Mở đầu, cung cấp tổng quan về đề tài. PHẦN II: Tổng quan vấn đề nghiên cứu, trình bày các vấn đề cơ sở về TACN, nhu cầu và khó khăn trong học tập TACN PHẦN III: Phương pháp nghiên cứu, trình bày các vấn đề về đối tƣợng khảo sát, phƣơng pháp, quy trình thu thập và xử lý số liệu. PHẦN IV: Kết quả nghiên cứu, trình bày kết quả thu đƣợc thông qua các phƣơng pháp lấy số liệu và thảo luận. PHẦN V: Kết luận và kiến nghị, trình bày những kết quả chính mà đề tài đạt đƣợc, những kiến nghị đề xuất nhằm nâng cao chất lƣợng giảng dạy và học tập môn TACN Dƣợc, những hạn chế và hƣớng phát triển của đề tài, và kết luận chung về đề tài.
TÀI LIỆU THAM KHẢO PHỤ LỤC 2 CHƢƠNG I. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tổng quan về tiếng Anh chuyên ngành 1. Tiếng Anh chuyên ngành (TACN) Tiếng Anh chuyên ngành (ESP) nổi lên từ những năm 1960 khi con ngƣời trở nên ngày càng nhận thức đƣợc rằng các khóa học tiếng Anh tổng quát không đáp ứng đƣợc nhu cầu của ngƣời học.
Khi tiếng Anh tiếp tục thống trị trong hầu hết các ngành nhƣ công nghệ, kinh doanh, truyền thông, giáo dục v., nhu cầu về TACN ngày càng tăng nhanh, đặc biệt là ở các nƣớc không thuộc Châu Âu - nơi tiếng Anh đƣợc sử dụng chủ yếu. TACN đƣợc định nghĩa theo nhiều cách khác nhau bởi các nhà nghiên cứu. Theo Strevens (1988) [39], TACN là một khái niệm ám chỉ việc dạy hay học tiếng Anh nhằm phục vụ cho một nghề nghiệp hay chuyên ngành nhất định nào đó và nó đƣợc biết đến là một phƣơng pháp giảng dạy tiếng Anh nhƣ là một ngoại ngữ hoặc ngôn ngữ thứ hai lấy ngƣời học làm trung tâm. Nó nhằm đáp ứng những nhu cầu của ngƣời học ở độ tuổi trƣởng thành - những ngƣời cần học ngoại ngữ để áp dụng nó cho những lĩnh vực cụ thể nhƣ khoa học, kỹ thuật, y học, học thuật hay thậm chí là giải trí.
Theo Hutchinson và Walters (1987) [19], TACN là một phƣơng thức giảng dạy ngôn ngữ trong đó tất cả các quyết định về nội dung và phƣơng pháp giảng dạy đều dựa trên mục đích học tập của ngƣời học. Điều này có nghĩa rằng TACN không liên quan tới một phƣơng pháp dạy ngôn ngữ hay một tài liệu cụ thể nào. Việc dạy TACN cần phải dựa trên nguyên tắc đầu tiên là giảng dạy và học tập hiệu quả. Robinson (1980) lập luận rằng một khóa học ESP nên tập trung vào sự thành công của ngƣời học, đó là họ có thể vận dụng tốt trong các tình huống nghề nghiệp hoặc học tập.
Ngoài ra, khóa học nên đƣợc thiết kế riêng và dựa trên phân tích một cách chi tiết các nhu cầu của ngƣời học. Sự nhấn mạnh của Robinson đối với nhu cầu của ngƣời học là phù hợp với Hutchinson & Waters. Theo Strevens (1988) [39], TACN có những đặc điểm sau đây: 3 - Đƣợc thiết kế để đáp ứng những nhu cầu cụ thể của ngƣời học; - Liên quan giữa nội dung (chuyên đề hay chủ đề) với những nguyên tắc và hoạt động cụ thể; - Tập trung vào ngôn ngữ phù hợp với ngữ pháp, từ vựng, ngữ nghĩa, v., và với phân tích diễn ngôn; - Tƣơng phản với tiếng Anh phổ thông (General English); - Có thể hạn chế các kỹ năng học tập (ví dụ: chỉ tập trung vào kỹ năng đọc hoặc viết); - Có thể không cần dạy theo một phƣơng pháp đã vạch sẵn. Dudley - Evans và M.
