phần mở đầu về đối tượng và phạm vi nghiên cứu của ching tôi là dựa vào một số tài liệu đã nghiên cứu trước về lĩnh vực này thì nhận thấy phạm vi nghiên cứu nghĩa nói chung là rất đa dạng, phức tạp vì trong cuộc sống hàng ngày chúng ta thường được nghe hoặc gặp các tình huống đặt ra là: “Từ này có nghĩa gì? Hiện tượng đó là thé nào?” hay rộng hơn nghĩa từ vựng chúng ta còn thay “Câu chuyện đó ngụ ý là gì?”. Tất cả mọi sự vật hiện tượng kế cả tự nhiên hay xã hội cũng đều mang ý nghĩa nhất định. Sau khi chúng ta nhận được câu trả lời, hoặc lời giải thích thích đáng, điều đó sẽ làm sáng tỏ nghĩa của nó. Tóm lại chúng ta có thê hiểu là chúng ta cần lời giải thích hay giải đáp một vấn đề nào đó một cách rõ ràng nhất chính là đi tìm nghĩa của sự vật hiện tượng ay.
Thực tế ba câu hỏi đặt ra ở trên cần câu trả lời thuộc ba phạm vi tri thức khác nhau. Trả lời cho câu thứ nhất thuộc phạm vi nghĩa từ vựng. Câu thứ hai thuộc phạm vi tri thức triết học. Còn câu thứ ba lại thuộc phạm vi nghĩa ngữ pháp.
Chỉ có câu 1 và câu 3 là đối tượng nghiên cứu của ngữ nghĩa học. Trong luận văn này chúng ta chỉ nghiên cứu hiện tượng liên quan đến câu hỏi 1 là nghĩa từ vựng của từ. Tuy nhiên, thông thường thì chúng ta chỉ có thể hiểu một cách nôm na, hoặc nghĩa thực tiễn, hoặc nghĩa cơ bản thôi, còn dưới góc độ văn hóa thì nghĩa từ vựng của từ cần được đào sâu nghiên cứu và so sánh đối chiếu theo từng tầng nghĩa, kiểu nghĩa cũng như theo từng nền văn hóa của các ngôn ngữ khác nhau. Muốn hiểu rõ hình thức tư duy và tri nhận khác nhau như thế nao thì chúng ta phải đi vào cụ thé từng ngôn ngữ.
Day là một dé tai rất khó dé có thé nêu bật nên như trong ngôn ngữ thi ca, hội họa hoặc khoa học, mà chỉ có thể dựa trên tư liệu đã có để nghiên cứu. Khi chúng ta sinh ra, các sự vật hiện tượng như “đất, nước, sông, núi” đã có rồi, van dé là chúng ta không đi tìm hiểu ai đã đặt tên cho các sự vật hiện tượng đó, hay tìm hiểu nó có nghĩa là gì mà nghiễm nhiên chúng ta chấp nhận 12 các nghĩa đó đã có sẵn trong mỗi ngôn ngữ nhưng có sự khác biệt trong việc tri nhận ở mỗi ngôn ngữ khác nhau mà thôi. Vì vậy khái niệm về nghĩa và ngữ nghĩa có thé hiểu là đi tìm và làm sáng tỏ nghĩa của từ gọi tên sự vật hiện tượng ay chứ không phải di tìm hiện tượng, sự việc ay. Xin trích dẫn ví dụ xác thực nhất trong cuốn giáo trình “Ngữ nghĩa hoc” của tac giả Lê Quang Thiêm trong việc phân biệt nghĩa của từ với sự vật như sau: “Chang hạn như xưa nay hành tinh ngoài trai đất chỉ có một Venus (Kim Tinh) duy nhất (chỉ một cái được quy chiếu) nhưng có hai tên gọi khác nhau là Sao Hôm và Sao Mai.
Chúng có nghĩa biểu hiện khác nhau. Nghiên cứu nghia của ngôn ngữ phải làm sáng tỏ những vấn đề đa dạng, phức tạp đại loại như thế. Và chung nhất suy cho cùng, có thé nói rang nhờ hiểu nghia của ngôn ngữ mà hiểu được mọi điều, diễn giải, biểu hiện được mọi điều trên thế gian này. Cụ thể đi vào nghiên cứu nghĩa từ vựng của các từ ngữ thể hiện sự vật hiện tượng tự nhiên mà ở bat kì quốc gia nao cũng có như iand, mountain, water, river.
