Khóa luận tốt nghiệp ngành dược khảo sát kiến thức thái độ thực hành trong điều trị của bệnh nhân đái tháo đường tại bệnh viện đa khoa trung ương cần thơ

Khóa luận tốt nghiệp ngành Dược khảo sát kiến thức, thái độ, thực hành điều trị bệnh nhân đái tháo đường tại Bệnh viện Đa khoa Trung ương Cần Thơ.

Trường đại học

Đại học Võ Trường Toản

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp đại học

2016

99
6
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN

MỞ ĐẦU. MỞ ĐẦU

1. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1. ĐẠI CƯƠNG BỆNH ĐÁI THÁO ĐƯỜNG

2.1.1. Sơ lược lịch sử nghiên cứu bệnh đái tháo đường

2.1.2. Phân loại đái tháo đường

2.1.3. Sinh bệnh học đái tháo đường

2.2. YẾU TỐ NGUY CƠ ĐÁI THÁO ĐƯỜNG

2.3. TRIỆU CHỨNG BỆNH VÀ CÁC CHỈ SỐ CẬN LÂM SÀNG TRONG PHÁT HIỆN VÀ THEO DÕI ĐIỀU TRỊ CHO BỆNH NHÂN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG

2.3.1. Triệu chứng lâm sàng

2.3.2. Các chỉ số cận lâm sàng

2.3.3. Chẩn đoán đái tháo đường

2.4. HẬU QUẢ VÀ BIẾN CHỨNG BỆNH ĐÁI THÁO ĐƯỜNG

2.4.1. Biến chứng cấp tính

2.4.2. Biến chứng mạn tính

2.5. Mục tiêu điều trị đái tháo đường

2.6. Điều trị không dùng thuốc

2.7. Thuốc điều trị đái tháo đường

2.8. MỘT SỐ CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU TRONG NƯỚC VÀ NGOÀI NƯỚC

3. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

3.2. Tiêu chuẩn chọn mẫu

3.3. Tiêu chuẩn loại trừ

3.4. Địa điểm và thời gian nghiên cứu

3.5. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.5.1. Thiết kế nghiên cứu

3.5.2. Phương pháp chọn mẫu

3.5.3. Cách tiến hành nghiên cứu

3.5.4. Các thông tin cần khảo sát

3.5.5. Phương pháp xử lý số liệu

3.6. ĐẠO ĐỨC NGHIÊN CỨU

4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN

4.1. ĐẶC ĐIỂM CHUNG CỦA DÂN SỐ THAM GIA NGHIÊN CỨU

4.1.1. Trình độ học vấn

4.1.2. Thời gian mắc bệnh

4.1.3. Bệnh đồng mắc

4.1.4. Chỉ số HbA1C

4.2. Kiến thức về bệnh đái tháo đường

4.2.1. Kiến thức về chế độ dinh dưỡng dành cho bệnh nhân đái tháo đường

4.2.2. Kiến thức về chế độ vận động dành cho bệnh nhân đái tháo đường

4.2.3. Kiến thức về tuân thủ điều trị của bệnh nhân đái tháo đường

4.2.4. Đánh giá kiến thức về bệnh đái tháo đường của bệnh nhân trong điều trị

4.3. THÁI ĐỘ CỦA BỆNH NHÂN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TRONG ĐIỀU TRỊ BỆNH

4.3.1. Thái độ của bệnh nhân về chế độ dinh dưỡng dành cho người đái tháo đường

4.3.2. Thái độ của bệnh nhân về chế độ vận động dành cho người đái tháo đường

4.3.3. Thái độ của bệnh nhân trong tuân thủ điều trị bệnh

4.3.4. Đánh giá thái độ của bệnh nhân đái tháo đường trong điều trị bệnh

4.4. THỰC HÀNH CỦA BỆNH NHÂN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TRONG ĐIỀU TRỊ BỆNH

4.4.1. Lối sống và sinh hoạt

4.4.2. Thực hiện tuân thủ trong điều trị

4.4.3. Tìm hiểu thêm thông tin về bệnh đái tháo đường

4.4.4. Đánh giá mức độ thực hành của bệnh nhân đái tháo đường trong điều trị bệnh

4.5. MỐI LIÊN QUAN GIỮA CÁC YẾU TỐ TRONG KIỂM SOÁT ĐƯỜNG HUYẾT

5. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

5.1. Hướng mở rộng của đề tài

5.2. Hạn chế của đề tài

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Phụ lục 1. DANH MỤC CÁC BẢNG

