Luận văn thạc sĩ: Khảo sát hành động hứa hẹn và phương thức biểu hiện trong tiếng Việt và tiếng Anh

Luận văn thạc sĩ phân tích ussh khảo sát hành động hứa hẹn và các phương thức biểu hiện nó trên ngữ liệu tiếng việt và tiếng, đánh giá thực trạng, chỉ ra hạn chế, đề xuất giải

Chuyên ngành

Ngôn Ngữ Học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn

2009

152
2
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN

1.1. Những khái niệm về hành vi ngôn ngữ và hành vi hứa hẹn

1.2. Hành vi ngôn ngữ

1.3. Điều kiện sử dụng các hành vi ở lời

1.4. Phát ngôn ngữ vi, biểu thức ngữ vi và động từ ngữ vi

2. CHƯƠNG 2: HÀNH VI HỨA HẸN TRỰC TIẾP

2.1. Những dấu hiệu ngôn ngữ đặc thù của HVHH trực tiếp

2.2. Các phương thức ngôn ngữ biểu đạt HVHH trực tiếp

2.3. Nghiên cứu các bình diện hứa hẹn liên quan đến quy tắc về quan hệ liên nhân

2.4. Hứa hẹn trong quan hệ xã hội - đoàn thể

2.5. Hứa hẹn trong quan hệ gia đình

2.6. Hứa hẹn trong quan hệ tình yêu- hôn nhân

2.7. Hứa hẹn trong quan hệ bạn bè

2.8. Phân loại hành vi hứa hẹn theo nội dung

3. CHƯƠNG 3: HÀNH VI HỨA HẸN GIÁN TIẾP

3.1. Bối cảnh giao tiếp

3.2. Các phương thức biểu đạt hành vi hứa hẹn gián tiếp

3.3. Hành vi hứa hẹn gián tiếp bằng các phương tiện từ ngữ

3.4. Sử dụng trợ từ

3.5. Hành vi ngôn ngữ phụ trợ

3.6. Dấu hiệu từ vựng tình thái

3.7. Từ ngữ xưng hô

3.8. Dấu hiệu uyển thanh

3.9. Phương thức biểu hiện lời hứa sử dụng các cụm từ: Dẫu/ dẫu rằng; dù bất kể thế nào; cho dù/ dẫu; dù đi chăng nữa

3.10. Phương thức biểu hiện lời hứa sử dụng các cụm từ: (Cứ) yên tâm đi/ tin đi/ vô tư đi/ bằng mọi giá

3.11. Một số phương thức biểu hiện lời hứa chuyên dụng

3.12. So sánh các phương thức biểu đạt hành vi hứa hẹn trong tiếng Việt và tiếng Anh

3.13. Động từ biểu thị hành vi hứa hẹn trong tiếng Việt

3.14. Động từ biểu thị hành vi hứa hẹn trong tiếng Anh

3.15. Một số đề xuất về phương pháp giảng dạy hành vi hứa hẹn

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC NGUỒN TƯ LIỆU TRÍCH DẪN

Tóm tắt

I. Tổng quan về khảo sát hành động hứa hẹn trong ngữ liệu

Khảo sát hành động hứa hẹn là một lĩnh vực nghiên cứu quan trọng trong ngữ dụng học, đặc biệt trong ngữ liệu tiếng Việt và tiếng Anh. Hành vi hứa hẹn không chỉ là một phần của giao tiếp mà còn phản ánh các giá trị văn hóa và xã hội. Nghiên cứu này nhằm làm rõ cách thức mà hành động hứa hẹn được biểu hiện và hiểu trong hai ngôn ngữ này.

1.1. Khái niệm hành động hứa hẹn trong ngôn ngữ

Hành động hứa hẹn được định nghĩa là một loại hành vi ngôn ngữ mà người nói cam kết thực hiện một hành động trong tương lai. Điều này không chỉ đơn thuần là lời nói mà còn là một cam kết có tính chất pháp lý và xã hội.

1.2. Tầm quan trọng của hành động hứa hẹn trong giao tiếp

Hành động hứa hẹn đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng và duy trì mối quan hệ xã hội. Nó thể hiện sự tin tưởng và trách nhiệm giữa các bên trong giao tiếp.

II. Vấn đề và thách thức trong khảo sát hành động hứa hẹn

Mặc dù hành động hứa hẹn là một phần thiết yếu trong giao tiếp, nhưng việc khảo sát nó gặp nhiều thách thức. Các yếu tố văn hóa, ngữ cảnh và cách diễn đạt khác nhau giữa tiếng Việt và tiếng Anh có thể gây khó khăn trong việc phân tích và so sánh.

