Khảo Sát Tác Dụng Hạ Enzym Gan Của Các Loại Cao Chiết Dược Liệu

Tài liệu nghiên cứu Kl le my ngan 912053s, tổng hợp lý thuyết và thực hành, cung cấp kiến thức chuyên sâu về ., phục vụ nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn tốt nghiệp

2009

66
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

1. CHƯƠNG 1: MỞ ĐẦU

2. CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN

2.1. Tổng quan về thực vật học

2.2. Cây Râu mèo (Orthosiphon aristatus Blume)

2.2.1. Đặc điểm hình thái thực vật

2.2.2. Thành phần hóa học

2.2.3. Tác dụng dược lý

2.3. Cây Nghể (Polygonum tomentosum Willd)

2.3.1. Đặc điểm hình thái thực vật

2.3.2. Thành phần hóa học

2.3.3. Tác dụng dược lý

2.4. Cấu trúc của gan

2.5. Chức năng của gan

2.6. Các loại enzym của gan

2.7. Nguồn gốc của các enzym gan

2.8. Nguyên nhân gây tăng enzym gan

2.9. Cơ chế làm phát sinh bệnh gan do các gốc tự do

2.10. Mô hình gan in vitro và in vivo

2.10.1. Mô hình gan in vitro

2.10.2. Mô hình gan in vivo

2.11. Tổng quan về gốc tự do

2.11.1. Khái niệm về gốc tự do

2.11.2. Nguồn gốc phát sinh gốc tự do

2.11.3. Tác hại của gốc tự do

2.12. Chất chống oxi hóa

2.13. Giới thiệu về chất Silymarin

3. CHƯƠNG 3: VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1. Nguyên vật liệu nghiên cứu

3.2. Thú thử nghiệm

3.3. Dụng cụ, thiết bị và hóa chất

3.4. Nội dung thí nghiệm

3.5. Phương pháp nghiên cứu

3.5.1. Xử lý nguyên liệu

3.5.2. Quy trình chiết xuất dược liệu

3.5.3. Phương pháp chiết đun hồi lưu

3.5.4. Phương pháp điều chế cao nước (H)

3.5.5. Phương pháp điều chế cao ethyl acetat (EtOAc)

3.5.6. Phương pháp sàng lọc tác dụng hạ enzym gan trên mô hình chuột nhiễm độc CCl4 (in vivo)

3.5.7. Phương pháp gây độc tính mãn trên gan chuột bằng CCl4 trong 8 tuần

3.5.8. Bố trí thí nghiệm

3.5.9. Thiết kế thí nghiệm

3.5.10. Khảo sát sàng lọc tác dụng hạ enzym gan của các cao chiết, chất tinh khiết, chất chuẩn ở cùng nồng độ

3.5.11. Phương pháp đánh giá kết quả thử nghiệm

3.5.12. Phương pháp lấy máu chuột

3.5.13. Phương pháp đo ALT của hãng Diagnosticum Zrt

3.5.14. Cách tiến hành

3.5.15. Cách tính toán

4. CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

4.1. Thử tinh khiết thực vật

4.2. Định dạng mẫu

4.3. Cây Râu mèo (Orthosiphon aristatus Blume)

4.4. Cây Nghể (Polygonum tomentosum Willd)

4.5. Xác định độ ẩm của nguyên liệu và cao chiết

4.5.1. Xác định độ ẩm mẫu của cây Râu mèo và các cao chiết từ cây Râu mèo

4.5.2. Xác định độ ẩm của cây Nghể và các cao chiết từ cây Nghể

4.6. Khảo sát nồng độ CCl4

4.7. Kết quả khảo sát sinh học

4.8. Kết quả sàng lọc tác dụng hạ enzym gan của các lô mẫu thử so với lô trắng, lô độc, lô chất chuẩn

4.9. Kết quả tác dụng làm hạ enzym gan của các cao chiết ethyl acetat so với chất chuẩn Silymarin

4.10. Kết quả khảo sát sàng lọc tác dụng hạ enzym gan của lô chất tinh khiết quercitrin so với lô chất chuẩn silymarin

4.11. Kết quả khảo sát sàng lọc tác dụng hạ enzym gan của hai lô mẫu ethyl acetat so với lô chất tinh khiết quercitrin

5. CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ

5.1. Kết luận chung

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về khảo sát tác dụng hạ enzym gan từ dược liệu

