đặt vấn đề “Khảo sát tác dụng hạ enzym gan của các loại cao chiết dược liệu trên gan chuột bị gây độc tính mãn bằng CCl4 ” nhằm đánh giá về tác dụng dược lí của hai dược liệu trên về tác dụng làm hạ enzym gan khi gan bị nhiễm độc CCl4 mãn tính với các nội dung thực hiện sau: − Chuẩn bị dược liệu và chiết xuất các loại cao nghiên cứu. − Khảo sát tác dụng làm hạ enzym gan của các loại cao chiết dược liệu và chất tinh khiết quercitrin so với chất chuẩn silymarin trên mô hình gan chuột bị gây độc tính mãn bằng CCl4 1 Chương 2: TỔNG QUAN 2. Tổng quan về thực vật học 2. Cây Râu mèo (Orthosiphon aristatus Blume.) − Cây Râu mèo có tên khoa học là Orthosiphon aristatus Blume.), thuộc họ Hoa môi (Lamiaceae), chi Orthosiphon.
Ở Việt Nam cây Râu mèo còn được gọi là:Bông bạc, É mùi. Cây Râu mèo mọc tự nhiên và phân bố phổ biến Ấn Độ, các nước Đông Nam Á như: Indonesia, Malaysia, Thái Lan. Còn ở Việt Nam thì cây Hình 2. Râu mèo Râu mèo ở các nơi như: thành phố Hồ Chí Minh, các (Orthosiphon aristatus Blume.) tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, và miền núi.
[ 12] - Cây Râu mèo được sử dụng cả cây, nhưng trừ phần rễ. Thu hái vào tháng 3- 4 trước khi cây có hoa. Dược liệu sau khi thu hái được ốn định bằng cách phơi hoặc sấy khô. Cây sinh trưởng mạnh trong mùa xuân, hè.
Cây ra hoa quả nhiều hàng năm, tái sinh tự nhiên chủ yếu từ hạt, nhưng tỷ lệ hạt nảy mầm rất thấp. Râu mèo tái sinh chồi khỏe, nhất là những phần còn lại sau khi bị cắt.Đặc điểm hình thái thực vật [26] Cây Râu mèo có tên như vậy vì nhị và nhụy của hoa thò ra giống râu con mèo. Thân thảo, sống lâu năm, cao 0.5m, thân mảnh cứng, hình vuông, mọc đứng, thường có màu nâu tím, nhẵn hoặc có ít lông, ít phân cành. Lá của cây Râu mèo mọc đối, hình trứng, dài 4 – 6 cm, rộng 2,5 – 4 cm, gốc tròn, đầu nhọn, mép có khía răng cưa to, gân lá hơi nổi rõ ở mặt dưới, cuốn lá dài 3 – 4 cm.
Cụm hoa mọc thẳng ở ngọn thân và đầu cành, dài 8 – 10 cm, gồm 6 – 10 vòng, mỗi vòng có 6 hoa màu trắng hoặc hơi tím, lá bắc nhỏ rụng sớm, lá đài hình chuông có 5 răng cưa, răng trên rộng, tỏa ra ngoài, tràng hoa hình ống hẹp, thẳng hoặc hơi cong, dài 2 cm, môi trên chia 3 thùy, môi dưới nguyên, nhị mọc thò ra ngoài hoa, dài gấp 2 – 3 lần tràng, chỉ nhị mảnh, nhẵn, vòi nhụy dài hơn nhị. Cây cho quả bế, nhỏ, dẹt. Cây Râu mèo là loại cây ưa ẩm, ưa sáng và có thể chịu nóng, thích hợp với mọi loại đất, nhưng không chịu được úng, và thường mọc trên đất giàu chất mùn ở ven rừng, gần 2 bờ nước hoặc thung lũng. Thành phần hóa học Trong thân cây Râu mèo chứa nhiều nhóm hợp chất khác nhau: các glucoseid đắng, orthosiphonnin, saponin, alkaloid, tinh dầu, tannin, flavonoid, cholin, betain, alcol triterpen, acid hữu cơ như: tartaric, citric, acid glycolis, … muối vô cơ kali.
