CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ ĐỊNH HƯỚNG NGHIÊN CỨU 1. Nghĩa của từ là một hệ thống - Cơ cấu nghĩa của từ Tín hiệu ngôn ngữ là một tín hiệu đặc biệt, nếu như giữa cái biểu hiện và cái được biểu hiện của các tín hiệu thông thường có quan hệ 1-1, tức là một hình thức chỉ biểu hiện cho một nội dung nhất định thì quan hệ giữa vỏ ngữ âm của ngôn ngữ (cái biểu hiện) với nội dung nghĩa (cái được biểu hiện) không phải là quan hệ 1-1. Một vỏ ngữ âm có thể diễn tả nhiều nội dung khác nhau. Vì thế, một từ có thể có một hoặc nhiều nghĩa khác nhau, nhưng đó không phải là một tổ chức lộn xộn.
Đối với từ đa nghĩa, các nghĩa của từ có quan hệ với nhau, được sắp xếp theo những cơ cấu, tổ chức nhất định. Mỗi nghĩa lại có các thành tố nghĩa nhỏ hơn được sắp xếp theo một trật tự nhất định. Như vậy, nghĩa của từ là một hệ thống. Xét nghĩa của từ là xác định xem từ đó có bao nhiêu nghĩa, mỗi nghĩa có bao nhiêu thành tố nhỏ hơn và tất cả chúng được sắp xếp trong quan hệ với nhau như thế nào.
Xét trong một trường từ vựng, bản thân mỗi từ đa nghĩa tạo nên một một trục ngữ nghĩa mà ở đó các nghĩa luôn tồn tại một mối liên hệ nhất định nào đó. Nói cách khác, khi xét toàn bộ thành phần nghĩa của từ đa nghĩa và mối liên hệ giữa từng nét nghĩa với những nghĩa bên trong từ và với những nghĩa của từ khác, ta có thể tập hợp thành một trường nghĩa rộng hơn, đầy đủ hơn nhiều khi xét một nghĩa nào đó của từ. Phân tích nghĩa của từ - Hiện tượng từ đa nghĩa 1. Phân tích nghĩa của từ 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Về vấn đề thành phần ngữ nghĩa của từ, đã có rất nhiều luận giải khác nhau, tùy theo cách quan niệm về nghĩa của từ: Với quan niệm nghĩa của từ là quan hệ giữa từ với cái mà nó biểu thị, Nguyễn Thiện Giáp [9] cho rằng nghĩa của từ là một đối tượng phức tạp, bao gồm một số thành tố đơn giản hơn như sau: nghĩa sở chỉ, nghĩa sở biểu, nghĩa sở dụng, nghĩa kết cấu.
Trong đó: - Nghĩa sở chỉ (referentive meaning): Là quan hệ giữa từ với đối tượng mà từ biểu hiện. Đối tượng mà từ biểu thị không phải chỉ là các sự vật mà còn là quá trình, tính chất hoặc hiện tượng thực tế nào đó; các đối tượng này có thể ngoài ngôn ngữ hoặc trong ngôn ngữ. Đối tượng mà từ biểu thị được gọi là “cái sở chỉ” của từ. - Nghĩa sở biểu (significative meaning): Là quan hệ giữa từ với biểu tượng, khái niệm.
Khái niệm hoặc biểu tượng có quan hệ với từ được gọi là “cái sở biểu”. Cái sở biểu và cái sở chỉ có quan hệ chặt chẽ với nhau, cái sở biểu là sự phản ánh của cái sở chỉ trong nhận thức của con người. Tuy nhiên, giữa chúng lại có sự khác nhau rất lớn. Mỗi cái sở biểu có thể ứng với nhiều cái sở chỉ khác nhau, tức là nó có quan hệ với cả một lớp hạng đối tượng trong thực tế.
Ngược lại, một cái sở chỉ duy nhất có thể thuộc vào những cái sở biểu khác nhau, bởi vì cùng một sự vật tùy theo đặc trưng của mình có thể tham gia vào một số lớp khác nhau. Quan hệ ngữ âm của từ với cái sở biểu, tức là nghĩa sở biểu của từ đó, trong một giai đoạn phát triển lịch sử nhất định là cái có tính chất ổn định. Vì vậy, nghĩa sở biể thuộc vào hệ thống ngôn ngữ. Nghĩa sở chỉ thể hiện ra khi sử dụng các từ trong lời nói.