Phụ lục 2. DANH MỤC CÁC HÌNH

Phụ lục 3. DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

Tóm tắt

I. Đái tháo đường

Đái tháo đường là một bệnh lý phổ biến trên toàn cầu, đặc biệt tại Việt Nam, với tỷ lệ mắc bệnh tăng nhanh trong những năm gần đây. Bệnh được định nghĩa là một hội chứng rối loạn chuyển hóa, đặc trưng bởi tăng đường huyết do thiếu hụt insulin hoặc giảm hiệu quả của insulin. Bệnh viện Đa khoa Trung ương Cần Thơ đã tiến hành nghiên cứu để đánh giá kiến thức, thái độ và thực hành của bệnh nhân trong điều trị bệnh này. Nghiên cứu nhấn mạnh tầm quan trọng của việc giáo dục bệnh nhân để nâng cao hiểu biết và cải thiện kết quả điều trị.

1.1. Tình hình đái tháo đường trên thế giới và Việt Nam

Trên thế giới, đái tháo đường là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây tử vong, với số người mắc bệnh dự kiến tăng gấp đôi vào năm 2035. Tại Việt Nam, tỷ lệ mắc bệnh đã tăng từ 2,7% năm 2001 lên 5% năm 2008, đặc biệt tại khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long, nơi trình độ học vấn thấp và thiếu thông tin y tế. Nghiên cứu tại Bệnh viện Đa khoa Trung ương Cần Thơ cho thấy, 65% bệnh nhân không kiểm soát được đường huyết, điều này đòi hỏi các biện pháp can thiệp hiệu quả hơn.

1.2. Phân loại đái tháo đường

Đái tháo đường được chia thành hai loại chính: đái tháo đường týp 1 (phụ thuộc insulin) và đái tháo đường týp 2 (không phụ thuộc insulin). Trong đó, đái tháo đường týp 2 chiếm đa số các trường hợp, đặc trưng bởi kháng insulin và giảm tiết insulin. Nghiên cứu tại Bệnh viện Đa khoa Trung ương Cần Thơ tập trung vào bệnh nhân đái tháo đường týp 2, nhằm đánh giá kiến thức và thực hành điều trị của họ.

II. Kiến thức điều trị đái tháo đường

Kiến thức điều trị đái tháo đường là yếu tố quan trọng giúp bệnh nhân kiểm soát đường huyết và ngăn ngừa biến chứng. Nghiên cứu tại Bệnh viện Đa khoa Trung ương Cần Thơ cho thấy, điểm trung bình về kiến thức của bệnh nhân ở mức trung bình, với nhiều người thiếu hiểu biết về chế độ dinh dưỡng và vận động phù hợp. Điều này cho thấy sự cần thiết của các chương trình giáo dục bệnh nhân.

2.1. Kiến thức về chế độ dinh dưỡng

Nghiên cứu chỉ ra rằng, nhiều bệnh nhân đái tháo đường tại Bệnh viện Đa khoa Trung ương Cần Thơ thiếu kiến thức về chế độ dinh dưỡng phù hợp. Chỉ 34,3% bệnh nhân có kiến thức đầy đủ về việc lựa chọn thực phẩm và kiểm soát lượng đường trong máu. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả điều trị và nguy cơ biến chứng.

2.2. Kiến thức về chế độ vận động

Chế độ vận động là một phần không thể thiếu trong điều trị đái tháo đường. Tuy nhiên, nghiên cứu cho thấy, chỉ 28,5% bệnh nhân hiểu rõ tầm quan trọng của việc tập thể dục thường xuyên. Điều này cho thấy sự cần thiết của việc tăng cường giáo dục về lối sống lành mạnh cho bệnh nhân.

III. Thái độ điều trị đái tháo đường

Thái độ điều trị đái tháo đường của bệnh nhân đóng vai trò quan trọng trong việc tuân thủ phác đồ điều trị. Nghiên cứu tại Bệnh viện Đa khoa Trung ương Cần Thơ cho thấy, điểm trung bình về thái độ của bệnh nhân ở mức tích cực, với nhiều người sẵn sàng thay đổi lối sống để kiểm soát bệnh. Tuy nhiên, vẫn còn một số bệnh nhân chưa nhận thức đầy đủ về tầm quan trọng của việc tuân thủ điều trị.

