ĐẶT VẤN ĐỀ “Thế kỷ 21 là thế kỷ của các bệnh Nội tiết và Rối loạn chuyển hóa” – Dự báo của các chuyên gia y tế của thập niên 90 thế kỷ XX đang trở thành hiện thực [3]. Hiện nay Việt Nam cũng như các nước khác trên thế giới phải đối mặt với gánh nặng bệnh tật kép. Trong đó đái tháo đường là một trong những bệnh phổ biến nhất trên toàn cầu, được quan tâm hàng đầu trong công tác chăm sóc sức khỏe cộng đồng. Trong vòng 20 năm, tỷ lệ người mắc đái tháo đường tăng mạnh khắp các quốc gia trên thế giới.
Theo công bố của WHO vào ngày đái tháo đường thế giới năm 2012, toàn cầu có hơn 346 triệu người mắc đái tháo đường, từ nay tới năm 2030 con số này có khả năng tăng gấp đôi nếu không có biện pháp can thiệp kịp thời [19]. Tại Việt Nam, nghiên cứu cho thấy tỷ lệ mắc đái tháo đường tăng nhanh từ 2,7% (năm 2001) lên 5% (năm 2008), trong đó có tới 65% người bệnh không biết mình mắc bệnh [3]. Do đó, mục tiêu điều trị cho bệnh nhân đái tháo đường là phải kiểm soát, duy trì nồng độ glucose máu ở mức bình thường (4,4 – 7,2 mmol/L) [51], đặc biệt điều chỉnh lại lối sống được đặt lên hàng đầu nhằm kiểm soát đường huyết bao gồm thực hiện chế độ ăn uống hợp lý, thường xuyên vận động tập thể dục và không hút thuốc lá. Cụ thể, nghiên cứu của Mc Murray và cộng sự (2002) đánh giá kết quả kiểm soát đường huyết sau khi giáo dục kiến thức bệnh đái tháo đường cho bệnh nhân đã cho thấy sự giảm đáng kể chỉ số HbA1C (từ 6,9% giảm còn 6,3%) kèm theo chất lượng cuộc sống bệnh nhân được cải thiện tốt hơn [40].
Kết quả tương tự của nhiều khảo sát bệnh nhân đái tháo đường lần lượt được thực hiện bởi Badrudin (2002), Kheir và 1 cộng sự (2011) cũng đã nhấn mạnh sự hiểu biết, thái độ đúng đắn của bệnh nhân trong tuân thủ và kiểm soát điều trị bệnh [25][36]. Tại Đồng bằng Sông Cửu Long, đa số người dân có trình độ học vấn thấp, ít cơ hội tiếp cận thông tin y tế trong việc tìm hiểu thông tin cũng như phương pháp điều trị bệnh. Bên cạnh đó, nước ta nói chung và Đồng bằng Sông Cửu Long nói riêng hiện nay có rất ít khảo sát đánh giá kiến thức – thái độ – thực hành của bệnh nhân trong điều trị đái tháo đường. Do vậy, để có cơ sở khoa học nhằm cung cấp thông tin và tìm những biện pháp can thiệp hiệu quả và tốt nhất trong kiểm soát bệnh, chúng tôi đã tiến hành thực hiện đề tài “KHẢO SÁT KIẾN THỨC – THÁI ĐỘ – THỰC HÀNH TRONG ĐIỀU TRỊ CỦA BỆNH NHÂN ĐÁI THÁO ĐƢỜNG TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TRUNG ƢƠNG CẦN THƠ”.
Với kết quả khảo sát này, không những giúp bệnh nhân và gia đình nhận thấy được vai trò quan trọng của điều chỉnh lối sống hợp lý trong điều trị bệnh đái tháo đường mà còn là một trong những cơ sở để bệnh viện cũng như các tổ chức y tế thực hiện các chương trình giáo dục cộng đồng, tìm và áp dụng những biện pháp can thiệp, nâng cao nhận thức và điều chỉnh lối sống cho bệnh nhân, góp phần cải thiện tuân thủ và kiểm soát đường huyết cũng như kiểm soát các biến chứng do nguyên nhân tăng đường huyết. 2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU Mục tiêu chung Khảo sát kiến thức – thái độ – thực hành của bệnh nhân đái tháo đường đang điều trị tại khoa Nội Tim mạch – Nội Lão học bệnh viện Đa khoa Trung ương Cần Thơ, trong khoảng thời gian 09/2015 đến 01/2016. Mục tiêu cụ thể 1. Khảo sát kiến thức – thái độ – thực hành của bệnh nhân đái tháo đường trong điều trị.