2.1. Khó khăn trong việc định nghĩa hành động hứa hẹn

Định nghĩa hành động hứa hẹn có thể khác nhau giữa các nền văn hóa. Điều này dẫn đến sự khó khăn trong việc áp dụng các khái niệm lý thuyết vào thực tiễn giao tiếp.

2.2. Sự khác biệt trong cách biểu đạt hành động hứa hẹn

Tiếng Việt và tiếng Anh có những cách diễn đạt hành động hứa hẹn khác nhau, điều này có thể dẫn đến hiểu lầm trong giao tiếp giữa các nền văn hóa.

III. Phương pháp khảo sát hành động hứa hẹn trong ngữ liệu

Để khảo sát hành động hứa hẹn, nhiều phương pháp nghiên cứu đã được áp dụng. Các phương pháp này bao gồm phân tích ngữ liệu từ các đoạn hội thoại thực tế và so sánh các cách biểu đạt giữa hai ngôn ngữ.

3.1. Phân tích ngữ liệu từ hội thoại thực tế

Phân tích ngữ liệu từ các đoạn hội thoại thực tế giúp hiểu rõ hơn về cách thức mà hành động hứa hẹn được sử dụng trong giao tiếp hàng ngày.

3.2. So sánh các phương thức biểu đạt hành động hứa hẹn

So sánh các phương thức biểu đạt hành động hứa hẹn giữa tiếng Việt và tiếng Anh giúp làm rõ những điểm tương đồng và khác biệt trong cách sử dụng ngôn ngữ.

IV. Ứng dụng thực tiễn của nghiên cứu hành động hứa hẹn

Nghiên cứu hành động hứa hẹn không chỉ có giá trị lý thuyết mà còn có ứng dụng thực tiễn trong giảng dạy ngôn ngữ và giao tiếp. Việc hiểu rõ hành động hứa hẹn có thể giúp cải thiện kỹ năng giao tiếp và xây dựng mối quan hệ tốt hơn.

4.1. Ứng dụng trong giảng dạy ngôn ngữ

Kết quả nghiên cứu có thể được áp dụng trong giảng dạy ngôn ngữ, giúp học viên hiểu rõ hơn về cách sử dụng hành động hứa hẹn trong giao tiếp.

4.2. Cải thiện kỹ năng giao tiếp

Hiểu rõ hành động hứa hẹn giúp cá nhân cải thiện kỹ năng giao tiếp, từ đó xây dựng mối quan hệ tốt hơn trong xã hội.

V. Kết luận và tương lai của nghiên cứu hành động hứa hẹn

Nghiên cứu hành động hứa hẹn trong ngữ liệu tiếng Việt và tiếng Anh mở ra nhiều hướng đi mới cho các nghiên cứu tiếp theo. Việc hiểu rõ hơn về hành động hứa hẹn sẽ giúp nâng cao chất lượng giao tiếp và hiểu biết văn hóa giữa các nền văn hóa khác nhau.

5.1. Tương lai của nghiên cứu hành động hứa hẹn

Nghiên cứu hành động hứa hẹn sẽ tiếp tục phát triển, mở rộng ra nhiều lĩnh vực khác nhau trong ngôn ngữ học và ngữ dụng học.

5.2. Đề xuất cho các nghiên cứu tiếp theo

Các nghiên cứu tiếp theo nên tập trung vào việc khảo sát hành động hứa hẹn trong các ngữ cảnh khác nhau và so sánh với các hành động ngôn ngữ khác.

22/07/2025
Luận văn thạc sĩ ussh khảo sát hành động hứa hẹn và các phương thức biểu hiện nó trên ngữ liệu tiếng việt và tiếng anh

Trích đoạn nội dung tài liệu

lời mở đầu cho tạp chí Langue Francaise đã định nghĩa: “Ngữ dụng học nghiên cứu việc dùng ngôn ngữ trong diễn từ và các chỉ hiệu đặc thù trong ngôn ngữ, những cái làm nên cách thức nói năng”. Định nghĩa này cho thấy vấn đề cơ bản mà ngữ dụng học quan tâm là mối quan hệ giữa ngôn ngữ và diễn từ, là sự phát ngôn. Nghĩa là quan tâm tới quá trình tạo ra diễn từ và kết quả của chúng chứ không phải là ngôn ngữ - sản phẩm cuối cùng của hoạt động ngôn ngữ [19, tr. 10] Thuật ngữ “Hành vi ngôn ngữ” (Speech acts) có nhiều cách dịch khác nhau.

