đặt vấn đề, hướng nghiên cứu có nhiều điểm khác nhau nhưng hầu hết các nhà nghiên cứu đều thống nhất với nhau ở một điểm là coi tình thái là một phạm trù ngữ nghĩa - chức năng, phản ánh mối quan hệ khác nhau của nội dung thông tin miêu tả trong phát ngôn với thực tế, phản ánh thái độ, cách đánh giá của người nói đối với nội dung miêu tả trong câu, xét trong quan hệ với người nghe, với hoàn cảnh giao tiếp. Cao Xuân Hạo, người đã nêu nhiều vấn đề đáng chú ý trong nghiên cứu về tình thái, viết rằng “trong ngôn ngữ, các tình thái của phát ngôn làm thành 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com một bảng màu cực kỳ đa dạng, trong đó phần lớn có liên quan trực tiếp hay gián tiếp đến tính hiện thực, tính tất yếu và tính khả năng, nhưng dưới nhiều sắc thái khác nhau và có nhiều cách biểu hiện khác nhau. Chính do “bảng màu cực kỳ đa dạng này” mà tình thái trở thành vấn đề hết sức phức tạp trong ngôn ngữ. Các cuộc bàn luận về nội hàm của khái niệm tình thái cho đến nay vẫn còn có nhiều quan điểm chưa được thống nhất.
Với tính chất của luận văn, chúng tôi không có ý định bàn luận thêm về tính hợp lý hay phi lý của các quan điểm hiện có về khái niệm tình thái. Chúng tôi chấp nhận một quan điểm phổ biến nhất về tình thái để thuận tiện cho quá trình khảo sát. Chúng tôi đồng ý với quan điểm của hai tác giả Lê Đông và Nguyễn Văn Hiệp cho rằng: để chỉ sự đối lập Modus và Dictum thì dùng cặp thuật ngữ tình thái/ nội dung mệnh đề là hợp lý hơn cả. Vì như các tác giả cũng đã chỉ ra, cặp thuật ngữ này tỏ ra bao quát và quen thuộc nhất.
Hơn nữa dùng thuật ngữ nội dung mệnh đề một mặt cho phép ta chỉ ra tính tiềm năng của sự tình được biểu hiện, mặt khác nó không hoàn toàn trùng với cách hiểu của lôgích học. Thêm vào đó cặp thuật ngữ này tạo điều kiện cho việc cấu tạo các thuật ngữ khác như khung tình thái, nội dung mệnh đề của hành vi ngôn ngữ…Khái niệm tình thái, theo đó, nên được hiểu theo nghĩa rộng nhất như Bybee đã nói. Đó là “tất cả những gì mà người nói thực hiện cùng với toàn bộ nội dung mệnh đề” (dẫn theo 8, tr23). Nếu hiểu theo nghĩa rộng như thế thì khái niệm tình thái trong ngôn ngữ sẽ bao gồm nhiều kiểu ý nghĩa rất khác nhau.
Có thể phân thành những nhóm cơ bản sau: 1. Các ý nghĩa thể hiện mục đích phát ngôn của người nói, hay nói theo lý thuyết hành vi ngôn ngữ, kiểu mục đích tại lời mà người nói thực hiện (hỏi, ra lệnh, yêu cầu, bác bỏ, khuyên, mời …) gắn trực tiếp với chiều tương tác liên nhân của giao tiếp, với kiểu tác động của người nói đến người đối thoại. Các ý nghĩa khác nhau thể hiện sự đánh giá, thái độ, lập trường hay xúc cảm của người nói đối với nội dung thông báo về mức độ quan trọng, về 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com độ tin cậy, xem nó là điều tích cực (mong muốn) hay tiêu cực, bất ngờ, ngoài chờ đợi hay bình thường, về khả năng, tính hiện thực… 3. Ý nghĩa thuộc đối lập giữa khẳng định và phủ định đối với sự tồn tại của sự tình.