Nó không có tính ổn định bởi vì bản thân mối quan hệ của từ với cái sở chỉ có thể thay đổi tùy theo hoàn cảnh nói năng cụ thể. 18 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Nghĩa sở dụng (pragmatical meaning): Là quan hệ của từ với người sử dụng (người nói, người viết, người nghe, người đọc). Người sử dụng ngôn ngữ hoàn toàn không thờ ơ đối với những từ người được dùng. Họ có thể bộc lộ thái độ chủ quan của mình đối với từ ngữ và qua đó tới cái sở biểu và sở chỉ của từ ngữ.
- Nghĩa kết cấu (structural meaning): Mỗi từ đều nằm trong một hệ thống từ vựng, có quan hệ đa dạng và phức tạp với những từ khác. Quan hệ giữa từ và những từ khác trong nghĩa sở biểu trong các ngôn ngữ đều có quan hệ với việc nhận thức hiện thực khách quan. Theo đó, mỗi từ có giá trị riêng của mình trong hệ thống nhờ quan hệ đối vị với các từ khác; quan hệ của từ với các từ khác trên trục đối vị (trục dọc) được gọi là nghĩa khu biệt hay giá trị. Ngoài ra, từ còn có quan hệ với các từ khác trên trục nối tiếp (trục ngang) để tạo ra nghĩa cú pháp hay ngữ trị của từ.
Đỗ Hữu Châu [1] lại tập trung phân tích nghĩa và các nhân tố hình thành nghĩa thông qua hình tháp nghĩa; trong đó ông đã phân biệt “nhân tố nghĩa” và “nghĩa”, đồng thời thừa nhận nghĩa của từ là một thực thể tinh thần cùng với phương diện hình thức lập thành một thể thống nhất gọi là từ. Ông cho rằng: số lượng kiểu nghĩa sẽ tăng lên tùy theo số lượng những nhân tố được phát hiện. Trong phạm vi quan sát nghĩa từ vựng, các loại nghĩa mà ông nêu ra bao gồm: nghĩa biểu vật, nghĩa biểu niệm và nghĩa biểu thái: - Nghĩa biểu vật: Sự vật, hiện tượng, đặc điểm… ngoài ngôn ngữ, được từ biểu thị tạo nên nghĩa biểu vật của từ. Nghĩa biểu vật không phải là sự vật, hiện tượng y như chúng có thực trong thực tế mà chỉ là sự phản ánh sự vật, hiện tượng… trong thực tế vào ngôn ngữ.
Vì vậy, nó có ý nghĩa khái quát. - Nghĩa biểu niệm: Là tập hợp một số nét nghĩa chung và riêng, khái quát và cụ thể theo một tổ chức, một trật tự nhất định. Giữa các nét nghĩa có một quan hệ nhất định. Tập hợp này ứng với một hoặc một số ý nghĩa biểu vật 19 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com của từ.
Tập hợp các nét nghĩa phạm trù, khái quát chung cho nhiều từ được gọi là cấu trúc biểu niệm. - Nghĩa biểu thái: Thuộc phạm vi biểu thái của từ là các nhân tố đánh giá như: to, nhỏ, mạnh, yếu…; các nhân tố cảm xúc như: dễ chịu, sợ hãi…; các nhân tố thái độ như: yêu, ghét, mến, thương… mà từ gợi ra cho người nói và người nghe. Ba thành phần ý nghĩa trên được gọi chung là nghĩa từ vựng. Ngoài ra, từ còn có nghĩa ngữ pháp ứng với chức năng ngữ pháp của từ.