[ 7 ] Saponin: được tìm thấy trong thành phần của cây Râu mèo lần đầu tiên 1933 do P. Caparis và CH Fevrier.V và cộng sự tiến hành định lượng thành phần saponin. Kết quả cây Râu mèo chứa 4,5% saponin trong dịch chiết BuOH. Thành phần saponin được gọi tên là orthosiphonosides A, B, C, D, E có màu tím hồng với thuốc thử acid phosphotungstic ở nhiệt độ 105–110 0C.[ 8 ] Glucoseid đắng: cây Râu mèo được Van Itallie nghiên cứu từ năm 1886, tác giả đã lấy ra một chất glucoseid đắng gọi là orthosiphon chất này ít tan trong cồn và tan nhiều trong nước.
Sau đó nhiều tác giả của Đức cũng tìm thấy thành phần này và thêm muối K + trong cây Râu mèo, có tác giả cho rằng đó là hoạt chất chính gây tác dụng lợi tiểu. [ 8 ] Các Flavonoid: thành phần hóa học được biết rõ nhất trong cây Râu mèo là flavonoid. Đến nay đã có 9 chất flavonoid ở dạng aglycon được phân lập từ cây Râu mèo, trong đó sinensetin chiếm hàm lượng lớn trong cây. Ngoài 9 flavonoid còn có 2 flavonoid glycosid: kaempferol 3 – O – β glucoseid, quercetin 3 – O – β glucoseid [5, 7, 18] Trong một nghiên cứu của tác giả Yasuhiro Tezuka làm trên đối tượng là cây Râu mèo tại Việt Nam đã tìm ra được 5 chất orthosiphon mới, ngoài ra còn có các staminolacton, nor – staminolacton cũng được tìm thấy.1: Các gốc hóa học trong các chất Flavonoid của cây Râu mèo Các chất Flavonoid R1 R2 R3 R4 1 H H3C H H 2 H H3C H CH3 3 H3C H H CH3 4 H3C H3C H H 5 H3C H3C H CH3 6 H H3C OH CH3 7 H H3C OH CH3 8 H3C H3C OH CH3 9 H3C H3C OCH3 CH3 Hình 2.
Cấu trúc của Favonoid Hình 2.3: Năm loại Orthosiphon được tìm thấy trong cây Râu mèo ở Việt Nam 4 Các dẫn chất của acid caffeic: chủ yếu là các acid rosmarinic, acid cichoric …[ 8 ] Hình 2.4: Acid rosmarinic Hình 2.5: Acid cichonic Các Diterpenoid: Các orthosiphol, neo – orthosiphol, seco – orthosiphol; Các staminol, nor – staminol, nor – staminon; Các staminolacton, nor – staminolacton; Các siphonol (cây Râu mèo có hơn 50 chất thuộc nhóm này). Các thành phần khác như: betain, cholin, β - sitosterol [8] 2. Tác dụng dược lý Tác dụng lợi tiểu [5, 9, 26] − Năm 1993 những nhà khoa học đã nghiên cứu dược lý học của một số lipophilic flavonoid từ cây Râu mèo cho thấy thành phần sinensetin và hydroxyl 5, 6, 7, 4 – tetramethoxyflavon thể hiện hoạt tính lợi tiểu nhưng không có hoạt tính kháng khuẩn. Theo tác giả Ấn Độ, Râu mèo rất có ích trong đều trị bệnh thận và phù thũng.
Sự có mặt của hoạt chất orthosiphonin và muối kali trong dược liệu có tác dụng giữ cho acid uric và muối urat ở dạng tan, do đó phòng ngừa được sự lắng của muối để tạo thành sỏi ở thận. Ở Thái Lan, thí nghiệm trên những người khỏe mạnh, thì dịch chiết râu mèo có tác dụng làm tăng sự bài tiết citrat và oxalat (oxalat với hàm lượng cao có thể tăng nguy cơ hình thành sỏi thận). − Râu mèo có vị ngọt, nhạt, hơi đắng, tính mát, có tác dụng lợi tiểu, thanh nhiệt, trừ phong thấp. Theo kinh nghiệm dân gian, râu mèo được dùng làm thuốc lợi tiểu trong điều trị viêm thận, sỏi thận, sỏi mật, tê thấp, phù thũng, viêm 5 gan.