Cụ thể như các tác giả Cao Xuân Hạo, Nguyễn Thiện Giáp, Vũ Thị Thanh Hương … dịch là hành động ngôn từ; còn tác giả Đỗ Hữu Châu và tác giả Nguyễn Đức Dân dịch là hành vi ngôn ngữ. Mặc dù cách dịch thuật ngữ này có nhiều khác biệt, song các nhà nghiên cứu đều nhất quán khi nhận định về bản chất của khái niệm. Đó là quan niệm cho rằng: Đồng thời với việc con người nói (phát ngôn) người ta thực hiện luôn một hành động nào do, đúng như Austin quan niệm “Nói là hành động” trong công trình có tên gọi “How to do things with words”. Để tìm hiểu đặc trưng của HVHH, chúng tôi sử dụng thuật ngữ: “Hành vi ngôn ngữ”.

Về lịch sử ra đời của vấn đề HVNN, từ những năm 60 của thế kỉ XX, các nhà triết học người Anh J. Theo các ông, giao tiếp là sự hành chức của ngôn ngữ và đồng thời cũng là sự hành chức của những HVNN. Bởi vì, khi người ta nói ra một điều gì thì cũng là lúc người ta thực hiện một hành động nào đó trong lời nói của mình. Ví dụ: khi người nói (Sp1) đưa ra phát ngôn: [1] Tôi hứa với chị sẽ bảo vệ cô ấy.

[NL 1; 363] LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Đồng thời với việc đưa ra phát ngôn [1], người nói đã thực hiện luôn HVHH. Vậy HVNN là loại hành vi được thực hiện ngay khi các đối ngôn tạo ra một phát ngôn (diễn ngôn) trong cuộc thoại giao tiếp. Austin, trong một cuộc thoại, một phát ngôn thường được tạo ra bởi ba loại HVNNN [15, tr. 446] Thứ nhất là hành vi tạo lời (Locutionary act): Trong quá trình giao tiếp, người nói và người nghe luôn luôn sử dụng các yếu tố trong hệ thống ngôn ngữ: ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp… để tạo lập phát ngôn nhằm truyền đạt đi một lượng thông tin với mục đích nhất định.

Thứ hai là hành vi ở lời (Illocutionary act): Là loại hành vi mà khi người nói phát ngôn thì hành vi đó sẽ có hiệu lực ngay khi nói. Chẳng hạn, người nói (Sp1) nói: “Tôi hứa ngày mai sẽ trả lời cậu”, thì đồng thời với việc thực hiện phát ngôn này anh ta đã thực hiện luôn hành vi hứa. Thứ ba là hành vi mượn lời (Perlocutionary act): Là loại hành vi nằm ẩn sau hành vi tại lời, nó tương hợp với từng loại tình huống phát ngôn và có tác dụng gây nên một hiệu quả ngoài ngôn ngữ. Nghĩa là hành vi này không thể thực hiện trên câu chữ, lời nói của người nói mà được khúc xạ qua một HVNN khác.

George Yele định nghĩa sự kiện lời nói là “Một hoạt động trong đó những người tham gia tác động lẫn nhau theo những cách thức có tính chất quy ước nhằm đạt đến một mục đích nào đấy. Sự kiện lời nói có thể được tạo nên bởi một HVNN trung tâm” [15, tr. Mỗi sự kiện lời nói được đánh dấu (và gọi tên bằng tên gọi của HVƠL trung tâm, kiểu như sự kiện lời nói sai khiến, thỉnh cầu, hứa hẹn,. Hành động ngữ vi được biểu hiện qua các động từ ngữ vi, đó là những động từ có thể thực hiện chức năng ngữ vi trong phát ngôn, có nghĩa là cùng với việc phát ngôn ra chúng, người nói thực hiện luôn cái HVNN do chúng biểu thị.

HVHH được biểu hiện bằng động từ ngữ vi HỨA. Xét theo khả năng có thể hay không thể dùng với chức năng ngữ vi thì động từ biểu hiện HVHH nằm trong nhóm những LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com động từ nói năng vừa có thể dùng với chức năng ngữ vi, vừa có thể dùng với chức năng miêu tả. Điều kiện sử dụng các hành vi ở lời Hành vi ở lời cũng như các hành vi khác, các hành vi sinh lí hay vật lí, không phải được thực hiện một cách tuỳ tiện. Là loại hành vi có bản chất xã hội, các HVƠL cũng bị chi phối bởi các quy tắc đã được xã hội ước chế và nó thoả mãn những điều kiện sử dụng cụ thể thì mới được thực thi.