Các tác giả Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến [5] thì lại cho rằng nghĩa của từ là những liên hệ phản ánh được xác lập trong nhận thức của chúng ta giữa từ với những cái mà từ chỉ ra (những cái mà nó làm tín hiệu cho). Các tác giả quan niệm, nghĩa của từ gồm những thành phần sau: nghĩa biểu vật, nghĩa biểu niệm. Ngoài hai thành phần nghĩa trên, các tác giả còn nói đến hai thành phần nghĩa khác là: nghĩa ngữ dụng, nghĩa cấu trúc. Theo đó: - Nghĩa biểu vật: Là liên hệ giữa từ với sự vật (hoặc hiện tượng, thuộc tính, hoạt động…) mà nó chỉ ra.
Bản thân sự vật, hiện tượng, thuộc tính, hoạt động đó người ta gọi là biểu vật hay cái biểu vật. - Nghĩa biểu niệm: Là liên hệ giữa từ với ý (hoặc ý nghĩa, ý niệm, nếu chúng ta không cần phân biệt nghiêm ngặt mấy tên gọi này). Cái ý đó người ta gọi là cái biểu niệm hoặc biểu niệm (sự phản ánh các thuộc tính của biểu vật vào trong ý thức của con người). - Ngoài hai thành phần này, các tác giả còn nói đến hai thành phần nghĩa khác là: + Nghĩa ngữ dụng (còn được gọi là nghĩa biểu thái, nghĩa hàm chỉ): Là mối liên hệ giữa từ với thái độ chủ quan, cảm xúc của người nói.
20 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com + Nghĩa cấu trúc: Là mối quan hệ giữa từ với từ khác trong hệ thống từ vựng, trên cả hai trục đối vị và trục ngữ đoạn. Như vậy, xét bản chất nghĩa và loại nghĩa tức là đi vào phân biệt nghĩa từ vựng và nghĩa ngữ pháp. Nghĩa từ vựng được phân thành nghĩa biểu vật (nghĩa sở chỉ) và nghĩa biểu niệm (nghĩa sở biểu). Để tiến sâu hơn một bước trong tìm hiểu các thành phần nghĩa của từ đa nghĩa, các tác giả đi sâu phân loại nghĩa trong hệ thống nghĩa của từ đa nghĩa.
Phân loại nghĩa của từ đa nghĩa Các nhà Việt ngữ học đã có những cách phân loại khác nhau đối với hệ thống nghĩa của từ đa nghĩa. Có thể kể đến một số hướng như sau: - Ở mặt lịch đại, các tác giả chia nghĩa của từ đa nghĩa thành nghĩa gốc và nghĩa phái sinh. Nghĩa gốc là nghĩa đầu tiên, nghĩa có trước, trên cơ sở nghĩa đó phái sinh ra nhiều nghĩa khác. Nghĩa phái sinh là nghĩa được hình thành trên cơ sở nghĩa gốc, trong quá trình sử dụng và sáng tạo ngôn ngữ.
- Ở mặt đồng đại, các tác giả cũng đưa ra nhiều cách giải quyết khác nhau về nghĩa của từ đa nghĩa. Có thể kể đến một số lưỡng phân như: nghĩa tự do - nghĩa hạn chế, nghĩa trực tiếp - nghĩa chuyển tiếp, nghĩa thường trực - nghĩa không thường trực [5, tr. Bên cạnh đó còn có các lưỡng phân như: nghĩa cổ - nghĩa hiện dùng, nghĩa địa phương - nghĩa toàn dân, nghĩa chính - nghĩa phụ… [1, tr. Về cơ bản, các tác giả đã phân loại hệ thống nghĩa của từ đa nghĩa theo hướng lưỡng phân nghĩa.
Điều này dẫn đến một hệ quả là: Trong trường hợp nhiều nghĩa phái sinh, nhiều nghĩa không cơ bản, nhiều nghĩa phụ thì sự phân biệt không được chỉ rõ, không được gọi tên, không xác lập cho nó một vị thế tương ứng, không có sự định loại cho bộ phận nhiều nghĩa còn lại của từ… Lưỡng phân thì không đủ thang độ để phân biệt tính đa dạng ngữ nghĩa từ 21 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com vựng [23, tr. Do đó, theo chúng tôi, phương pháp lưỡng phân không còn là một thước đo đầy đủ cho việc nghiên cứu hệ thống nghĩa của từ đa nghĩa.