Những đặc trưng liên quan đến sự diễn tiến của sự tình, liên quan đến khung vị từ và mối quan hệ giữa chủ thể được nói đến trong câu và vị từ (thời, thể hay các ý nghĩa được thể hiện bằng vị từ tình thái…) 5. Các ý nghĩa phản ánh các đặc trưng khác của phát ngôn với ngữ cảnh, theo quan điểm, đánh giá của người nói. Chẳng hạn như đặc tính siêu ngôn ngữ, hỏi lại, sự đánh giá của người nói về mức độ hiểu biết của người nghe, thái độ, tình cảm của người nói đối với người nghe, sự đánh giá của người nói đối với các quan điểm, ý kiến khác… 1. Vấn đề phân loại các ý nghĩa thuộc phạm trù tình thái Hầu hết các công trình nghiên cứu về tình thái (những luận văn, luận án và một số bài viết trên tạp chí ngôn ngữ) đều nói tới nội hàm của phạm trù tình thái và vấn đề phân loại các ý nghĩa đó.
Có thể các tác giả gọi tên theo nhiều cách khác nhau: vấn đề phân loại tình thái, ý nghĩa bộ phận của khái niệm tình thái hay một số thế đối lập chủ yếu của tình thái trong ngôn ngữ, nhưng tựu chung lại vẫn cùng một mục đích là làm sáng rõ bức tranh nội hàm của khái niệm tình thái và phạm trù hoá chúng thành một số loại cơ bản. Bản thân khái niệm tình thái là một khái niệm rộng lớn. Mỗi phát ngôn đều mang trong mình một nghĩa tình thái nhất định nếu không muốn nói là còn có thể có nhiều nghĩa tình thái chồng chéo lên nhau, đan bện vào nhau trong chỉ một phát ngôn. Vì vậy việc làm rõ nội hàm của khái niệm tình thái đã là một vấn đề khó khăn thì việc phạm trù hoá các ý nghĩa đó lại càng khó khăn hơn.
Công việc này đòi hỏi phải có quá trình phân tích tỉ mỉ và óc bao quát để sao cho kết quả các phạm trù phải vừa rõ nghĩa lại vừa không bỏ sót các ý nghĩa bộ phận. 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.s Đoàn Thị Thu Hà, trong luận văn tốt nghiệp của mình, nêu ý kiến về vấn đề tình thái “là một phạm trù ngữ nghĩa – chức năng phản ánh mối quan hệ, thái độ, cách đánh giá của người nói đối với nội dung của phần còn lại trong câu”. Có hai loại tình thái: tình thái chủ quan và tình thái khách quan. Trong đó tình thái chủ quan là kiểu tình thái mà ngôn ngữ học đặc biệt quan tâm.
Đúng như nhiều nhà nghiên cứu đã nhận định “Các ý nghĩa tình thái nhiều khi đan bện vào nhau làm thành một phổ liên tục không dễ gì quy hoạch thành những kiểu loại những bình diện rõ ràng: “Nhiều khi một ý nghĩa lại có thể đồng thời tham gia vào nhiều đối lập, thuộc nhiều bình diện khác nhau.” “lại cũng có tình trạng là cùng dùng chung một thuật ngữ mà các tác giả khác nhau có thể hiểu theo những cách khác nhau, hay cùng một hiện tượng, cùng chấp nhận một cách phân loại mà tác giả này xếp vào kiểu loại tình thái này, tác giả khác lại xếp vào kiểu loại tình thái khác …”. (19, tr15) Theo đó, chúng ta đều biết rằng thế đối lập tình thái khách quan và tình thái chủ quan là thế đối lập vẫn thường được nhắc tới. Thế nhưng cách hiểu thế nào là tình thái khách quan và thế nào là tình thái chủ quan lại khác xa nhau.Bondarko khẳng định chỉ có hai nhóm ý nghĩa được các nhà nghiên cứu công nhận là các ý nghĩa tình thái là: - Tính khả năng, tính tất yếu, tính cần yếu. Nhóm này làm cơ sở cho tình thái khách quan.