“Điều kiện sử dụng các hành vi ở lời là những điều kiện mà một hành vi ở lời phải đáp ứng để nó có thể diễn ra thích hợp với ngữ cảnh của sự phát ngôn ra nó. Tuy điều kiện sử dụng của mỗi HVƠL có khác nhau, nhưng chúng vẫn có những điểm chung. Austin đã đưa ra các điều kiện khác nhau để sử dụng các HVƠL. Song trên cơ sở phân tích một HVƠL - hành vi “hứa” tiếng Anh (promise) Searle đã điều chỉnh và bổ sung vào những điều kiện may mắn của Austin và gọi chúng là điều kiện sử dụng hay điều kiện thoả mãn.

Mỗi HVƠL có một hệ những điều kiện còn gọi là quy tắc (rules) để cho việc thực hiện nó đạt hiệu quả đúng với đích. Có tất cả bốn điều kiện. Mỗi điều kiện lại được biểu hiện khác nhau tuỳ theo từng phạm trù, từng loại và từng HVƠL cụ thể: + Điều kiện nội dung mệnh đề: Đây là điều kiện chỉ ra bản chất của hành vi. Nội dung mệnh đề có thể là một mệnh đề đơn giản hay một hàm mệnh đề, có thể là một hành động của người nói hay một hành động của người nghe.

+ Điều kiện chuẩn bị: Bao gồm những hiểu biết của người phát ngôn về năng lực, lợi ích, ý định của người nghe và các quan hệ giữa người nói, người nghe. Ví dụ: Khi hứa với ai điều gì, ngay lúc hứa ta đã bị ràng buộc vào trách nhiệm thực hiện cho được lời hứa của chúng ta và người nghe có quyền lợi chờ đợi, được hưởng kết quả của lời hứa đó. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com + Điều kiện chân thành: Chỉ ra các trạng thái tâm lí tương ứng của người phát ngôn. Xác tín, khảo nghiệm đòi hỏi niềm tin vào điều mình xác tín; lệnh đòi hỏi lòng mong muốn; hứa hẹn đòi hỏi ý định của người nói, … + Điều kiện căn bản: Là điều kiện đưa ra kiểu trách nhiệm mà người nói hoặc người nghe bị ràng buộc khi HVƠL đó được phát ra.

Trách nhiệm rơi vào hành động sẽ được thực hiện (lệnh, hứa hẹn) hoặc đối với tính chân thực của nội dung (một lời xác tín buộc người nói phải chịu trách nhiệm về tính đúng đắn của điều nói ra). Phát ngôn ngữ vi, biểu thức ngữ vi và động từ ngữ vi i. Phát ngôn ngữ vi và biểu thức ngữ vi + Phát ngôn ngữ vi Trong hội thoại, khi các đối ngôn đối thoại với nhau cũng là lúc các phát ngôn được tạo lập. Những phát ngôn được tạo lập để thực hiện một hành vi nào đó và hành vi này được thực hiện ngay khi người ta nói.

Kiểu phát ngôn như vậy được gọi là phát ngôn ngữ vi. Nằm trong cấu trúc hội thoại, phát ngôn ngữ vi có một vị trí quan trọng trong quá trình tạo lập một sự kiện lời nói. Xét về bản chất, hành vi mượn lời được coi là sản phẩm của một HVƠL nào đó khi hành vi này được thực hiện một cách trực tiếp, chân thực. Kết cấu lõi của một phát ngôn ngữ vi đặc trưng cho một loại HVƠL nhất định.

Nó hiện diện như một cách thức nói năng và đảm nhiệm những chức vụ khác nhau trong giao tiếp. BTNV chỉ là một tiểu đơn vị (cấu trúc lõi) của phát ngôn ngữ vi. Tuy nhiên, trong thực tế hội thoại, cấu trúc của PNNV có khi chỉ là một BTNV. [2] Con hứa sẽ không bao giờ gặp anh ấy nữa.