Khảo sát tác dụng hạ enzym gan từ các loại cao chiết dược liệu đang trở thành một lĩnh vực nghiên cứu quan trọng. Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng các dược liệu như cây Nghể và cây Râu mèo có khả năng làm giảm enzym gan, giúp bảo vệ gan khỏi các tác động xấu từ độc tố. Việc tìm hiểu sâu về tác dụng của các dược liệu này không chỉ mang lại giá trị cho y học cổ truyền mà còn mở ra hướng đi mới cho y học hiện đại.

1.1. Tác dụng của cao chiết dược liệu đối với enzym gan

Cao chiết từ các loại dược liệu như Nghể và Râu mèo đã được chứng minh có tác dụng hạ enzym gan. Nghiên cứu cho thấy các hợp chất trong dược liệu này có khả năng làm giảm nồng độ enzym ALT, một chỉ số quan trọng trong việc đánh giá chức năng gan.

1.2. Lợi ích của việc sử dụng dược liệu trong điều trị bệnh gan

Việc sử dụng dược liệu không chỉ giúp hạ enzym gan mà còn hỗ trợ phục hồi chức năng gan. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng dược liệu có tác dụng chống oxy hóa, giúp bảo vệ tế bào gan khỏi tổn thương.

II. Vấn đề và thách thức trong nghiên cứu tác dụng hạ enzym gan

Mặc dù có nhiều nghiên cứu về tác dụng của dược liệu trong việc hạ enzym gan, nhưng vẫn còn nhiều thách thức cần vượt qua. Các vấn đề như độ an toàn, hiệu quả lâu dài và cơ chế tác động của các hợp chất trong dược liệu vẫn chưa được làm rõ. Điều này đòi hỏi các nghiên cứu sâu hơn để xác định rõ ràng tác dụng của chúng.

2.1. Những khó khăn trong việc xác định hiệu quả của dược liệu

Việc xác định hiệu quả của dược liệu trong việc hạ enzym gan gặp khó khăn do sự đa dạng về thành phần hóa học và cách chiết xuất. Các yếu tố này có thể ảnh hưởng đến kết quả nghiên cứu.

2.2. Cần có nghiên cứu lâm sàng để khẳng định tác dụng

Để khẳng định tác dụng của dược liệu, cần có các nghiên cứu lâm sàng quy mô lớn. Điều này sẽ giúp xác định rõ ràng hơn về hiệu quả và độ an toàn của các loại cao chiết dược liệu.

III. Phương pháp nghiên cứu tác dụng hạ enzym gan từ dược liệu

Nghiên cứu tác dụng hạ enzym gan từ các loại cao chiết dược liệu thường được thực hiện qua các phương pháp in vivo và in vitro. Các phương pháp này giúp đánh giá hiệu quả của dược liệu trên mô hình chuột bị gây độc tính bằng CCl4, từ đó đưa ra kết luận về tác dụng của chúng.

3.1. Phương pháp chiết xuất cao dược liệu

Cao dược liệu được chiết xuất bằng phương pháp đun hồi lưu, giúp thu được các hợp chất có hoạt tính sinh học cao. Phương pháp này đảm bảo giữ lại các thành phần quan trọng trong dược liệu.

3.2. Đánh giá tác dụng hạ enzym gan trên mô hình chuột

Mô hình chuột bị gây độc tính bằng CCl4 được sử dụng để đánh giá tác dụng hạ enzym gan. Các chỉ số enzym gan như ALT được đo để xác định hiệu quả của các loại cao chiết dược liệu.

