Chương 1: Cơ sở lí thuyết Chương 2: Đặc điểm cấu trúc hình thức của các tổ hợp cú của trẻ mẫu giáo nhỡ. Chương 3: Đặc điểm nội dung ngữ nghĩa của các tổ hợp cú của trẻ mẫu giáo nhỡ. Chương 4: Đặc điểm ngữ dụng của các tổ hợp cú của trẻ mẫu giáo nhỡ. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÍ THUYẾT 1.
Cơ sở tâm lí học 1. Đặc điểm phát triển tư duy của trẻ mẫu giáo nhỡ (4 – 5 tuổi) Đầu tuổi mẫu giáo, trẻ đã biết tư duy bằng hình ảnh trong đầu, nhưng do biểu tượng còn nghèo nàn và tư duy mới chuyển từ bình diện bên ngoài vào bình diện bên trong nên trẻ mới chỉ giải được một số bài toán đơn giản theo kiểu tư duy trực quan – hình tượng. Cùng với sự phát triển của hoạt động vui chơi và sự phát triển các hoạt động khác (như vẽ, nặn, kể chuyện, xây dựng, đi chơi, đi dạo…), vốn biểu tượng của trẻ mẫu giáo nhỡ được làm giàu lên thêm nhiều, chức năng kí hiệu phát triển mạnh, lòng ham hiểu biết và hứng thú nhận thức tăng rõ rệt. Đó là điều kiện thuận lợi cho sự phát triển tư duy trực quan – hình tượng và đây cũng là thời điểm kiểu tư duy đó phát triển mạnh mẽ nhất.
Theo những nghiên cứu của Piaget [23], Vưgôtxki [37], ở độ tuổi này, trẻ bắt đầu đề ra cho mình những bài toán nhận thức, tìm tòi cách giải thích những hiện tượng mà mình thấy được. Trẻ thường “thực nghiệm”, chăm chú quan sát các hiện tượng và suy nghĩ về các hiện tượng để rút ra kinh nghiệm. Tất nhiên những kết luận đó còn ngây ngô, ngộ nghĩnh, nhiêu khi còn gây ngạc nhiên đối với người lớn. Bên cạnh đó, trẻ MGN không chỉ sử dụng những kinh nghiệm đã có mà còn không ngừng biến đổi những kinh nghiệm ấy để thu nhận những kết quả mới hơn.
Các em có nhu cầu khám phá các mối quan hệ phụ thuộc giữa các đồ vật, các hiện tượng và luôn tìm tòi cách giải thích những hiện tượng mà mình thấy. Tuy nhiên, vì chưa có khả năng tư duy trừu tượng nên trẻ MGN mới chỉ dựa vào những biểu tượng đã có, những kinh nghiệm đã trải qua để suy luận về những vấn đề mới. Vì vậy, trong nhiều trường hợp, chúng mới chỉ dừng ở các hiện tượng bên ngoài mà chưa đi sâu vào bản chất bên trong. Ví dụ, một trẻ 4 – 5 tuổi, sau kì nghỉ ở biển về đã kể cho cô và các bạn nghe: “Ở biển nhé/ con được tắm mát cả ngày// mà nước biển bị đổ muối vào// xong uống mấy ngụm là bị ho cô ạ// mà không biết ai đổ muối vào biển thế? 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Cũng do đó, trẻ dễ bị lẫn lộn thuộc tính bản chất và không bản chất của sự vật và hiện tượng xung quanh.
Ví dụ, trẻ vào bệnh viện, cứ thấy ai mặc áo trắng thì đều gọi là “bác sĩ”. Nếu theo đà suy luận này thì tư duy của trẻ MGN sẽ có nguy cơ biến thành kiểu tư duy theo lối kinh nghiệm chủ nghĩa. Tư duy trực quan – hình tượng tỏ ra có hiệu quả khi giải những bài toán trong đó thuộc tính bản chất là những thuộc tính có thể hình dung được. Ví dụ, trẻ có thể hình dung được rằng quả bóng lăn trên đường nhựa nhanh hơn là lăn trên mặt đá gồ ghề.