John (1998) cũng có chung những ý kiến nhƣ trên, tuy nhiên, hai ông có bổ sung thêm một số đặc điểm. Họ đã mô phỏng rằng: - TACN có thể liên quan tới hoặc đƣợc thiết kế cho những môn học cụ thể; - TACN có thể sử dụng những phƣơng pháp giảng dạy khác với phƣơng pháp giảng dạy tiếng Anh phổ thông trong những tình huống cụ thể; - TACN thƣờng đƣợc thiết kế cho những ngƣời học ở độ tuổi trƣởng thành, có thể là học sinh phổ thông, cũng có thể là những ngƣời học ở cấp độ lớn hơn nhƣ sinh viên đại học hay những ngƣời học để phục vụ mục đích nghề nghiệp. Tuy nhiên, nó cũng có thể đƣợc dạy cho học sinh ở trình độ thấp hơn. - TACN thƣờng đƣợc dạy cho những ngƣời học ở trình độ cao hoặc trình độ trung cấp.
Hầu hết các khóa học TACN đều yêu cầu ngƣời học phải có những hiểu biết cơ bản về hệ thống ngôn ngữ. Trong một vài trƣờng hợp cụ thể, nó có thể đƣợc dạy cho những ngƣời mới học. Từ những định nghĩa trên, chúng ta có thể thấy rằng TACN có thể đƣợc dạy cho tất cả các đối tƣợng ngƣời học ở tất cả các độ tuổi và bất kể trình độ ngôn ngữ nào. Nó không có một nguyên tắc cụ thể nào cho tất cả các trƣờng hợp.
Từ việc xem xét những đặc điểm kể trên của TACN, chúng ta có thể thấy mức độ đa dạng của TACN và những định nghĩa về nó ngày càng trở nên phức tạp. Tiếng Anh cho ngành y tế Tiếng Anh đã trở thành ngôn ngữ quốc tế trong ngành y học [25], [12]. Do đó, những ngƣời có ý định tham gia vào lĩnh vực y tế hoặc chăm sóc sức khỏe “cần tiếng Anh nhƣ là một phƣơng tiện để làm việc một cách hiệu quả và tiếp tục nâng cao chuyên môn của họ” [21]. Do đó, việc sử dụng tiếng Anh trong ngành y dƣợc không chỉ giới hạn ở những quốc gia có tiếng Anh là tiếng mẹ đẻ.
Nó có thể là ngôn ngữ trung lập đƣợc sử dụng bởi các bác sĩ và dƣợc sĩ không phải là ngƣời bản xứ trong các bệnh viện ở các nƣớc không nói tiếng Anh. Tiếng Anh cho ngành y tế (EMP - ENGLISH FOR MEDICAL PURPOSES) xuất hiện vào năm 1960 [26], là một phần của ESP [28], [10], [2], [18]. Maher định nghĩa tiếng Anh cho mục đích y học là “dạy tiếng Anh cho bác sĩ, y tá và nhân viên khác trong ngành y tế” [26], sau đó tiếp tục giải thích rằng EMP: Đƣợc thiết kế để đáp ứng nhu cầu tiếng Anh chuyên ngành của ngƣời học về y tế (ví dụ: y tá, nha sĩ); Tập trung vào các đề tài và chủ đề cụ thể cho lĩnh vực y tế; Tập trung vào các kỹ năng có phạm vi bị hạn chế mà ngƣời học có thể yêu cầu (ví dụ: để viết một bài báo y khoa, chuẩn bị một cuộc nói chuyện cho một cuộc họp y tế). Phân loại Hutchinson và Walters (1987) đã sử dụng “cây ELT” (Tree of ELT) để mô phỏng cho mối quan hệ của tiếng Anh chuyên ngành với tiếng Anh phổ thông [19].
Theo các tác giả này, TACN đƣợc chia thành ba nhánh chính: Tiếng Anh cho những ngành khoa học và kỹ thuật (EST), tiếng Anh cho thƣơng mại và kinh tế (EBE) và tiếng Anh cho ngành khoa học xã hội (ESS). Mỗi nhánh này phân chia thành hai nhóm: tiếng Anh học thuật (EAP) và tiếng Anh nghề nghiệp (EOP/EVP). Một ví dụ về tiếng Anh học thuật thuộc nhánh TACN thƣơng mại, kinh tế là “TACN cho sinh viên y khoa”; ví dụ cho tiếng Anh nghề nghiệp thuộc nhánh TACN thƣơng mại, kinh tế là “TACN cho quân đội”. Cây ELT rút gọn (Wen, 1996) David Carter (1983) chia TACN thành ba nhóm: tiếng Anh nhƣ một ngôn ngữ thu hẹp, tiếng Anh cho mục đích học thuật và nghề nghiệp, tiếng Anh cho những chủ đề cụ thể.