3.1. Thái độ về chế độ dinh dưỡng

Nghiên cứu chỉ ra rằng, 65% bệnh nhân đái tháo đường tại Bệnh viện Đa khoa Trung ương Cần Thơ có thái độ tích cực về việc thay đổi chế độ ăn uống. Tuy nhiên, vẫn còn một số người chưa nhận thức được tầm quan trọng của việc kiểm soát lượng đường trong thực phẩm.

3.2. Thái độ về tuân thủ điều trị

Tuân thủ điều trị là yếu tố quyết định hiệu quả kiểm soát đái tháo đường. Nghiên cứu cho thấy, 70% bệnh nhân có thái độ tích cực trong việc tuân thủ phác đồ điều trị, nhưng vẫn cần tăng cường giáo dục để cải thiện tỷ lệ này.

IV. Thực hành điều trị đái tháo đường

Thực hành điều trị đái tháo đường là yếu tố quan trọng giúp bệnh nhân kiểm soát đường huyết và ngăn ngừa biến chứng. Nghiên cứu tại Bệnh viện Đa khoa Trung ương Cần Thơ cho thấy, điểm trung bình về thực hành của bệnh nhân ở mức trung bình, với nhiều người chưa thực hiện đầy đủ các biện pháp kiểm soát bệnh.

4.1. Thực hành lối sống và sinh hoạt

Nghiên cứu chỉ ra rằng, chỉ 40% bệnh nhân đái tháo đường tại Bệnh viện Đa khoa Trung ương Cần Thơ thực hiện đầy đủ các biện pháp kiểm soát lối sống, bao gồm chế độ ăn uống và tập thể dục. Điều này cho thấy sự cần thiết của việc tăng cường giáo dục và hỗ trợ bệnh nhân.

4.2. Thực hành tuân thủ điều trị

Tuân thủ điều trị là yếu tố quyết định hiệu quả kiểm soát đái tháo đường. Nghiên cứu cho thấy, 60% bệnh nhân tuân thủ phác đồ điều trị, nhưng vẫn cần tăng cường giáo dục để cải thiện tỷ lệ này.

V. Kết luận và kiến nghị

Nghiên cứu tại Bệnh viện Đa khoa Trung ương Cần Thơ đã chỉ ra rằng, kiến thức, thái độthực hành của bệnh nhân đái tháo đường có ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả điều trị. Để cải thiện kết quả điều trị, cần tăng cường các chương trình giáo dục bệnh nhân, nâng cao kiến thức về bệnh và thúc đẩy thái độ tích cực trong việc tuân thủ điều trị.

5.1. Hướng mở rộng của đề tài

Nghiên cứu này có thể được mở rộng bằng cách đánh giá hiệu quả của các chương trình giáo dục bệnh nhân đái tháo đường tại Bệnh viện Đa khoa Trung ương Cần Thơ, nhằm cải thiện kiến thức và thực hành điều trị.

5.2. Hạn chế của đề tài

Nghiên cứu có một số hạn chế, bao gồm mẫu nghiên cứu nhỏ và thời gian nghiên cứu ngắn. Cần thực hiện các nghiên cứu dài hạn với quy mô lớn hơn để có kết quả chính xác hơn.

12/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ “Thế kỷ 21 là thế kỷ của các bệnh Nội tiết và Rối loạn chuyển hóa” – Dự báo của các chuyên gia y tế của thập niên 90 thế kỷ XX đang trở thành hiện thực [3]. Hiện nay Việt Nam cũng như các nước khác trên thế giới phải đối mặt với gánh nặng bệnh tật kép. Trong đó đái tháo đường là một trong những bệnh phổ biến nhất trên toàn cầu, được quan tâm hàng đầu trong công tác chăm sóc sức khỏe cộng đồng. Trong vòng 20 năm, tỷ lệ người mắc đái tháo đường tăng mạnh khắp các quốc gia trên thế giới.