Khảo sát và đánh giá ảnh hưởng của kiến thức – thái độ – thực hành đến việc kiểm soát và điều trị bệnh đái tháo đường. Đề xuất các biện pháp nhằm nâng cao kiến thức, thái độ và sự tuân thủ điều trị của bệnh nhân đái tháo đường. 3 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. ĐẠI CƢƠNG BỆNH ĐÁI THÁO ĐƢỜNG 1.
Sơ lƣợc lịch sử nghiên cứu bệnh đái tháo đƣờng Trong các bệnh lý nội tiết, đái tháo đường là bệnh thường gặp nhất và có lịch sử nghiên cứu từ rất lâu nhưng những thành tựu nghiên cứu về bệnh chỉ có được trong vài thập kỷ gần đây. Vào những năm 1500 trước công nguyên, những mô tả sớm nhất của bệnh đái tháo đường đã được ghi trong bài viết của các học giả Hindu. Họ đã mô tả “bệnh bí ẩn gây khát nước, lượng nước tiểu bài tiết ra rất nhiều và thu hút ruồi, kiến đến” [49]. Thế kỷ thứ nhất sau công nguyên, Aretaeus đã mô tả về những đặc điểm của người bệnh đái tháo đường và đặt tên là bệnh đái tháo (diabetes) [4].
Từ thế kỷ thứ ba sau công nguyên, bệnh được ghi nhận ở Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ là một bệnh với nước tiểu ngọt và một thế kỷ sau đó, Dobson chứng minh vị ngọt là do đường [4]. Năm 1869, Langerhans tìm ra tổ chức tiểu đảo tụy, gồm 2 loại tế bào tiết insulin và glucagon. Năm 1889, Minkowski và Von Mering gây đái tháo đường thực nghiệm ở chó bị cắt bỏ tụy, đặt nên móng cho nghiên cứu đái tháo đường do tụy [8]. Năm 1921, Banting và Best cùng với cộng sự đã phân lập được insulin từ tụy [4].
Định nghĩa Theo tổ chức Y tế Thế giới, “Đái tháo đường là một hội chứng có đặc tính biểu hiện bằng sự tăng đường máu do hậu quả của việc mất hoàn toàn insulin hoặc do có liên quan đến sự suy yếu trong bài tiết hay hoạt động của insulin” [trích từ [4]]. Một định nghĩa mới về đái tháo đường của các chuyên gia thuộc Ủy ban chẩn đoán và phân loại bệnh đái tháo đường Hoa Kỳ: “Đái tháo đường là một nhóm các bệnh chuyển hóa có đặc điểm là tăng glucose máu, hậu quả của sự 4 thiếu hụt bài tiết insulin, khiếm khuyết trong hoạt động của insulin hoặc cả hai. Tăng glucose máu mạn tính thường kết hợp với sự hủy hoại, sự rối loạn chức năng của nhiều cơ quan đặc biệt là mắt, thận, thần kinh, tim và mạch máu” [7]. Theo Liên đoàn đái tháo đường quốc tế định nghĩa đái tháo đường: “Đái tháo đường là nhóm những rối loạn không đồng nhất gồm tăng đường huyết và rối loạn dung nạp glucose do thiếu insulin, do giảm tác dụng của insulin hoặc cả hai.
Đái tháo đường týp 2 đặc trưng bởi kháng insulin và thiếu tương đối insulin, một trong hai rối loạn này có thể xuất hiện ở thời điểm có triệu chứng lâm sàng bệnh đái tháo đường” [34]. Tình hình đái tháo đường trên thế giới Trong vòng 20 năm, tỷ lệ người mắc đái tháo đường tăng mạnh khắp các quốc gia, trong đó 80% người mắc đái tháo đường trên thế giới thuộc các nước có thu nhập thấp và trung bình. Số người mắc đái tháo đường dự kiến tăng từ 382 triệu người năm 2013 lên 592 triệu người vào năm 2035, trong đó có 46% người vẫn chưa được chẩn đoán mắc đái tháo đường [34]. Bệnh đái tháo đường tăng nhanh nhất ở các nước có tốc độ phát triển nhanh như Ấn Độ, Trung Quốc.