Tương ứng trong tiêng Việt là dat, nui, nước, sông. Các tẦng nghĩa, kiểu nghĩa và nghĩa từ vựng 1. Phân biệt tang nghĩa, kiểu nghĩa và chiều kích nghĩa của từ vựng. Trước hết dé nói về nghia của từ vựng, chúng tôi đã đọc và tham khảo qua các công trình nghiên cứu của các học giả thuộc lĩnh vực ngôn ngữ thì thấy một số quan điểm về nghĩa như sau: Nguyễn Thiện Giáp quan niệm răng nghĩa của từ là một hiện tượng phức tạp, nên qui chúng theo một khái niệm thành tố đơn giản hơn như: - Nghĩa Sở chi: tức là chỉ ra mỗi quan hệ của Tir với sự vật, hiện tượng, quá trình mà Từ biểu thị.
- Nghĩa Sở biểu: Là quan hệ của Ti với Ý, tức là nêu bật được khái niệm hoặc biểu tượng mà Tir đó được biểu thị. 13 Riêng khái niệm này của Nguyễn Thiện Giáp được ứng dụng trong việc hình thành khái niệm về nghĩa của Từ rất có hiệu quả cho người sử dụng ngôn ngữ. - Nghia Sở dụng: Là quan hệ cua tir và người sử dụng ter đó. Qua đó người sử dụng có thể bộc lộ thái độ, cảm xúc của mình.
- Nghĩa kết cau: Là quan hệ của từ với những từ khác trong hệ thống. Theo quan niệm trên chúng ta thay rõ ràng dé phân biệt được nghĩa cua ti thì nghĩa sở biểu là có khả năng chỉ ra nghĩa của từ là rõ nhất. Còn như nghĩa sở dụng thì chỉ ra mối liên hệ giữa người sử dụng và từ thì không nằm trong phạm vi nghiên cứu của ngữ nghĩa học. Nó thuộc phạm vi của ngữ dung học.
Cũng với cách quan niệm như vậy thì nghia kết cấu không chỉ nghiên cứu mối quan hệ trong ban thân fừ mà còn có thé xem xét nó với các từ khác trong cùng hệ thống. Nghia kết cấu phải cùng thuộc phạm vi nghiên cứu của nghĩa từ vựng. Như vậy, chúng ta có thé thay Nguyễn Thiện Giáp phân biệt rõ ràng các yếu tố nằm trong bản thân nghĩa của tr với các yếu tố có quan hệ với nghĩa của từ. Chính điều này đã thé hiện rõ việc phân chia các thành tô nghĩa của tác giả.
Còn Đố Hữu Châu quan niệm về nghĩa từ vựng gồm ba thành phần tương ứng với ba chức năng mà bản thân từ đó đảm nhiệm: - Ý nghĩa biêu vật ứng với chức năng biéu vật. - Ý nghĩa biểu niệm tương ứng với chức năng biểu niệm. - Ý nghĩa biểu thái ứng với chức năng biéu thái. Các ý nghĩa này mang tinh chất tương đối có định, bền vững và là sự kiện thuộc cau trúc ngữ nghĩa của ngôn ngữ.
ĐI sâu vào từng loại ý nghĩa, tác giả quan niệm: - Ý nghĩa biểu vật tạo nên khi từ biểu thị sự vật, hiện tượng, đặc diém,. ngoài ngôn ngữ. - Ý nghĩa biểu niệm của từ là tập hợp của một số nghĩa chung và riêng, khái quát vả cụ thể theo một số lớp sự vật, hoạt động nhất định. - Ý nghĩa biéu thái của từ là những nhân tổ đánh giá, nhân tố cảm xúc, nhân tố thái độ,.
mà từ gợi ra cho người nói va người nghe. 14 Khách quan nhận định thì các khái niệm mà Đố Hữu Châu đưa ra có vẻ hợp lí hơn, bao quát hơn và đương nhiên có hàm ý rộng hơn. Tuy nhiên cũng còn có một van đề chưa được thể hiện rõ như quan niệm nghĩa biểu thái chính là quan niệm về nghĩa biểu niệm đối với tính từ. Hay nói cách khác, nghĩa biểu niệm của tính từ được được tác giả tách riêng thành một kiêu.