Theo công bố của WHO vào ngày đái tháo đường thế giới năm 2012, toàn cầu có hơn 346 triệu người mắc đái tháo đường, từ nay tới năm 2030 con số này có khả năng tăng gấp đôi nếu không có biện pháp can thiệp kịp thời [19]. Tại Việt Nam, nghiên cứu cho thấy tỷ lệ mắc đái tháo đường tăng nhanh từ 2,7% (năm 2001) lên 5% (năm 2008), trong đó có tới 65% người bệnh không biết mình mắc bệnh [3]. Do đó, mục tiêu điều trị cho bệnh nhân đái tháo đường là phải kiểm soát, duy trì nồng độ glucose máu ở mức bình thường (4,4 – 7,2 mmol/L) [51], đặc biệt điều chỉnh lại lối sống được đặt lên hàng đầu nhằm kiểm soát đường huyết bao gồm thực hiện chế độ ăn uống hợp lý, thường xuyên vận động tập thể dục và không hút thuốc lá. Cụ thể, nghiên cứu của Mc Murray và cộng sự (2002) đánh giá kết quả kiểm soát đường huyết sau khi giáo dục kiến thức bệnh đái tháo đường cho bệnh nhân đã cho thấy sự giảm đáng kể chỉ số HbA1C (từ 6,9% giảm còn 6,3%) kèm theo chất lượng cuộc sống bệnh nhân được cải thiện tốt hơn [40].

Kết quả tương tự của nhiều khảo sát bệnh nhân đái tháo đường lần lượt được thực hiện bởi Badrudin (2002), Kheir và 1 cộng sự (2011) cũng đã nhấn mạnh sự hiểu biết, thái độ đúng đắn của bệnh nhân trong tuân thủ và kiểm soát điều trị bệnh [25][36]. Tại Đồng bằng Sông Cửu Long, đa số người dân có trình độ học vấn thấp, ít cơ hội tiếp cận thông tin y tế trong việc tìm hiểu thông tin cũng như phương pháp điều trị bệnh. Bên cạnh đó, nước ta nói chung và Đồng bằng Sông Cửu Long nói riêng hiện nay có rất ít khảo sát đánh giá kiến thức – thái độ – thực hành của bệnh nhân trong điều trị đái tháo đường. Do vậy, để có cơ sở khoa học nhằm cung cấp thông tin và tìm những biện pháp can thiệp hiệu quả và tốt nhất trong kiểm soát bệnh, chúng tôi đã tiến hành thực hiện đề tài “KHẢO SÁT KIẾN THỨC – THÁI ĐỘ – THỰC HÀNH TRONG ĐIỀU TRỊ CỦA BỆNH NHÂN ĐÁI THÁO ĐƢỜNG TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TRUNG ƢƠNG CẦN THƠ”.

Với kết quả khảo sát này, không những giúp bệnh nhân và gia đình nhận thấy được vai trò quan trọng của điều chỉnh lối sống hợp lý trong điều trị bệnh đái tháo đường mà còn là một trong những cơ sở để bệnh viện cũng như các tổ chức y tế thực hiện các chương trình giáo dục cộng đồng, tìm và áp dụng những biện pháp can thiệp, nâng cao nhận thức và điều chỉnh lối sống cho bệnh nhân, góp phần cải thiện tuân thủ và kiểm soát đường huyết cũng như kiểm soát các biến chứng do nguyên nhân tăng đường huyết. 2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU Mục tiêu chung Khảo sát kiến thức – thái độ – thực hành của bệnh nhân đái tháo đường đang điều trị tại khoa Nội Tim mạch – Nội Lão học bệnh viện Đa khoa Trung ương Cần Thơ, trong khoảng thời gian 09/2015 đến 01/2016. Mục tiêu cụ thể 1. Khảo sát kiến thức – thái độ – thực hành của bệnh nhân đái tháo đường trong điều trị.

Khảo sát và đánh giá ảnh hưởng của kiến thức – thái độ – thực hành đến việc kiểm soát và điều trị bệnh đái tháo đường. Đề xuất các biện pháp nhằm nâng cao kiến thức, thái độ và sự tuân thủ điều trị của bệnh nhân đái tháo đường. 3 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. ĐẠI CƢƠNG BỆNH ĐÁI THÁO ĐƢỜNG 1.

Sơ lƣợc lịch sử nghiên cứu bệnh đái tháo đƣờng Trong các bệnh lý nội tiết, đái tháo đường là bệnh thường gặp nhất và có lịch sử nghiên cứu từ rất lâu nhưng những thành tựu nghiên cứu về bệnh chỉ có được trong vài thập kỷ gần đây. Vào những năm 1500 trước công nguyên, những mô tả sớm nhất của bệnh đái tháo đường đã được ghi trong bài viết của các học giả Hindu. Họ đã mô tả “bệnh bí ẩn gây khát nước, lượng nước tiểu bài tiết ra rất nhiều và thu hút ruồi, kiến đến” [49]. Thế kỷ thứ nhất sau công nguyên, Aretaeus đã mô tả về những đặc điểm của người bệnh đái tháo đường và đặt tên là bệnh đái tháo (diabetes) [4].

