CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI 1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới 1. Tình hình nghiên cứu về ngôn ngữ học tri nhận Tổng quan về ngôn ngữ học tri nhận Có thể nói, một trong những công trình đầu tiên giới thiệu về NNHTN và làm cho nó được chính thức thừa nhận như là một ngành khoa học độc lập đó là công trình Metaphores We Live By do Lakoff và Johnson (1980) nghiên cứu và công bố, tái bản vào năm 2003.
Công trình này cung cấp cho chúng ta những tri thức ban đầu nhưng rất quan trọng của NNHTN, đặc biệt là lý thuyết về ẩn dụ ý niệm, đã đặt nền tảng cho các nghiên cứu về sau như ý niệm, cấu trúc của ý niệm, các loại ẩn dụ ý niệm, nhân cách hóa, hoán dụ ý niệm, bản chất của cấu trúc ẩn dụ ý niệm, cơ sở của cấu trúc ẩn dụ ý niệm v. Tiếp sau công trình này thì có các tác giả Langacker (1987) với các công trình Foundations of Cognitive Grammar Cuốn 1 và 2 trình bày các nội dung lý thuyết về ngữ pháp học tri nhận cái mà cũng đã đặt nền tảng cho những công trình về sau này. Trong đó ông đã chỉ ra rằng, nguyên nhân cơ bản làm xuất hiện các cấu trúc ngữ pháp là các quá trình tri nhận. Về sau đó có nhiều tác giả khác bắt đầu phát triển và nghiên cứu các vấn đề tổng quan về NNHTN, trong số đó tiêu biểu có Croft và Cruse (2004) với Cognitive Linguistics; Evans và Green (2006) với Cognitive Linguistics: An Introduction hay Geeraerts và Cuyckens (2007) với The Oxford Handbook of Cognitive Linguistics v.
Croft và Cruse (2004; tr.1-4) cho rằng, NNHTN là một ngành học nghiên cứu về ngôn ngữ bắt đầu xuất hiện từ những năm 1970 và trở nên phổ biến từ những năm 1980 với rất nhiều những công trình nghiên cứu có liên quan, đầu tiên là về ngữ nghĩa học, cú pháp học và từ vựng học; về sau còn có thêm thụ đắc ngôn ngữ, ngữ âm học và ngôn ngữ học lịch sử. Evans và Green (2006; tr.5) khi trình bày các nghiên cứu tổng quan về NNHTN cũng cho rằng, một trong những lý do quan trọng tại sao chúng ta lại nghiên cứu về NNHTN là vì chúng ta cho rằng, ngôn ngữ chính là những mô hình tư duy. Vì thế, theo quan điểm của NNHTN, nghiên cứu ngôn ngữ chính là nghiên cứu các mô hình ý niệm hoá. Điểm khác biệt quan trọng nhất của NNHTN so với 8 các ngành nghiên cứu ngôn ngữ khác đó là NNHTN thừa nhận rằng ngôn ngữ phản ánh các thuộc tính cơ bản, cụ thể và các nét khu biệt trong sắp xếp của tư duy con người.
Cũng nghiên cứu về những vấn đề cơ bản nhất, tổng quát nhất về NNHTN, Geeraerts và Cuyckens (2007; tr. 3) đã kết luận rằng, NNHTN gắn chặt với khả năng tri nhận phổ quát của con người. NNHTN đảm nhận một nhiệm vụ quan trọng là tiến hành phân tích các cơ sở ý niệm và kinh nghiệm luận của các phạm trù ngôn ngữ học: các cấu trúc ngôn ngữ hình thức được nghiên cứu không phải vì tính tự trị của chúng mà là vì sự phản ánh các cấu trúc ý niệm phổ quát, các nguyên lý của phạm trù hoá, cơ chế xử lý thông tin và các tác động đến từ môi trường và kinh nghiệm luận. Vì lý do đó, NNHTN thường quan tâm nghiên cứu các chủ đề bao gồm: đặc điểm cấu trúc hoá của quá trình phạm trù hoá ngôn ngữ (như là tính nguyên mẫu, sự đa nghĩa của từ, các mô hình tri nhận, các hình ảnh tinh thần và ẩn dụ); nguyên tắc hành chức của cấu trúc ngôn ngữ học (như là tính điển dạng và tính tự nhiên); sự phân giới ý niệm giữa cú pháp và ngữ nghĩa học; các điều kiện về mặt kinh nghiệm luận và ngữ dụng học của sử dụng ngôn ngữ; và mối quan hệ giữa ngôn ngữ và tư duy.