IV. Kết quả nghiên cứu tác dụng hạ enzym gan từ dược liệu

Kết quả nghiên cứu cho thấy cao chiết từ cây Nghể và cây Râu mèo có tác dụng hạ enzym gan rõ rệt. Các mẫu thử nghiệm cho thấy cao Nghể ethyl acetat có tác dụng tốt hơn so với cao Râu mèo. Điều này mở ra hướng đi mới trong việc sử dụng dược liệu để điều trị bệnh gan.

4.1. So sánh hiệu quả giữa các loại cao chiết

Kết quả cho thấy cao chiết ethyl acetat từ cây Nghể có tác dụng hạ enzym gan tốt hơn so với cao Râu mèo. Điều này cho thấy tiềm năng của Nghể trong việc điều trị bệnh gan.

4.2. Tác dụng của quercitrin trong việc hạ enzym gan

Quercitrin, một flavonoid có trong cả hai loại dược liệu, đã được xác định là có tác dụng hạ enzym gan. Tuy nhiên, quercitrin không phải là chất duy nhất quyết định tác dụng này.

V. Kết luận và triển vọng nghiên cứu tác dụng hạ enzym gan

Nghiên cứu về tác dụng hạ enzym gan từ các loại cao chiết dược liệu như Nghể và Râu mèo đã cho thấy nhiều triển vọng. Các kết quả ban đầu cho thấy dược liệu có khả năng bảo vệ gan và hạ enzym gan, mở ra hướng đi mới cho việc điều trị bệnh gan. Tuy nhiên, cần tiếp tục nghiên cứu để khẳng định hiệu quả và độ an toàn của chúng.

5.1. Tương lai của nghiên cứu dược liệu trong điều trị bệnh gan

Nghiên cứu dược liệu trong điều trị bệnh gan đang ngày càng được quan tâm. Các nghiên cứu tiếp theo sẽ giúp làm rõ hơn về cơ chế tác động và hiệu quả của các loại dược liệu này.

5.2. Khuyến nghị cho nghiên cứu tiếp theo

Cần có các nghiên cứu lâm sàng quy mô lớn để xác định rõ ràng tác dụng và độ an toàn của các loại cao chiết dược liệu. Điều này sẽ giúp đưa ra các khuyến nghị chính xác hơn trong việc sử dụng dược liệu trong điều trị bệnh gan.

25/07/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

đặt vấn đề “Khảo sát tác dụng hạ enzym gan của các loại cao chiết dược liệu trên gan chuột bị gây độc tính mãn bằng CCl4 ” nhằm đánh giá về tác dụng dược lí của hai dược liệu trên về tác dụng làm hạ enzym gan khi gan bị nhiễm độc CCl4 mãn tính với các nội dung thực hiện sau: − Chuẩn bị dược liệu và chiết xuất các loại cao nghiên cứu. − Khảo sát tác dụng làm hạ enzym gan của các loại cao chiết dược liệu và chất tinh khiết quercitrin so với chất chuẩn silymarin trên mô hình gan chuột bị gây độc tính mãn bằng CCl4 1 Chương 2: TỔNG QUAN 2. Tổng quan về thực vật học 2. Cây Râu mèo (Orthosiphon aristatus Blume.) − Cây Râu mèo có tên khoa học là Orthosiphon aristatus Blume.), thuộc họ Hoa môi (Lamiaceae), chi Orthosiphon.

Ở Việt Nam cây Râu mèo còn được gọi là:Bông bạc, É mùi. Cây Râu mèo mọc tự nhiên và phân bố phổ biến Ấn Độ, các nước Đông Nam Á như: Indonesia, Malaysia, Thái Lan. Còn ở Việt Nam thì cây Hình 2. Râu mèo Râu mèo ở các nơi như: thành phố Hồ Chí Minh, các (Orthosiphon aristatus Blume.) tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, và miền núi.