Từ thế kỷ thứ ba sau công nguyên, bệnh được ghi nhận ở Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ là một bệnh với nước tiểu ngọt và một thế kỷ sau đó, Dobson chứng minh vị ngọt là do đường [4]. Năm 1869, Langerhans tìm ra tổ chức tiểu đảo tụy, gồm 2 loại tế bào tiết insulin và glucagon. Năm 1889, Minkowski và Von Mering gây đái tháo đường thực nghiệm ở chó bị cắt bỏ tụy, đặt nên móng cho nghiên cứu đái tháo đường do tụy [8]. Năm 1921, Banting và Best cùng với cộng sự đã phân lập được insulin từ tụy [4].

Định nghĩa Theo tổ chức Y tế Thế giới, “Đái tháo đường là một hội chứng có đặc tính biểu hiện bằng sự tăng đường máu do hậu quả của việc mất hoàn toàn insulin hoặc do có liên quan đến sự suy yếu trong bài tiết hay hoạt động của insulin” [trích từ [4]]. Một định nghĩa mới về đái tháo đường của các chuyên gia thuộc Ủy ban chẩn đoán và phân loại bệnh đái tháo đường Hoa Kỳ: “Đái tháo đường là một nhóm các bệnh chuyển hóa có đặc điểm là tăng glucose máu, hậu quả của sự 4 thiếu hụt bài tiết insulin, khiếm khuyết trong hoạt động của insulin hoặc cả hai. Tăng glucose máu mạn tính thường kết hợp với sự hủy hoại, sự rối loạn chức năng của nhiều cơ quan đặc biệt là mắt, thận, thần kinh, tim và mạch máu” [7]. Theo Liên đoàn đái tháo đường quốc tế định nghĩa đái tháo đường: “Đái tháo đường là nhóm những rối loạn không đồng nhất gồm tăng đường huyết và rối loạn dung nạp glucose do thiếu insulin, do giảm tác dụng của insulin hoặc cả hai.

Đái tháo đường týp 2 đặc trưng bởi kháng insulin và thiếu tương đối insulin, một trong hai rối loạn này có thể xuất hiện ở thời điểm có triệu chứng lâm sàng bệnh đái tháo đường” [34]. Tình hình đái tháo đường trên thế giới Trong vòng 20 năm, tỷ lệ người mắc đái tháo đường tăng mạnh khắp các quốc gia, trong đó 80% người mắc đái tháo đường trên thế giới thuộc các nước có thu nhập thấp và trung bình. Số người mắc đái tháo đường dự kiến tăng từ 382 triệu người năm 2013 lên 592 triệu người vào năm 2035, trong đó có 46% người vẫn chưa được chẩn đoán mắc đái tháo đường [34]. Bệnh đái tháo đường tăng nhanh nhất ở các nước có tốc độ phát triển nhanh như Ấn Độ, Trung Quốc.

Do sự tăng lên của việc tiêu thụ thực phẩm giàu năng lượng, lối sống ít vận động và quá trình đô thị hóa nên số người bị đái tháo đường càng gia tăng trong khi độ tuổi chẩn đoán đái tháo đường giảm đi. Theo hiệp hội đái tháo đường Hoa Kỳ năm 2005, tại Mỹ có 18,2 triệu người mắc đái tháo đường týp 2 (chiếm 6,3% dân số), trong đó 13 triệu người được chẩn đoán trong khi 5,2 triệu người vẫn chưa biết đang mắc bệnh.Tỷ lệ bệnh đái tháo đường tại các nước thuộc khu vực Đông Nam Á cũng tương đối cao. Tại Philippine, kết quả điều tra quốc gia năm 2008 cho thấy tỷ lệ đái tháo đường là 7,2%, suy giảm dung nạp glucose là 6,5% và rối loạn glucose máu lúc đói là 2,1%. Tỷ lệ đái tháo đường khu vực thành thị là 8,3% và khu vực nông thôn là 5,8% [28].