Nhóm tiếng Anh thứ hai của Carter đƣợc Robert Jordan (1997) phân chia thành hai nhóm TACN chính là EOP và EAP. Sau đó, nhóm EAP lại đƣợc phân thành tiếng Anh cho mục đích học thuật chuyên ngành (ESAP) và tiếng Anh cho mục đích học thuật nói chung (EGAP). Cây phả hệ TACN của Pauline Robinson lại phân chia nó thành EOP và EAP/EEP (tiếng Anh cho mục đích giáo dục). Mặc dù có sự khác nhau trong việc phân chia các nhóm TACN giữa Carter, Robinson, Jordan cũng nhƣ Hutchinson & Walters, nhƣng có hai nhóm EAP và EOP trong lĩnh vực TACN là đƣợc công nhận một cách rộng rãi trong lĩnh vực giảng dạy TACN ngày nay.
Hutchinson và Walters (1987) chỉ ra rằng, không có sự phân chia rạch ròi giữa tiếng Anh học thuật (EAP) và tiếng Anh nghề nghiệp (EOP) [19]. “Ngƣời ta có thể vừa làm việc, vừa học tập cùng lúc; do vậy mà trong nhiều trƣờng hợp, ngôn ngữ đã đƣợc học ở mức độ trung cấp trong một môi trƣờng học tập có thể sẽ đƣợc sử dụng sau này khi ngƣời học tiến đến cấp độ cao hơn hoặc khi họ tham gia làm việc”. Có lẽ điều này giúp giải thich lí do Carter phân loại EAP và EOP đều cùng 6 một loại TACN. Điều đó ám chỉ rằng mục đích cuối cùng của cả EAP và EOP đều giống nhau, đó là phục vụ cho công việc.
Tuy nhiên, mặc dù mục đích cuối cùng là giống nhau, nhƣng phƣơng thức để đạt đƣợc mục tiêu cuối cùng này lại hoàn toàn khác nhau. Tình hình dạy và học TACN tại Việt Nam Trong những năm gần đây, giảng dạy tiếng Anh, đặc biệt là tiếng Anh chuyên ngành tại các trƣờng đại học Việt Nam đã nhận đƣợc rất nhiều sự quan tâm của sinh viên, giáo viên và các cơ quan liên quan vì hiệu quả giảng dạy không cao. Điều này dẫn đến thực tế là sinh viên sau khi tốt nghiệp không đáp ứng yêu cầu tiếng Anh của nhà tuyển dụng, do đó tỷ lệ thất nghiệp trở nên nghiêm trọng hơn. Đây là một tình huống đáng báo động vì tiếng Anh đang trở thành ngôn ngữ giao tiếp gần nhƣ không thể thiếu của giới trẻ ngày nay.
Trong xu hƣớng hiện đại hóa và hội nhập, tiếng Anh là ngôn ngữ đƣợc sử dụng rộng rãi thứ ba trên thế giới với 335 triệu ngƣời dùng làm ngôn ngữ mẹ đẻ và 110 quốc gia sử dụng ngôn ngữ chính thức. Ngoài ra, các lớp học tiếng Anh thu hút số lƣợng học viên lớn nhất trên thế giới với 1,5 tỷ ngƣời theo học. Nó đóng một vai trò ngày càng quan trọng trong sự phát triển của khoa học, công nghệ, chính trị, kinh tế, văn hóa và quan hệ quốc tế. Do đó, nhu cầu dạy và học tiếng Anh, đặc biệt là tiếng Anh chuyên ngành đang tăng lên, không chỉ cho mục đích giao tiếp.
Các khóa học tiếng Anh chuyên ngành đang nhận đƣợc rất nhiều sự chú ý, đặc biệt là trong các trƣờng đại học. Tuy nhiên, trên thực tế, việc dạy và học tiếng Anh chuyên ngành ở Việt Nam vẫn không hiệu quả và không đáp ứng đƣợc nhu cầu của xã hội.