- Sự nghi ngờ, tính không chắc chắn, giả định khả năng và tính dứt khoát. Nhóm này làm sơ sở cho tình thái chủ quan. Lyons cũng phân chia tình thái khách quan và tình thái chủ quan. Khi chú ý hơn tới tình thái chủ quan, ông cho rằng tình thái chủ quan có một phạm vi rộng lớn hơn rất nhiều so với quan điểm về tình thái chủ quan của A.
Theo ông tình thái chủ quan có thể được chia làm hai tiểu loại: tình thái nhận thức và tình thái đạo nghĩa. Tình thái nhận thức có thể 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com được hiểu là sự cam kết ở một mức độ nào đó của người nói đối với tính chân thực của điều được nói ra; tình thái đạo nghĩa biểu thị thái độ của ngưòi nói đối với hành động mà mệnh đề biểu thị chúng được xem xét theo các nội dung về tính nghĩa vụ, sự cấm đoán và sự miễn trừ. Đoàn Thị Thu Hà và Nguyễn Thị Phương Trà trong luận văn của mình đều công nhận rằng tình thái khách quan là loại tình thái của lôgích học, nó chỉ nhằm vào một số kiểu quan hệ chung nhất của phán đoán với hiện thực, mang tính chất khách quan, bản thể và xem đó như một đặc trưng nội tại của bản thân cấu trúc chủ từ - vị từ lôgích. Tình thái khách quan tách khỏi những nhân tố thuộc về thái độ tình cảm, đánh giá, mục đích, nhu cầu, ý chí của con người nói chung và của từng chủ thể phát ngôn nói riêng, còn tình thái chủ quan là tình thái trong ngôn ngữ học vì ngôn ngữ luôn gắn liền với con người, với chủ thể phát ngôn.
Đó là những thái độ về tình cảm, cách đánh giá, mong muốn, nguyện vọng, cam kết, sự tin tưởng, nghi ngờ… của người nói trong mối quan hệ với nội dung được thông báo trong câu và với thực tế. Bùi Trọng Ngoãn trong luận án Tiến sĩ cũng đồng quan điểm với hai tác giả nói trên. Theo Bùi Trọng Ngoãn khi nói tới tình thái trong ngôn ngữ là nói tới tình thái chủ quan. Bởi vì trong ngôn ngữ vai trò của người nói được đặc biệt coi trọng.
Người nói không trình bày hiện thực như nó vốn có mà trình bày theo lăng kính chủ quan của mình và theo những ý định riêng của mình. Những người nghiên cứu vừa nêu trên có khuynh hướng phân chia dứt khoát tình thái chủ quan và tình thái khách quan, dựa trên tiêu chí vai trò vị trí của người nói vào lúc nói. Theo đó họ thường nhấn mạnh tính chất chủ quan của ngôn ngữ và nhận định chỉ có tình thái chủ quan mới là tình thái trong ngôn ngữ học. Vì thế, nghiên cứu về tình thái trong ngôn ngữ tức là nghiên cứu về tình thái chủ quan.
Một số nhà nghiên cứu khác cũng công nhận có một sự đối lập giữa tình thái chủ quan và tình thái khách quan tuy nhiên dựa trên một tiêu chí 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com khác nên quan điểm về tình thái chủ quan và tình thái khách quan có phần khác biệt. Chẳng hạn, các nhà ngôn ngữ học thuộc nhóm ngữ pháp chức năng Hà Lan đã cho rằng: - Tình thái khách quan thể hiện sự đánh giá dựa trên hiểu biết của người nói về thực cách của sự tình và gồm hai tiểu loại: nhận thức và đạo nghĩa, mỗi loại đều được biểu hiện trên một thang độ, từ chắc chắn đến không thể, từ bắt buộc đến cấm đoán.