Do sự tăng lên của việc tiêu thụ thực phẩm giàu năng lượng, lối sống ít vận động và quá trình đô thị hóa nên số người bị đái tháo đường càng gia tăng trong khi độ tuổi chẩn đoán đái tháo đường giảm đi. Theo hiệp hội đái tháo đường Hoa Kỳ năm 2005, tại Mỹ có 18,2 triệu người mắc đái tháo đường týp 2 (chiếm 6,3% dân số), trong đó 13 triệu người được chẩn đoán trong khi 5,2 triệu người vẫn chưa biết đang mắc bệnh.Tỷ lệ bệnh đái tháo đường tại các nước thuộc khu vực Đông Nam Á cũng tương đối cao. Tại Philippine, kết quả điều tra quốc gia năm 2008 cho thấy tỷ lệ đái tháo đường là 7,2%, suy giảm dung nạp glucose là 6,5% và rối loạn glucose máu lúc đói là 2,1%. Tỷ lệ đái tháo đường khu vực thành thị là 8,3% và khu vực nông thôn là 5,8% [28].
Mỗi năm trên thế giới có khoảng 3 triệu người chết do đái tháo đường. Năm 2007, số người tử vong do đái tháo đường gây ra trên thế giới là 3,8 triệu 5 người (chiếm 6% tỷ lệ tử vong toàn cầu), tương đương HIV/AIDS [45]. Theo thống kê, đái tháo đường là nguyên nhân gây tử vong đứng hàng thứ 4 trên thế giới, gây giảm tuổi thọ trung bình từ 5 đến 10 năm, là nguyên nhân gây mù loà và suy thận giai đoạn cuối, nguyên nhân hàng đầu của cắt cụt chi không do chấn thương [6][54]. Cứ 6 giây lại có một người chết do nguyên nhân đái tháo đường và các biến chứng.
Chi phí cho điều trị đái tháo đường của toàn thế giới năm 2013 ước tính 548 tỷ đô la Mỹ, dự báo tăng lên 627 tỷ vào năm 2035 [34]. Tình hình đái tháo đường ở Việt Nam Ở Việt Nam, bệnh đái tháo đường đang có chiều hướng gia tăng theo thời gian và sự phát triển kinh tế cũng như đô thị hóa. Năm 2012, tỷ lệ mắc đái tháo đường và nhiều bệnh mạn tính khác ngày một gia tăng. Các chuyên gia tin rằng hiện có ít nhất hai triệu người bị bệnh đái tháo đường, mặc dù 60% trong số đó vẫn chưa được chẩn đoán và không biết mình bị bệnh.
Từ năm 1982 – 2000, số người mắc đái tháo đường chỉ chiếm 1% đến 2% dân số ở các thành phố lớn như Hà Nội, Huế và Thành phố Hồ Chí Minh, nhưng đến năm 2002 tỷ lệ mắc đã tăng lên 4 – 5% dân số. Số liệu gần đây từ thành phố Hồ Chí Minh cho thấy trong năm 2008 có gần 7% người trưởng thành ở độ tuổi 30 – 69 bị bệnh đái tháo đường [19]. Năm 2013, trong kết quả công bố của “Dự án phòng chống Đái tháo đường Quốc gia” do Bệnh viện Nội tiết Trung ương thực hiện năm 2012 trên 11.000 người, tuổi 30 – 69 tại 6 vùng gồm: Miền núi phía Bắc, Đồng bằng sông Hồng, Duyên hải miền Trung, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ đã cho thấy tỷ lệ mắc bệnh đái tháo đường là 5,7% (tỷ lệ mắc cao nhất ở Tây Nam Bộ là 7,2%, thấp nhất là Tây Nguyên 3,8%). Cũng theo nghiên cứu này, những người trên 45 tuổi có nguy cơ mắc đái tháo đường týp 2 cao gấp 4 lần những người dưới 45 tuổi.
Người bị huyết áp cao cũng có nguy cơ mắc bệnh cao hơn gấp 3 lần. Như vậy, tỷ lệ mắc đái tháo đường ở Việt Nam 10 năm qua đã tăng gấp đôi.