Tuy nhiên, những thuộc tính bản chất của sự vật, hiện tượng thường lại kín đáo, ẩn bên trong, khó mà hình dung được. Chúng có thể biểu hiện bằng từ hoặc những kí hiệu khác. Bởi thế, trẻ mẫu giáo nhỡ nói chung chưa có khả năng tìm ra những thuộc tính bản chất bằng con đường tư duy trừu tượng. Do đó, trong ngôn ngữ giải thích của trẻ, trẻ mới chỉ nhận xét được những dấu hiệu bên ngoài của sự vật, hiện tượng.
Cũng ở tuổi MGN, trẻ bắt đầu hiểu được mình là người như thế nào, mình có những đặc điểm nào (về hình dáng, phẩm chất…), mọi người xung quanh đối xử với mình như thế nào…Đó chính là sự tự ý thức (ý thức bản ngã). Ý thức bản ngã được thể hiện rõ nhất trong sự tự đánh giá về thành công hay thất bại của mình, đánh giá về khả năng của bản thân. Đồng thời, trẻ biết đánh giá người khác (trên cơ sở so sánh mình với những người khác). Đây chính là cơ sở để trẻ tự noi gương những người tốt, việc tốt.
Ví dụ: Em mà là Gấu// thì em chỉ ăn kẹo buổi sáng thôi//chứ ăn tối// đau răng là phải. Ý thức bản ngã được xác định rõ ràng giúp trẻ điều chỉnh hành vi của mình sao cho phù hợp với những quy tắc, chuẩn mực của xã hội và thực hiện các các hành động một cách chủ tâm hơn. Bởi vậy, các quá trình tâm lí mang tính chủ định rõ rệt. Khi ý thức bản ngã của trẻ phát triển thì không những nhân cách của trẻ được khẳng định mà ngôn ngữ giao tiếp của trẻ cũng thay đổi theo.
Ngôn ngữ ở đây sẽ giúp trẻ đặt kế hoạch để tìm cách giải quyết và nghe những lời giải thích, hướng dẫn của người lớn. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Hoạt động ngôn ngữ và đặc điểm phát triển ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo nhỡ. Hoạt động ngôn ngữ là sự trao đổi giữa con người với nhau.
Đây là dạng hoạt động đặc biệt của con người bởi cùng lúc hai dạng quá trình tâm lí và ngôn ngữ cùng được thực hiện. Hoạt động ngôn ngữ gồm hai quá trình: tạo sinh lời nói (speech production) ở người nói và tiếp nhận lời nói (speech perception) ở người nghe. Sự lĩnh hội ngôn ngữ là một quá trình phát triển ngôn ngữ của con người. Ở trẻ mầm non, quá trình phát triển này chịu sự chi phối mạnh mẽ từ yếu tố văn hóa gia đình, văn hóa xã hội và văn hóa trường mầm non.
Ngôn ngữ phát triển không chỉ giúp trẻ hiểu được mọi người xung quanh, lĩnh hội tri thức nhân loại mà còn giúp trẻ trao đổi tư tưởng, tình cảm, thái độ… của mình khi giao tiếp. Chất lượng phát triển ngôn ngữ ở trẻ thể hiện khả năng sử dụng những hiểu biết và kĩ năng ngôn ngữ như một phương tiện để giải quyết các tình huống giao tiếp cá nhân. Nội dung ngôn ngữ nói của trẻ rất đa dạng, phản ánh các hiểu biết của trẻ về thế giới xung quanh, từ thế giới tự nhiên đến các mối quan hệ xã hội, từ các quan hệ trong thế giới thực cho đến các quan hệ trong thế giới tưởng tượng, trong hoạt động chơi của trẻ. Bước sang tuổi mẫu giáo, đặc biệt là thời kì trẻ từ 4- 5 tuổi, trẻ được tham gia nhiều hình thức hoạt động như tham gia trò chơi đóng vai theo chủ đề, múa, hát, đọc thơ, kể chuyện… Do đó, ngôn ngữ của trẻ phát triển mạnh cả về ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp và ngôn ngữ mạch lạc, giúp cho trẻ đạt được kết quả cao trong hoạt động.
