MỞ ĐẦU 1.1 Tính cấp thiết của đề tài Sự phát triển của khoa học kỹ thuật, ngành chế biến gỗ ngày một phát triển và chiếm ưu thế trên thị trường trong và ngoài nước. Đi kèm với sự thiếu hụt về nguồn nguyên liệu 26 cũng là một vấn đề cần được giải quyết. Bên cạnh đó, thì việc đầu tư dây chuyền sản xuất hiện đại, các thiết bị máy móc tiên tiến sẽ giúp cho doanh nghiệp có thé tận dụng tốt nguyên liệu, hạn chế được việc hư hỏng chi tiết tránh gây hao phí nguyên liệu. Đồng thời phải đào tạo đội ngũ công nhân viên có trình độ kỹ thuật cao và hoàn thiện hơn nữa quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm là biện pháp thiết thực nhất.
Nắm bắt được tính hình trên và được sự phân công của Khoa Lâm Nghiệp Trường Đại Học Nông Lâm TP.HCM, dưới sự hướng dẫn tận tình của cô TS. Hoàng Thị Thanh Hương và được sự cho phép, giúp đỡ tận tình, tạo điều kiện thực tập tốt nhất của “Công ty CP Trần Đức” cho tôi được thực hiện đề tài “Khảo sát quy trình công nghệ sản xuất COFFEE TABLE tại Công ty CP Trần Đức” dé tìm hiểu và làm rõ các vấn đề ở khâu sản xuất đánh giá được tỉ lệ lợi dụng gỗ và tỉ lệ khuyết tật tìm hiểu nguyên nhân đồng thời đưa ra các giải pháp để đóng góp vào việc cải thiện quy trình sản xuất phục vụ cho việc phát triển của công ty.2 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 1.1 Y nghĩa khoa hoc Sự phát triển của ngành chế biến gỗ và van đề về nguồn nguyên liệu dang khan hiểm dan thì tiết kiệm nguyên liệu, tiết kiệm chi phí trong sản xuất, khắc phục những hạn chế trong quá trình sản xuất và tìm ra giải pháp nâng cao quy trình sản xuất là vấn đề luôn được luôn được các doanh nghiệp quan tâm dé cải tiến, tỷ lệ lợi dụng gỗ cao đồng nghĩa với hiệu quả kinh tế cao và ngược lại, đồng thời tỉ lệ lợi dụng gỗ cao còn phản ánh chất lượng của nguyên liệu đầu vào, phương pháp gia công và trình độ quản lí của công ty.2 Y nghĩa thực tiễn Việc tìm hiểu và đánh giá quy trình công nghệ sản xuất đồ gỗ tại Công ty Cp Trần Đức nói chung và sản phẩm khảo sát nói riêng giúp ta nắm vững được quy trình công nghệ và cách bé trí dây chuyền sản xuất hợp lí cũng như một số van dé còn tồn tại ở công ty. Từ đó làm cơ sở đề đề xuất các ý kiến của bản thân để góp phần hoàn thiện hơn quy trình công nghệ, dây chuyền sản xuất, nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất và chất lượng sản phẩm.3 Giới hạn phạm vi nghiên cứu đề tài Phạm vi khảo sát của đề tài là xác định phần giới hạn liên quan đến đối tượng khảo sát và nội dung khảo sát. s* Đối tượng khảo sát: đối tượng khảo sát được giới hạn trong phạm vi là đồ gỗ nội that, cụ thé trong đề tai nay là khảo sát san phim COFFEE TABLE.
s* Phạm vi khảo sát: — Nguyên liệu: Phạm vi khảo sát chỉ tìm hiểu về nguyên liệu gỗ và các loại ván công nghiệp thông dụng. — Thiết kế mô hình sản phẩm: sử dụng phần mềm vẽ Autocad dé xây dựng mô hình san phâm 3D, xuất bản vẽ 2D phục vụ sản xuất sản phẩm hàng loạt. — Công nghệ sản xuất: Tìm hiểu máy móc, thiết bị, quy trình công nghệ gia công chi tiết, bán thành phẩm và thành phẩm. — Tỷ lệ khuyết tật và lợi dụng gỗ: Từ nguồn nguyên liệu đầu vào thu thập số liệu về kích thước của các chi tiết qua từng máy dé tính tỷ lệ khuyết tật va tỉ lệ lợi dụng gỗ.