Ngoài các tác giả trên đây còn có nhiều tác giả khác cũng nghiên cứu tổng quan về NNHTN trong số đó có Ibanez và Pena (2005) với Cognitive Linguistics: Internal Dynamics and Interdisciplinary Interaction, Geeraerts (2006) với Cognitive Linguistics: Basic Readings, Ibanez, Dirven, Kristiansen và Achrad (2006) với Cognitive Linguistics: Current Applications and Future Perspectives, Ungerer và Schmid (2006) với An Introduction to Cognitive Linguistics hay Tabakowska, Choinski và Wiraszka (2010) với Cognitive Linguistics in Action From Theory to Application and Back. Bên cạnh các công trình trên đây còn có nhiều bài báo khoa học khác nghiên cứu về NNHTN mà tiêu biểu trong số đó là các bài báo của Ibanez, Sandra và Cervel (2005) Cognitive Linguistics: Internal Dynamics and Interdisciplinary Interaction và tuyển tập các bài báo khoa học do Ibanez, Dirven, Kristiansen và Achrad (2006) biên tập, Cognitive Linguistics: Current Applications and Future Perspectives cũng đưa ra các quan điểm cụ thể về NNHTN, về nội hàm cũng như là về các đặc điểm của nó, về những đóng góp mới mà NNHTN có thể mang lại cho ngôn ngữ học. Đồng thời với tuyển tập này còn có tuyển tập do Geeraerts (2006) thực hiện, Cognitive Linguistics: Basic Readings, đã cung cấp những công trình 9 nghiên cứu mang tính giới thiệu về các khuynh hướng đang phát triển của NNHTN cũng như là tương lai của nó. Những nghiên cứu cụ thể về ngôn ngữ học tri nhận Bên cạnh các công trình nghiên cứu tổng quan trên đây còn có các công trình khác đi sâu vào nghiên cứu cụ thể, chi tiết các vấn đề có liên quan quan đến NNHTN trong đó đáng chú ý là công trình của Fauconnier (1994) Mental Spaces trình bày lý thuyết về không gian tinh thần, một lý thuyết có vai trò quan trọng trong ngành khoa học NNHTN.
Thuyết không gian tinh thần là lý thuyết ngữ nghĩa học tri nhận quy định vị trí của ngữ nghĩa trong những biểu tượng tinh thần của người nói và khảo sát những cấu trúc ngôn ngữ như là những nhân tố kích thích người nói sắp xếp các yếu tố trong cấu trúc có liên quan. Lý thuyết về không gian tinh thần đã cung cấp cho chúng ta nhiều hiểu biết mới trong NNHTN, giúp soi rọi nhiều hiện tượng ngôn ngữ, trong đó tiêu biểu có phương thức quy chiếu, tính điều kiện, ẩn dụ và tính hợp tố. Mô hình không gian tinh thần là một công cụ lý thuyết đắc lực của NNHTN, nó cung cấp cho chúng ta một cách giải thích đúc kết từ việc quan sát các hiện tượng đa dạng, bao gồm cả những hiện tượng hình thức lẫn những hiện tượng ngữ nghĩa. Các công trình nghiên cứu về các mô hình tri nhận ADYN và HDYN, chẳng hạn như các tác giả Dirven và Pörings (2002) với Metaphor and Metonymy in Comparison and Contrast và Barcelona (2003) với Metaphor and Metonymy At The Crossroads: A Cognitive Perspective.