[TLTH; 605] Phát ngôn này chỉ có kết cấu là một BTNV tường minh hứa. Tuy nhiên, còn có những phát ngôn ngữ vi mở rộng, nghĩa là ngoài BTNV, những yếu tố mở rộng nhằm đáp ứng nhu cầu giao tiếp đa dạng của con người. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com [3] Thưa Đức Ông, thú thực, là ở mức độ nào đó, ở đấy tiếng nói của tôi có tác dụng quyết định, tôi xin hứa sẽ làm tất cả những gì trong phạm vi ảnh hưởng của mình. [NL 10; 75] Trong phát ngôn [3], ngoài kết cấu lõi là một BTNV tường minh hứa “Tôi xin hứa sẽ làm tất cả những gì trong phạm vi ảnh hưởng của mình”, còn có thêm thành phần mở rộng “thú thực, là ở mức độ nào đó, ở đấy tiếng nói của tôi có tác dụng quyết định” chỉ ra phạm vi của lời hứa.

+ Biểu thức ngữ vi “Biểu thức ngữ vi là những thể thức nói năng đặc trưng cho một hành vi ở lời… Biểu thức ngữ vi là dấu hiệu ngữ pháp – ngữ nghĩa của các HVƠL. Nhờ các biểu thức ngữ vi chúng ta nhận biết được các HVƠL”. BTNV là một yếu tố quan trọng tạo nên PNNV. Để nhận biết và phân biệt được BTNV người ta phải căn cứ vào các dấu hiệu.

Searle gọi những dấu hiệu này là các phương tiện chỉ dẫn hiệu lực ở lời (illocutionary force indicating devices – IFIDs) [10, tr. a) Các kiểu kết cấu: là các kiểu câu tương ứng với từng HVOL. Những kiểu kết cấu đại diện cho các loại BTNV tương ứng.Ví dụ, kiểu kết cấu câu:“ có … không?”,“Tôi hỏi”, “ sao … thế?” … là sự thể hiện của BTNV hỏi; kiểu kết cấu:“Mình/ tôi hứa/ cam đoan/ nhất định/ chắc chắn sẽ…”,“Cậu/ anh/ chị cứ yên tâm. Tôi sẽ …”, “Dù/ dẫu …sẽ…” là kết cấu của BTNV hứa.

b) Những từ ngữ chuyên dùng trong các BTNV: dùng để tổ chức các kết cấu và là dấu hiệu nhờ chúng mà ta biết được hành vi nào đang thực hiện. Chẳng hạn, những từ ngữ chuyên dùng trong kết cấu hứa hẹn: yên tâm đi, cứ yên tâm, sẽ…ngay, bằng mọi giá, chắc chắn, bảo đảm v.v… c) Ngữ điệu: có vai trò rất quan trọng tạo nên hiệu lực ở lời cho các ĐTNV. Theo Đỗ Hữu Châu: “…Cùng một tổ chức từ vựng, ngữ pháp cụ thể nếu được phát âm với các ngữ điệu khác nhau sẽ cho các BTNV khác nhau ứng với HVƠL khác nhau” LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com [4] Anh sẽ đi.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Khảo sát hành động hứa hẹn trong ngữ liệu tiếng Việt và tiếng Anh" cung cấp cái nhìn sâu sắc về cách thức hành động hứa hẹn được thể hiện trong hai ngôn ngữ này. Tác giả phân tích các đặc điểm ngữ nghĩa và ngữ dụng của hành động hứa hẹn, từ đó giúp người đọc hiểu rõ hơn về sự khác biệt và tương đồng trong cách thức giao tiếp giữa người Việt và người Anh. Những thông tin này không chỉ hữu ích cho các nhà nghiên cứu ngôn ngữ mà còn cho những ai quan tâm đến việc cải thiện kỹ năng giao tiếp của mình trong môi trường đa văn hóa.

Để mở rộng thêm kiến thức về ngữ nghĩa và hành vi giao tiếp, bạn có thể tham khảo tài liệu Luận văn thạc sĩ khảo sát hành vi chào và mời trong các sách dạy tiếng anh, nơi cung cấp cái nhìn sâu sắc về hành vi chào hỏi trong tiếng Anh. Bên cạnh đó, tài liệu Khóa luận a study on greeting culture in english and vietnamese sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về văn hóa chào hỏi trong hai ngôn ngữ này. Cuối cùng, tài liệu Các phương thức biểu đạt ý nghĩa tương lai trong tiếng anh và tiếng việt cũng là một nguồn tài liệu quý giá để khám phá thêm về cách thức diễn đạt ý nghĩa trong giao tiếp. Những tài liệu này sẽ giúp bạn mở rộng kiến thức và nâng cao khả năng giao tiếp trong môi trường đa ngôn ngữ.