Chương 2: TONG QUAN 2.1 Tong quan về sản xuất và xuất khẩu sản phẩm gỗ Chế biến và xuất khẩu gỗ ngày càng phát triển với sự chủ động về công nghệ và nguyên liệu. Việt Nam đang hướng tới là quốc gia sản xuất và xuất khẩu đồ gỗ triển vọng nhất thế giới. Nhưng bên cạnh đó, dai dịch COVID — 19 vừa qua đã để lại một số tác động nhất định đến ngành gỗ của Việt Nam. Nguyên nhân là do sự gián đoạn trong chuỗi cung ứng và sự chậm lại của thương mại toàn cầu.
Ngành gỗ đã phải đối mặt với nhiều khó khăn. Sự kiện chính trị giữa Nga và Ukraine gần đây cũng đã ảnh hưởng không nhỏ đến ngành gỗ. Tuy nhiên, vượt lên những khó khăn trong đại dịch, ngành gỗ vẫn cho thấy sự tăng trưởng vượt bậc điểm qua một vài con số ấn tượng của thị trường ngành gỗ trong báo cáo thị trường ngành gỗ Việt Nam 2022. Dù trải qua đại dịch COVID-19, ngành gỗ Việt Nam vẫn đạt được những kết quả xuất khẩu ấn tượng.
Theo Hiệp hội Gỗ và Lâm sản, xuất khẩu gỗ và sản phâm 26 đạt 5,48 tỷ đô trong 4 tháng đầu 2022. So với cùng ky năm 2021, con số này đã tăng 4,9%. Riêng trong tháng 4, kim ngạch xuất khẩu đạt 1,5 tỷ USD, tăng 7,3% so với cùng kỳ năm ngoái. Về thị trường xuất khâu, Việt Nam xuất khẩu gỗ và lâm sản sang hơn 140 quốc gia.
Tính đến 3/2022, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Trung Quốc là ba nước nhập khâu gỗ và sản phâm gỗ lớn nhất của Việt Nam. Hoa Ky và Châu ÂU chiếm 80% trong thị phần xuất khâu của Việt Nam. Xét về thị trường trong khối EU, Đức từ lâu đã trở thành thị trường xuất khẩu trọng điểm. Xét về thị trường Bi, kim ngạch xuất khẩu đạt 13 triệu USD.
Tuy con số này khá nhỏ nhưng đã tăng trưởng với tốc độ khá nhanh, ở mức 40,4%. Kim ngạch xuất khâu gỗ và sản phẩm gỗ của Việt Nam sang thị trường Trung Quốc: Tháng 5/2022 ước đạt 181 triệu USD - tăng 21,1% so với tháng 5/2021. 5 tháng đầu năm 2022, ước đạt 722,1 triệu USD — tăng 5,3% so với cùng kỳ năm 2021. Tỷ trọng các mặt hàng xuất khâu sang Trung Quốc trong 4 tháng đầu năm 2022: Dăm gỗ là mặt hàng xuất khâu chính đạt 454.6 triệu USD — tăng 5,4% so với cùng kỳ năm 2021, chiếm 84,2% tông kim ngạch xuất khẩu gỗ.
Mặt hàng gỗ, ván và ván sàn đạt 67,5 triệu USD — tăng 0,9% so với cùng kỳ năm 2021, chiếm 12,5% tổng kim ngạch xuất khâu gỗ. Đồ nội thất gỗ dat 15,1 triệu USD — giảm 46,8% so với cùng kỳ năm 2021. Hầu hết các mặt hàng trong cơ câu mặt hàng đồ nội thất gỗ xuất khâu sang thị trường Trung Quốc đều giảm mạnh, dẫn đầu về kim ngạch xuất khẩu là mặt hàng đồ nội thất phòng khách và phòng ăn, tiếp theo đồ nội thất văn phòng, ghế khung gỗ. Kim ngạch xuất khâu gỗ và sản pham gỗ của Việt Nam sang thị trường Hoa Ki: kim ngạch xuất khẩu gỗ và sản pham gỗ vào thị trường Hoa Kỳ của Việt Nam ước đạt 3,3 tỷ USD, tăng 5% so với cùng kỳ năm 2021, chiếm 60% tổng kim ngạch xuất khâu lâm sản của Việt Nam.