[ 12] - Cây Râu mèo được sử dụng cả cây, nhưng trừ phần rễ. Thu hái vào tháng 3- 4 trước khi cây có hoa. Dược liệu sau khi thu hái được ốn định bằng cách phơi hoặc sấy khô. Cây sinh trưởng mạnh trong mùa xuân, hè.

Cây ra hoa quả nhiều hàng năm, tái sinh tự nhiên chủ yếu từ hạt, nhưng tỷ lệ hạt nảy mầm rất thấp. Râu mèo tái sinh chồi khỏe, nhất là những phần còn lại sau khi bị cắt.Đặc điểm hình thái thực vật [26] Cây Râu mèo có tên như vậy vì nhị và nhụy của hoa thò ra giống râu con mèo. Thân thảo, sống lâu năm, cao 0.5m, thân mảnh cứng, hình vuông, mọc đứng, thường có màu nâu tím, nhẵn hoặc có ít lông, ít phân cành. Lá của cây Râu mèo mọc đối, hình trứng, dài 4 – 6 cm, rộng 2,5 – 4 cm, gốc tròn, đầu nhọn, mép có khía răng cưa to, gân lá hơi nổi rõ ở mặt dưới, cuốn lá dài 3 – 4 cm.

Cụm hoa mọc thẳng ở ngọn thân và đầu cành, dài 8 – 10 cm, gồm 6 – 10 vòng, mỗi vòng có 6 hoa màu trắng hoặc hơi tím, lá bắc nhỏ rụng sớm, lá đài hình chuông có 5 răng cưa, răng trên rộng, tỏa ra ngoài, tràng hoa hình ống hẹp, thẳng hoặc hơi cong, dài 2 cm, môi trên chia 3 thùy, môi dưới nguyên, nhị mọc thò ra ngoài hoa, dài gấp 2 – 3 lần tràng, chỉ nhị mảnh, nhẵn, vòi nhụy dài hơn nhị. Cây cho quả bế, nhỏ, dẹt. Cây Râu mèo là loại cây ưa ẩm, ưa sáng và có thể chịu nóng, thích hợp với mọi loại đất, nhưng không chịu được úng, và thường mọc trên đất giàu chất mùn ở ven rừng, gần 2 bờ nước hoặc thung lũng. Thành phần hóa học Trong thân cây Râu mèo chứa nhiều nhóm hợp chất khác nhau: các glucoseid đắng, orthosiphonnin, saponin, alkaloid, tinh dầu, tannin, flavonoid, cholin, betain, alcol triterpen, acid hữu cơ như: tartaric, citric, acid glycolis, … muối vô cơ kali.

[ 7 ] Saponin: được tìm thấy trong thành phần của cây Râu mèo lần đầu tiên 1933 do P. Caparis và CH Fevrier.V và cộng sự tiến hành định lượng thành phần saponin. Kết quả cây Râu mèo chứa 4,5% saponin trong dịch chiết BuOH. Thành phần saponin được gọi tên là orthosiphonosides A, B, C, D, E có màu tím hồng với thuốc thử acid phosphotungstic ở nhiệt độ 105–110 0C.[ 8 ] Glucoseid đắng: cây Râu mèo được Van Itallie nghiên cứu từ năm 1886, tác giả đã lấy ra một chất glucoseid đắng gọi là orthosiphon chất này ít tan trong cồn và tan nhiều trong nước.