Đồng thời, sự phát triển ngôn ngữ sẽ giúp trẻ ý thức được quá trình tâm lí của mình, biến các quá trình tâm lí thành các chức năng tâm lí bậc cao. Hơn nữa, khi ngôn ngữ phát triển thì trẻ dễ dàng chuyển tư duy từ bình diện bên ngoài vào bình diện bên trong (tức là chuyển từ kiểu tư duy trực quan- hành động thành kiểu tư duy trực quan – hình tượng). 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Nghiên cứu về đặc điểm phát triển ngôn ngữ của trẻ MGN, các tác giả như Lưu Thị Lan, Nguyễn Xuân Khoa, Hoàng Thị Oanh… đều có những đánh giá chung: - Về ngữ âm: Do môi trường giao tiếp ngày càng rộng mở, tai nghe được rèn luyện thường xuyên, cơ quan phát âm đã phát triển hoàn chỉnh nên trẻ có khả năng tri giác âm thanh nhanh nhạy và khả năng phát âm mềm dẻo, tự nhiên. Đến độ tuổi này, nếu trẻ còn phát âm ngọng thì nguyên nhân có thể là do bộ máy phát âm bị tổn thương hoặc do yếu tố môi trường (do người lớn quá nuông chiều, do tiếng địa phương…).
Trẻ 4 – 5 tuổi cũng đã biết sử dụng ngữ điệu phù hợp để giao tiếp. Ví dụ, khi trẻ kể lại các câu chuyện (các tác phẩm văn học), trẻ điều chỉnh giọng và ngữ điệu kể theo hoàn cảnh, hoạt động, tính chất của từng nhân vật, từng sự kiện. Trong đó, với các nhân vật hiền lành, trẻ thường thể hiện bằng ngữ điệu nhẹ nhàng nhưng với các nhân vật gian ác thì trẻ sử dụng ngay ngữ điệu mạnh.Tuy nhiên có một số trẻ khi diễn đạt vẫn còn ê a, kéo dài giọng. -Về vốn từ: Vốn từ tăng nhanh với sự đa dạng của các từ loại: danh từ, động từ, tính từ, phó từ, số từ, đại từ, quan hệ từ… Trẻ luôn có như cầu tìm hiểu ý nghĩa và nguồn của từ.
Do vậy ở độ tuổi này, trẻ thường giải thích: “Con của con bò gọi là con bê vì nó kêu “bê bê” cô ạ”. Rõ ràng, sự lĩnh hội ngôn ngữ được quyết định bởi sự tích cực của đứa trẻ với ngôn ngữ. Khi trẻ chủ động giao tiếp, chủ động tìm hiểu các hiện tượng ngôn ngữ thì trẻ sẽ hiểu được từ ngữ và nắm được ngữ pháp. - Về ngữ pháp: Quá trình tiếp nhận ngữ pháp tiếng mẹ đẻ của trẻ là quá trình không có ý thức (khác với việc học ngữ pháp ở Tiểu học).
Do trẻ điều kiện sống và giáo dục tốt nên việc sử dụng ngữ pháp tiếng mẹ đẻ diễn ra rất tự nhiên. Khi trẻ 4 – 5 tuổi, trẻ không còn dùng câu 1 từ, câu cụm từ nữa mà trẻ có xu hướng sử dụng nhiều dạng câu đơn mở rộng thành phần như mở rộng thành phần trạng ngữ, bổ ngữ. Đồng thời, dạng câu phức tạp cũng tăng dần ở theo kinh nghiệm ngôn ngữ của trẻ như câu phức, câu ghép. Tuy nhiên câu nói của trẻ thường không đầy đủ, thiếu quan hệ từ hoặc chưa đầy đủ thành 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com phần hay trẻ thường sử dụng các từ “xong”, “xong rồi” tách các mệnh đề trong câu.
Ví dụ: (2) Ban nãy con tắm// xong con chơi với búp bê. - Về ngôn ngữ mạch lạc: Lời nói mạch lạc thể hiện một trình độ phát triển cao không chỉ về phương diện ngôn ngữ mà cả phương diện tư duy.Mukhina, quá trình hình thành và phát triển ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo trải qua ba giai đoạn: dạng ngôn ngữ được hình thành sớm nhất là ngôn ngữ tình huống rồi đến sự xuất hiện của ngôn ngữ ngữ cảnh và ngôn ngữ giải thích.