác cũng phát triển tốt.
Gà Ác chịu nóng tốt nhưng không chịu rét nhất là gà con. SVTT: LƯ QUỐC VIỆT 3 Luận Văn Tốt Nghiệp GVHD: TS HUỲNH THỊ BẠCH YẾN Hình 2. Gà Ác trống Hình 2. Gà Ác mái ● Đặc điểm sinh lý gà con Gà con mới nở thân nhiệt chưa ổn định, thấp hơn gà trường thành khoản 2-30C.
Điều kiện bên ngoài khắc nghiệt như nắng gió, nhiệt độ, độ ẩm, thức ăn có mầm bệnh là những bất lợi đối với gà con vì các chức năng của những cơ quan bên trong của gà con chưa phát triển hoàn chỉnh. SVTT: LƯ QUỐC VIỆT 4 Luận Văn Tốt Nghiệp GVHD: TS HUỲNH THỊ BẠCH YẾN Trong giai đoạn đầu gà con có tốc độ sinh trưởng rất cao, lớp lông tơ sẽ được thay thế bằng lớp lông phủ nên nhu cầu dinh dưỡng của gà con cao và giảm dần ở lứa tuổi sau. Vì vậy, muốn gà con có mức sinh trưởng nhanh, sức sống cao, cần phải tạo mọi điều kiện để gà con thích nghi nhanh chóng với môi trường bên ngoài. Gà Ác 1 ngày tuổi 2.3 Giá trị dinh dưỡng của thịt gà Ác Từ lâu, người ta đã sử dụng thịt gà Ác để làm những bài thuốc nổi tiếng, thịt, da, xương đều màu đen, máu đỏ hơn gà thường, chứa nhiều lysine.
Thịt gà Ác được ưa chuộng vì bổ dưỡng, thường dùng cho người suy nhược, dưỡng bệnh, sản phụ mới sinh, thịt gà Ác hầm thuốc bắc (hoài sơn, sinh địa, sâm, táo tàu.) giúp bồi dưỡng cơ thể bị suy ngược. Nếu kết hợp với tam thất, mật ong thì nó trở thành một món ăn bổ dưỡng không kém nhân sâm. Đặc biệt, thịt gà Ác không gây dị ứng như các loại gà khác, lại có khả năng giúp mau lành xương. Sử dụng gà Ác lúc nhỏ thì thịt mềm, dễ tiêu hóa, dễ nhiệt phân.
Khi vào cơ thể đạm thịt gà Ác bị thủy phân thành nhiều amino acid, trong đó lysine chiếm tỷ lệ cao. Lysine là một amino acid quan trọng nó giúp cho cơ thể xúc tiến sinh trưởng và SVTT: LƯ QUỐC VIỆT 5 Luận Văn Tốt Nghiệp GVHD: TS HUỲNH THỊ BẠCH YẾN phát triển, tạo kháng thể (γ-globutine) chống lại mầm bệnh bảo vệ cơ thể, tạo máu, duy trì trạng thái thần kinh bình thường, tham gia quá trình tạo xương. Ngoài lysine còn có các amino acid quan trọng cần thiết cho sự sống, tạo chất kích thích, điều hòa sinh trưởng cho cơ thể (Nguyễn Huy Hoàng, 1997). Viện chăn nuôi quốc gia Việt Nam đã tiến hành phân tích chất lượng thịt gà Ác.
Kết quả cho thấy hàm lượng chất sắt (giúp bổ máu) trong thịt gà Ác rất cao, chiếm 7,9%, trong khi gà Ri chỉ có 3,9%. So với gà Ri, hàm lượng của một số acid amin cũng cao hơn. Tỷ lệ phần trăm acid aspartic là 2,065 (gà Ri là 1,857); glutamine 3,175 (2,784); serine 0,860 (0,871); histidin 0,628 (0,819); glycine 0,901 (0,819); threonine 1,116 (1,006); lysine 2,072 (1,903). Theo dinh dưỡng học cổ truyền, gà Ác có công dụng bổ can thận, ích khí huyết, thường được dùng để chữa các chứng bệnh suy nhược, tiểu đường, đi tả lâu ngày do tỳ hư, chán ăn, khí hư, di tinh, hoạt tinh, thận suy, đau lưng, ra mồ hôi trộm, kinh nguyệt không đều.