Mỗi năm trên thế giới có khoảng 3 triệu người chết do đái tháo đường. Năm 2007, số người tử vong do đái tháo đường gây ra trên thế giới là 3,8 triệu 5 người (chiếm 6% tỷ lệ tử vong toàn cầu), tương đương HIV/AIDS [45]. Theo thống kê, đái tháo đường là nguyên nhân gây tử vong đứng hàng thứ 4 trên thế giới, gây giảm tuổi thọ trung bình từ 5 đến 10 năm, là nguyên nhân gây mù loà và suy thận giai đoạn cuối, nguyên nhân hàng đầu của cắt cụt chi không do chấn thương [6][54]. Cứ 6 giây lại có một người chết do nguyên nhân đái tháo đường và các biến chứng.

Chi phí cho điều trị đái tháo đường của toàn thế giới năm 2013 ước tính 548 tỷ đô la Mỹ, dự báo tăng lên 627 tỷ vào năm 2035 [34]. Tình hình đái tháo đường ở Việt Nam Ở Việt Nam, bệnh đái tháo đường đang có chiều hướng gia tăng theo thời gian và sự phát triển kinh tế cũng như đô thị hóa. Năm 2012, tỷ lệ mắc đái tháo đường và nhiều bệnh mạn tính khác ngày một gia tăng. Các chuyên gia tin rằng hiện có ít nhất hai triệu người bị bệnh đái tháo đường, mặc dù 60% trong số đó vẫn chưa được chẩn đoán và không biết mình bị bệnh.

Từ năm 1982 – 2000, số người mắc đái tháo đường chỉ chiếm 1% đến 2% dân số ở các thành phố lớn như Hà Nội, Huế và Thành phố Hồ Chí Minh, nhưng đến năm 2002 tỷ lệ mắc đã tăng lên 4 – 5% dân số. Số liệu gần đây từ thành phố Hồ Chí Minh cho thấy trong năm 2008 có gần 7% người trưởng thành ở độ tuổi 30 – 69 bị bệnh đái tháo đường [19]. Năm 2013, trong kết quả công bố của “Dự án phòng chống Đái tháo đường Quốc gia” do Bệnh viện Nội tiết Trung ương thực hiện năm 2012 trên 11.000 người, tuổi 30 – 69 tại 6 vùng gồm: Miền núi phía Bắc, Đồng bằng sông Hồng, Duyên hải miền Trung, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ đã cho thấy tỷ lệ mắc bệnh đái tháo đường là 5,7% (tỷ lệ mắc cao nhất ở Tây Nam Bộ là 7,2%, thấp nhất là Tây Nguyên 3,8%). Cũng theo nghiên cứu này, những người trên 45 tuổi có nguy cơ mắc đái tháo đường týp 2 cao gấp 4 lần những người dưới 45 tuổi.

Người bị huyết áp cao cũng có nguy cơ mắc bệnh cao hơn gấp 3 lần. Như vậy, tỷ lệ mắc đái tháo đường ở Việt Nam 10 năm qua đã tăng gấp đôi.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Khảo sát kiến thức, thái độ và thực hành điều trị đái tháo đường tại Bệnh viện Đa khoa Trung ương Cần Thơ là một nghiên cứu quan trọng nhằm đánh giá hiểu biết, quan điểm và cách thức điều trị bệnh đái tháo đường của các nhân viên y tế và bệnh nhân tại bệnh viện này. Tài liệu này cung cấp cái nhìn sâu sắc về thực trạng quản lý bệnh đái tháo đường, từ đó đề xuất các giải pháp cải thiện hiệu quả điều trị. Đây là nguồn tham khảo hữu ích cho các chuyên gia y tế, nhà nghiên cứu và bệnh nhân quan tâm đến lĩnh vực này.

Để mở rộng kiến thức về các phương pháp điều trị và nghiên cứu y khoa, bạn có thể tham khảo thêm Khóa luận tốt nghiệp bác sĩ y khoa nghiên cứu đặc điểm rối loạn lipid máu ở bệnh nhân hội chứng mạch vành cấp tại bệnh viện đa khoa thành phố cần thơ năm 2021, Khóa luận tốt nghiệp ngành dược khảo sát tình hình điều trị rối loạn lipid máu tại khoa nội tim mạch bệnh viện đa khoa trung ương cần thơ, và Luận văn thạc sĩ y học nghiên cứu tình trạng rối loạn chức năng thận nặng thêm ở bệnh nhân suy tim điều trị nội trú tại bệnh viện đa khoa trung ương thái nguyên. Những tài liệu này sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các vấn đề sức khỏe liên quan và cách tiếp cận điều trị hiệu quả.