Nhìn chung, có nhiều nhà ngôn ngữ cũng thê hiện sự tong hợp về nghĩa, cuối cùng các tác giả đều có tâm niệm là làm thế nào để phân biệt được nghĩa của từ một cách đơn giản như phân biệt được nghĩa cơ bản — nghĩa không cơ bản; nghĩa đen - nghĩa bóng; nghĩa độc lập — nghĩa phụ thuộc văn cảnh;. Cách phân chia nay căn cứ vào các đặc điểm sự tô hợp các nghĩa. Tác giả Lê Quang Thiêm lại có cách nhìn nhận về nghĩa khác hơn so với các tác giả khác. Theo ông, các khái niệm trên cần phải được xác định và làm rõ một cách cụ thé bằng các thành tố nội dung và cách thức tổ chức các thành tố đó.
Tác giả chỉ ra rằng nghĩa cơ bản là nghĩa chịu sự chi phối của các quan hệ hệ hình nhiều nhất; ngoài ra còn chịu sự chi phối của các quan hệ cú đoạn. Còn nghĩa không cơ bản thì ngược lại. Trong mỗi nghĩa cơ bản thường có chứa một hoặc vài nghĩa khái quát phạm trù nằm trong nghĩa cơ bản và kèm theo một vài nghĩa loại đặc biệt do các kết hợp cú đoạn tạo ra. Sự phân biệt nghĩa đen — nghĩa bóng cũng được giải quyết trên cơ sở phân biệt các nghĩa được xác định theo quan hệ hệ hình và quan hệ cú đoạn.
Như vậy, việc xác định các loại nghĩa và các nghĩa dựa trên hai quan hệ này là khoa học, bởi nó cho phép xác định một cách khách quan nội dung của các loại nghĩa và chỉ rõ con đường hình thành của chúng. Mối quan hệ nghĩa, xét về mặt đồng đại, rất đa dạng và phức tạp. Thực tẾ, trong các từ điển giải nghĩa, chỉ các nghĩa của từ đa nghĩa có quan hệ đơn tuyến mới được phản ánh. Đối với các nghĩa được tô chức theo quan hệ đa tuyến, từ điển giải nghĩa không thé chi ra một cách cụ thé rang nghĩa phái sinh này được xuất hiện dựa trên nghĩa cơ bản hay nghĩa không cơ bản liền trước nó.
Chính điều này tạo ra ấn 15 tượng sai lạc, làm cho người đọc hiểu sai các mối quan hệ, liên hệ ngữ nghĩa vốn có trong các từ đa nghĩa. Chúng tôi xét khía cạnh của từ đa nghĩa vì trong tiếng Anh và cả trong tiếng Việt luôn luôn có các hiện tượng này. Dé chứng minh cho phan lí luận trên của tác giả chúng tôi dẫn một vi dụ về từ trong đề tài này đó là: Từ Mountain: - (nghĩa bóng) núi, đồng to VD: Everest mountain: Thể hiện nghĩa cơ bản là một ngọn núi và ngọn núi nay có tên gọi là Everest. Từ đó chúng ta có thé có nghĩa tương tự với tat cả các ngọn núi khác với nghĩa cơ bản là núi và nghĩa khu biệt là chỉ chính xác ngọn núi nào như Fuji mountain, núi Thai Sơn,.
Ngoài ra, do có quan hệ hệ hình trong từ núi thé hiện ở nghĩa bóng là một đống to, vì vậy theo quan hệ cú đoạn người ta có thé nói: mountains of gold: hàng dong vàng. Tương đồng trong tiếng Việt của từ ni có thé nghĩa khác là non, sơn, lâm (déu chỉ cảnh núi rừng). Bằng cách chứng minh cơ sở lí luận một cách có khoa học như vậy, trong thực tế sử dụng ngôn ngữ, các loại nghĩa và mối quan hệ giữa các nghĩa đều có mối liên hệ nhất định với quan hệ liên tưởng.