Theo dinh dưỡng học hiện đại, thịt gà Ác ít mỡ, rất giàu đạm (có khoảng 18 loại acid amin), nhiều vitamin như A, B1, B2, B6, B12, E, PP. và các nguyên tố vi lượng như K, Na, Ca, Fe, Mg, Mn, Cu. Kết quả nghiên cứu của các nhà dinh dưỡng Trung Quốc cho thấy, thịt gà Ác phòng chống mệt mỏi, tăng cường khả năng chịu đựng của cơ thể trong điều kiện thiếu dưỡng khí, cải thiện công năng miễn dịch. Sơ lược về chế phẩm bổ sung 2.
Giới thiệu về Nha đam Tên khoa học: Aloe Vera Linne (Aloe Barbadensis Mill, Aloe Vulgaris Lamk) Họ: Aloaceae (Lô hội) Cây Lô hội là loại cây bụi nhỏ xương rồng, còn được gọi bằng một số tên khác như: Tượng đảm, Long tu, Du thông, Lưỡi hổ, Hổ thiết. thuộc chi Aloe, họ Huệ SVTT: LƯ QUỐC VIỆT 6 Luận Văn Tốt Nghiệp GVHD: TS HUỲNH THỊ BẠCH YẾN tây (Liliaceae). Trong khoảng 180 loài thuộc chi Aloe thì chỉ có 4 loài được sử dụng để làm thuốc bổ dưỡng và chữa bệnh, một số loài có độc tố. Hai loài được chú ý nhiều nhất là Aloe Ferox Mill và Aloe vera Linne.
Theo Võ Văn Chi (1991), Đỗ Thanh Hội (1997), thì cây Lô hội là loại cây dạng thân cỏ, mập, màu xanh lục nhạt, thân ngắn. Cây Lô hội trưởng thành có lá mập, dài 30 – 50 cm, rộng 5 – 10 cm, dày 1- 2cm. Lá Lô hội gồm 2 phần: phần vỏ ngoài là lớp màu xanh, khi cắt ngang chảy ra nhựa màu vàng có mùi hắc, để khô chuyển thành màu đen, phần trong là phần thịt mọng nước dạng gel. Cụm hoa của cây cao khoảng 1m, mọc thành chùm, hoa to đều có màu vàng lục nhạt.
Quả nang hình trứng màu xanh, chứa nhiều hạt. Nếu rạch một đường giữa lá Lô hội tươi rồi dùng thìa nạo ở giữa lá Lô hội quan sát sẽ có một chất gel trong suốt. Theo sách Cây cỏ Việt Nam của Phạm Hoàng Hộ thì chi Aloe ở nước ta chỉ có 1 loài là Aloe vera Linne. Berger tức là cây Lô hội lá nhỏ.
Thành phần hóa học trong nha đam Phân tích các thành phần lấy từ lá Nha Đam (Lô hội), các nhà nghiên cứu tìm thấy các chất sau: - Hợp chất anthraquinon: Đây là thành phần có tác dụng chữa bệnh của cây Lô hội bao gồm: - Aloe emodine, không có trong dịch tươi Lô hội mà có trong nhựa khô, chiếm 0,05 - 0,5%. Chất này tan trong ether, chloroform, benzen, - Barbaloin: chiếm 15 - 30% thành phần nhựa của Lô hội, chất này sẽ tan dần khi để ngoài không khí và ánh sáng, tan được trong nước, cồn, aceton, tan ít trong benzen và chloroform. - Aloinosid A, Aloinosid B, Anthranol.