Sau đó nhiều tác giả của Đức cũng tìm thấy thành phần này và thêm muối K + trong cây Râu mèo, có tác giả cho rằng đó là hoạt chất chính gây tác dụng lợi tiểu. [ 8 ] Các Flavonoid: thành phần hóa học được biết rõ nhất trong cây Râu mèo là flavonoid. Đến nay đã có 9 chất flavonoid ở dạng aglycon được phân lập từ cây Râu mèo, trong đó sinensetin chiếm hàm lượng lớn trong cây. Ngoài 9 flavonoid còn có 2 flavonoid glycosid: kaempferol 3 – O – β glucoseid, quercetin 3 – O – β glucoseid [5, 7, 18] Trong một nghiên cứu của tác giả Yasuhiro Tezuka làm trên đối tượng là cây Râu mèo tại Việt Nam đã tìm ra được 5 chất orthosiphon mới, ngoài ra còn có các staminolacton, nor – staminolacton cũng được tìm thấy.1: Các gốc hóa học trong các chất Flavonoid của cây Râu mèo Các chất Flavonoid R1 R2 R3 R4 1 H H3C H H 2 H H3C H CH3 3 H3C H H CH3 4 H3C H3C H H 5 H3C H3C H CH3 6 H H3C OH CH3 7 H H3C OH CH3 8 H3C H3C OH CH3 9 H3C H3C OCH3 CH3 Hình 2.

Cấu trúc của Favonoid Hình 2.3: Năm loại Orthosiphon được tìm thấy trong cây Râu mèo ở Việt Nam 4 Các dẫn chất của acid caffeic: chủ yếu là các acid rosmarinic, acid cichoric …[ 8 ] Hình 2.4: Acid rosmarinic Hình 2.5: Acid cichonic Các Diterpenoid: Các orthosiphol, neo – orthosiphol, seco – orthosiphol; Các staminol, nor – staminol, nor – staminon; Các staminolacton, nor – staminolacton; Các siphonol (cây Râu mèo có hơn 50 chất thuộc nhóm này). Các thành phần khác như: betain, cholin, β - sitosterol [8] 2. Tác dụng dược lý Tác dụng lợi tiểu [5, 9, 26] − Năm 1993 những nhà khoa học đã nghiên cứu dược lý học của một số lipophilic flavonoid từ cây Râu mèo cho thấy thành phần sinensetin và hydroxyl 5, 6, 7, 4 – tetramethoxyflavon thể hiện hoạt tính lợi tiểu nhưng không có hoạt tính kháng khuẩn. Theo tác giả Ấn Độ, Râu mèo rất có ích trong đều trị bệnh thận và phù thũng.

Sự có mặt của hoạt chất orthosiphonin và muối kali trong dược liệu có tác dụng giữ cho acid uric và muối urat ở dạng tan, do đó phòng ngừa được sự lắng của muối để tạo thành sỏi ở thận. Ở Thái Lan, thí nghiệm trên những người khỏe mạnh, thì dịch chiết râu mèo có tác dụng làm tăng sự bài tiết citrat và oxalat (oxalat với hàm lượng cao có thể tăng nguy cơ hình thành sỏi thận). − Râu mèo có vị ngọt, nhạt, hơi đắng, tính mát, có tác dụng lợi tiểu, thanh nhiệt, trừ phong thấp. Theo kinh nghiệm dân gian, râu mèo được dùng làm thuốc lợi tiểu trong điều trị viêm thận, sỏi thận, sỏi mật, tê thấp, phù thũng, viêm 5 gan.

Râu mèo làm tăng lượng nước tiểu và thúc đẩy sự bài tiết urê, các chlorua và acid uric, nên có tác dụng tốt đối với các chứng rối loạn đường tiêu hóa, bệnh thấp khớp, đau lưng, đau nhức khớp xương. Ngoài ra có tác dụng tốt đối với bệnh xung huyết gan và bệnh đường ruột. Cơ chế tác dụng do sự kết hợp của glycosid với các muối kiềm. Dịch chiết bằng nước giàu hoạt chất hơn (28.[10] Tác dụng ức chế khối u [13] Theo nghiên cứu của một nhà khoa học người Nhật thì hầu hết các flavonoid và doterpenoid được tách ra từ cây Râu mèo có tác dụng độc đối với tế bào ung thư biểu mô gan chuột nhắt 26 – L5.