Các công trình này đã đi sâu nghiên cứu nội hàm của các mô hình tri nhận ADYN và HDYN; điểm giống nhau và khác nhau giữa ADYN và HDYN và đáng chú ý hơn nữa là sự tương tác của chúng trên thực tế. Barcelona cho rằng sự liên hệ và tương tác giữa hai cơ chế tri nhận chủ yếu theo lý thuyết của ngôn ngữ học tri nhận, ADYN và HDYN, là hết sức phức tạp và trong nhiều trường hợp là không có ranh giới rõ ràng. Ông cũng nhấn mạnh thêm rằng, cái khái niệm trung gian ẩn - hoán dụ sẽ khắc phục được một phần khó khăn gây ra bởi sự giới hạn trong nghiên cứu từng loại phạm trù tương ứng. Thay vì lúc nào cũng tách biệt giữa ADYN và HDYN, chúng ta cũng có thể suy nghĩ về một phổ AD-HD ý niệm với các trường hợp mờ nghĩa hay có nghĩa không thật sự rõ ràng chen vào trong đó.
Còn ADYN và HDYN thì có thể được xem như các phạm trù điển dạng ở hai đầu của phổ. Ẩn - hoán dụ sẽ làm rõ dãy mờ ở chính giữa phổ; chúng có thể nằm ở gần đầu ADYN hay HDYN hơn của phổ. Dirven và Pörings giới thiệu các công trình nghiên cứu của nhiều tác giả khác nhau trong đó tập trung 10 đi sâu làm rõ sự khác biệt giữa hai mô hình tri nhận ADYN và HDYN và mối tương tác giữa chúng; trên cơ sở đó đề xuất các mô hình tương tác cụ thể của ADYN và HDYN. Các công trình nghiên cứu về chủ nghĩa kinh nghiệm và nghiệm thân cơ thể người cũng có một vị trí quan trọng trong ngành khoa học NNHTN.
Trong số đó, phải kể đến công trình đầu tiên của Lakoff và Johnson (1999), Philosophy In The Flesh: The Embodied Mind And Its Challenge To Western Thought đã cho rằng, tất cả các phép ẩn dụ trong hệ thống ẩn dụ mà chúng ta đang có đều thể hiện một hiện tượng phổ biến: mỗi một kinh nghiệm là một sự nghiệm thân trong hầu như tất cả các hành vi hay nhận thức của chúng ta, thông qua tương tác tối đa với môi trường sống tự nhiên bằng các bộ phận cơ thể của sự nhận thức (mắt, tai, mũi, lưỡi, da v. Dựa trên cơ sở của sự trải nghiệm, nhất là sự trải nghiệm từ cơ thể người với thế giới chung quanh, các ý nghĩa được tạo nên và quyết định phương thức con người hiểu biết thế giới; như vậy, cơ sở tri nhận của con người phải được hiểu qua tính nghiệm thân. Cùng quan điểm này với Lakoff và Johnson còn có các tác giả Evans và Green (2006; tr.157) khi cả hai đều có đồng quan điểm rằng, cấu trúc ý niệm mang tính nghiệm thân: bản chất của sự cấu thành ý niệm xuất phát từ kinh nghiệm nghiệm thân, do vậy, sự trải nghiệm của cơ thể chính là một trong những yếu tố tạo nên cấu trúc ý niệm, gắn liền và không thể tách rời được với các cấu trúc ý niệm. Trong một mô hình tri nhận, các ý niệm sơ đồ hình ảnh là điển hình cho các trường hợp mà kinh nghiệm nghiệm thân đã sinh ra các ý niệm ngữ nghĩa.
Nói cách khác, tri thức về sự hiểu biết của con người được hình thành thông qua trung gian là các BPCTN. Bên cạnh các công trình mang tính tổng quan như trên còn có thể kể đến tuyển tập các bài báo khoa học được biên tập và giới thiệu bởi Geeraerts, Dirven và Taylor (2007) “Body, Language and Mind - Volume 1: Embodiment” trình bày những luận điểm khác nhau về mối quan hệ giữa ngôn ngữ, tư duy và văn hóa trong đó đã cung cấp nhiều kiến thức và các kiến giải cụ thể liên quan đến sự nghiệm thân, cơ sở kinh nghiệm luận của các ý niệm ngôn ngữ, nguồn gốc lịch sử của chủ nghĩa kinh nghiệm luận hay thảo luận sâu về các quan điểm liên quan tới mối quan hệ giữa cơ thể, tư duy và văn hóa.