Đồ nội thất gỗ là mặt hàng xuất khẩu chính dat 2,2 tỷ USD - tăng 2,7% so với cùng kỳ năm 2021 với tỷ trọng chiếm 68,52% tổng kim ngạch xuất khâu. Mặt hàng gỗ, ván và ván sàn đạt gần 500 triệu USD - tăng 24,7% so với cùng kỳ năm 2021, chiếm 12,5% tổng kim ngạch xuất khẩu gỗ. Dam gỗ đạt 459 triệu USD - tăng 3,4% so với cùng kỳ 2021. Đối với thị trường nội thất trong nước, người tiêu dùng Việt Nam ưa chuộng lựa chọn đồ gỗ hơn.
Theo thống kê, nhu cầu tiêu thụ đồ gỗ bình quân của Việt Nam hiện là hơn 21 USD/người/năm. Nhìn chung, ngành gỗ của Việt Nam có lợi thế về sản xuất so với các nước xuất khẩu đô gỗ lớn khác trên thé giới. Các nhà sản xuất đồ gỗ đã đầu tư vào công nghệ và cải thiện truyền thông sản phẩm. Ho bắt kịp yêu cầu xuất khẩu và tích cực truyền thông các sản phẩm của mình qua nhiều kênh.
Các sản phẩm nội thất phòng ngủ của Việt Nam đang từng bước được cải thiện dé đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng toàn cầu (cụ thé là Hoa Kỳ, Pháp, Anh) và đang chiếm lĩnh thị phần lớn trên thị trường này. Hiện tại nhu cầu gỗ và đồ nội thất trên thị trường thế giới vẫn tiếp tục tăng và doanh nghiệp ngành gỗ, đặc biệt là ngành nội that cũng đã kín đơn hàng đến hết quý III/2022, thậm chí là hết năm 2022. Với đà tăng trưởng này, mục tiêu ngành gỗ đạt 16 tỷ USD trong năm 2022 có khả năng thực hiện được. Các báo cáo cho thấy rằng ngành gỗ đang chứng kiến một quy luật chung.
Đó là càng phát triển, rủi ro càng lớn. Việt Nam hiện đang đứng thứ hai châu Á về xuất khẩu gỗ và sản pham gỗ. Nhưng bên cạnh những tăng trưởng đáng ké, ngành gỗ cũng gặp phải một số khó khăn. Giá nguyên liệu gỗ rừng trồng trong nước đã tăng lên khoảng 5%.
Dịch Covid-19 đã làm gián đoạn nguồn cung cấp sắt, thép, nhôm, hóa chat, bao bì, vật tư từ các vùng phía Nam dẫn đến sự gia tăng về chi phí. Các nhà san xuất đồ nội thất cũng đang phải chịu áp lực do các hoạt động quân sự gần đây của Nga ở Ukraine đã đây chi phí vận chuyền và giá gỗ lên cao. Bên cạnh đó, sự thiếu hụt tau vận tai, container và chi phí vận tải biển tăng cao cũng được dự báo rằng sẽ gây ra gián đoạn chuỗi cung ứng. Các doanh nghiệp cần phải thường xuyên kiểm tra chất lượng sản phẩm dé đảm bao chất lượng.
Đặc biệt là chú trọng sản phẩm trong quá trình vận chuyên đường biển dài ngày. Bên cạnh đó, thiết lập các mô hình liên kết và sản xuất theo chuỗi. Các doanh nghiệp cũng nên cố gang thích nghi với những hoàn cảnh thay đồi. Từ việc giữ chân nhân viên dé có được nguồn nguyên liệu ồn định đến việc sử dụng máy móc và thiết bị hiện dai để giảm sự phụ thuộc vào nguồn nhân lực, tăng chất lượng và cải thiện dịch vụ đóng gói và giao hang, có rất nhiều điều cần xem xét.
Ngoài ra, các doanh nghiệp cũng cần tô chức lại các vùng sản xuất tập trung gan với các khu chế biến lâm sản và dịch vụ thương mại dé cắt giảm chi phí vận chuyền, đồng thời nâng cao giá trị sản pham gỗ. Việc đóng gói các sản phẩm céng kénh, chiếm không gian container và tăng chi phí vận chuyền, sẽ được thay thé bằng phương pháp đóng gói từng phan tử một cách độc lập, cho phép linh hoạt hơn trong việc ứng phó với các tình huống hoặc gia Cước cao. Trong giai đoạn 2022-2030, mục tiêu hướng đến phát triển ngành công nghiệp chế biến gỗ bền vững, hiệu quả.