Râu mèo làm tăng lượng nước tiểu và thúc đẩy sự bài tiết urê, các chlorua và acid uric, nên có tác dụng tốt đối với các chứng rối loạn đường tiêu hóa, bệnh thấp khớp, đau lưng, đau nhức khớp xương. Ngoài ra có tác dụng tốt đối với bệnh xung huyết gan và bệnh đường ruột. Cơ chế tác dụng do sự kết hợp của glycosid với các muối kiềm. Dịch chiết bằng nước giàu hoạt chất hơn (28.[10] Tác dụng ức chế khối u [13] Theo nghiên cứu của một nhà khoa học người Nhật thì hầu hết các flavonoid và doterpenoid được tách ra từ cây Râu mèo có tác dụng độc đối với tế bào ung thư biểu mô gan chuột nhắt 26 – L5.
Tác dụng chống oxy hóa [ 8, 13, 19] Trong một khảo sát đối với một số cây thuốc ở Việt Nam cho thấy cây Râu mèo có hoạt tính chống oxy hóa mạnh. Năm 2007 và 2008 ở nước ngoài đã có những báo cáo chính thức về tác chống oxy hoá của cây Râu mèo. Gần đây đề tài [13] đã nghiên cứu tác dụng làm hạ enzym gan và bảo vệ gan trên mô hình gan chuột bị gây độc CCl4 cấp tính của cây Râu mèo. Thu được kết quả sau: Các khảo sát đã sàng lọc in vitro hoạt tính chống oxi hoá, tác dụng làm hạ men gan của 3 cao toàn phần methanol, n – butanol, EtOAc và 9 phân đoạn được tách từ cao toàn phần EtOAc đồng thời đối chiếu, so sánh với chất chuẩn silymarin kết quả cho thấy cao EtOAc có tác dụng kháng oxi hoá mạnh nhất và các phân đoạn hợp chất trong cao EtOAc có tác dụng tương hỗ lẫn nhau.
[14] Tiếp tục thử nghiệm in vivo hoạt tính chống oxi hoá, tác dụng làm hạ men gan của cao EtOAc với các nồng độ 0,1 mg/ml; 0,5 mg/ml; 1 mg/ml, so sánh với chất chuẩn silymarin kết quả cho thấy hoạt tính kháng oxi hoá, tác dụng làm hạ men gan tốt nhất ở nồng độ 1 mg/ml. [14] Một vài tác dụng khác [26] − Tác dụng: chống lão hóa do trong cây Râu mèo có chứa saponin, chất này thường tương tác với hệ cytochrom P450 tham gia vào quá trình chống lão hóa tế bào. Qua thử nghiệm bằng cách gây ngộ độc phá vỡ tế bào gan chuột cho thấy: chuột ở nhóm không uống thuốc chết hết, chuột ở nhóm uống Râu mèo đã loại được độc tố khỏi cơ thể, tế bào gan được hồi sinh. Và tác dụng lợi mật do giúp nhũ hóa lipid, nhờ đó tránh tình trạng tích tụ lipid (đây là nguyên nhân gây bệnh béo phì).
6 − Theo tài liệu Ấn Độ coi dịch hãm lá Râu mèo là thuốc điều trị đặc hiệu các bệnh: thận, bàng quang, thấp khớp. Cây Nghể ( Polygonum tomentosum Willd.) Cây Nghể thuộc họ rau răm (họ Nghể, hay họ Kiều Mạch) danh pháp khoa học là Polygonaceae. Một số cây phổ biến trong họ rau răm như: cây chút chít (Rumex), đại hoàng (Rheum), Nghể, … Đây là nhóm thực vật hai lá mầm, chứa khoảng 50 chi và 1120 loài. Họ Nghể là loài cây thân thảo, cây bụi, cây thân Hình 2.
Nghể gỗ nhỏ. Với các cơ quan sinh sản đơn tính ở trên (Polygonum tomentosum Willd.) [24] cùng một cây hay ở trên hai cây khác nhau Cây Nghể có tên khoa học là Polygonum tomentosum Willd. (hay Polygonum pulchrum Blume.), hay được biết đến với nhiều tên khác nhau: Nghể lông dày, Nghể trâu… [7, 13] Nghể là loài phân bố rộng khắp vùng nhiệt đới, cận nhiệt đới ở Châu Á, một phần ở Châu Âu. Còn ở Việt Nam, Nghể có khoảng hơn 30 loài mọc khắp các tỉnh từ đồng bằng đến trung du, miền núi và mọc thành từng đám ở ruộng, mương rạch, ao hồ, bờ sông.
Đặc điểm hình thái thực vật [5, 11] Nghể là loại cây thân thảo một năm, có thân mọc thẳng, cao 40 – 70 cm, rộng 1,5 cm, nhiều cành và có rãnh dọc.