Tác dụng chống oxy hóa [ 8, 13, 19] Trong một khảo sát đối với một số cây thuốc ở Việt Nam cho thấy cây Râu mèo có hoạt tính chống oxy hóa mạnh. Năm 2007 và 2008 ở nước ngoài đã có những báo cáo chính thức về tác chống oxy hoá của cây Râu mèo. Gần đây đề tài [13] đã nghiên cứu tác dụng làm hạ enzym gan và bảo vệ gan trên mô hình gan chuột bị gây độc CCl4 cấp tính của cây Râu mèo. Thu được kết quả sau: ™ Các khảo sát đã sàng lọc in vitro hoạt tính chống oxi hoá, tác dụng làm hạ men gan của 3 cao toàn phần methanol, n – butanol, EtOAc và 9 phân đoạn được tách từ cao toàn phần EtOAc đồng thời đối chiếu, so sánh với chất chuẩn silymarin kết quả cho thấy cao EtOAc có tác dụng kháng oxi hoá mạnh nhất và các phân đoạn hợp chất trong cao EtOAc có tác dụng tương hỗ lẫn nhau.

[14] ™ Tiếp tục thử nghiệm in vivo hoạt tính chống oxi hoá, tác dụng làm hạ men gan của cao EtOAc với các nồng độ 0,1 mg/ml; 0,5 mg/ml; 1 mg/ml, so sánh với chất chuẩn silymarin kết quả cho thấy hoạt tính kháng oxi hoá, tác dụng làm hạ men gan tốt nhất ở nồng độ 1 mg/ml. [14] Một vài tác dụng khác [26] − Tác dụng: chống lão hóa do trong cây Râu mèo có chứa saponin, chất này thường tương tác với hệ cytochrom P450 tham gia vào quá trình chống lão hóa tế bào. Qua thử nghiệm bằng cách gây ngộ độc phá vỡ tế bào gan chuột cho thấy: chuột ở nhóm không uống thuốc chết hết, chuột ở nhóm uống Râu mèo đã loại được độc tố khỏi cơ thể, tế bào gan được hồi sinh. Và tác dụng lợi mật do giúp nhũ hóa lipid, nhờ đó tránh tình trạng tích tụ lipid (đây là nguyên nhân gây bệnh béo phì).

6 − Theo tài liệu Ấn Độ coi dịch hãm lá Râu mèo là thuốc điều trị đặc hiệu các bệnh: thận, bàng quang, thấp khớp. Cây Nghể ( Polygonum tomentosum Willd.) Cây Nghể thuộc họ rau răm (họ Nghể, hay họ Kiều Mạch) danh pháp khoa học là Polygonaceae. Một số cây phổ biến trong họ rau răm như: cây chút chít (Rumex), đại hoàng (Rheum), Nghể, … Đây là nhóm thực vật hai lá mầm, chứa khoảng 50 chi và 1120 loài. Họ Nghể là loài cây thân thảo, cây bụi, cây thân Hình 2.

Nghể gỗ nhỏ. Với các cơ quan sinh sản đơn tính ở trên (Polygonum tomentosum Willd.) [24] cùng một cây hay ở trên hai cây khác nhau Cây Nghể có tên khoa học là Polygonum tomentosum Willd. (hay Polygonum pulchrum Blume.), hay được biết đến với nhiều tên khác nhau: Nghể lông dày, Nghể trâu… [7, 13] Nghể là loài phân bố rộng khắp vùng nhiệt đới, cận nhiệt đới ở Châu Á, một phần ở Châu Âu. Còn ở Việt Nam, Nghể có khoảng hơn 30 loài mọc khắp các tỉnh từ đồng bằng đến trung du, miền núi và mọc thành từng đám ở ruộng, mương rạch, ao hồ, bờ sông.

Đặc điểm hình thái thực vật [5, 11] Nghể là loại cây thân thảo một năm, có thân mọc thẳng, cao 40 – 70 cm, rộng 1,5 cm, nhiều cành và có rãnh dọc.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