CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÍ THUYẾT 1. Đại cương về nấm sợi 1.1 Đặc điểm của nấm sợi [4] Nấm sợi là những vi sinh vật có nhân chuẩn thuộc nhóm vi nấm, được phân bốkhắp nơi như đất, nước, không khí, sản phẩm từsinh vật, bản thân các sinh vật kể cả con người. Nấm sợi sống kí sinh ở động, thực vật hoặc hoại sinh trên chất hữu cơ từ xác động, thực vật, chúng là loài hô hấp hiếu khí bắt buộc, không chứa diệp lục tố, không có khảnăng quang hợp [10]. Nấm sợi là VSV ưa mát (Psychrotroph), có nhiệt độtối ưu khoảng 25 0C, nhưng cũng có thểthích nghi với 00C.Nấm sợi sống trong môi trường có pH hơi axít đến trung tính (pH 3- 6).
Mặc dù sựsinh trưởng của nấm sợi không cần ánh sáng nhưng ánh sáng lại có tác dụng hình thành bào tử, tổng hợp sắc tố [5] 1.2 Hình thái cấu tạo Nấm sợi có cấu tạo sợi, phân nhánh hoặc không phân nhánh, có vách ngăn ngang hoặc không có vách ngăn ngang.Sợi nấm (hypha) có dạng hình ống phân nhánh, bên trong chứa chất nguyên sinh có thểlưu động. Về chiều dài chúng có sựsinh trưởng vô hạn (nhưng về đường kính thìthường chỉthay đổi trong phạm vi 1-30µm thông thường là 5- 10µm). Sợi nấm chỉtăng trưởng ở ngọn, vừa dài ra không ngừng phân nhánh và vì vậy khi một bào tửnẩy mầm trên một môi trường đặc sẽphát triển thành một hệ sợi nấm, sau 3-5 ngày có thể tạo thành một đám nhìn thấy được gọi là khuẩn lạc (colony). Tùy theo môi trường cơchất mà hệsợi nấm sẽphát triển thành các dạng khác nhau.
Vào giai đoạn cuối của sự phát triển, khuẩn lạc sẽ xảy ra sự kết mạng (anastomosis) giữa các khuẩn ty với nhau, làm cho cảkhuẩn lạc là một hệthống liên thông mật thiết với nhau, thuận tiện cho việc vận chuyển chất dinh dưỡng đến toàn bộ hệ sợi nấm. Hiện tượng kết mạng thường gặp ở nấm bậc cao nhưng lại ít gặp ở các sợi nấm dinh dưỡng của nấm bậc thấp.Hình thái, 7 kích thước màu sắc, bềmặt của khuẩn lạc…có ý nghĩa nhất định trong việc định tên nấm[25].Sự phát triển của hệ sợi nấm Hình 1.Hình thái khuẩn lạc. Tế bào chất Thành tế bào Nhân Vách ngăn Nhân Tế bào chấtt Hình 1. Các loại sợi nấm Sợi nấm có vách ngăn Sợi nấm không có vách Đầu sợi nấm có hình viên trụ, phần đầu gọi là vùng kéo dài (extension zone).Lúc sợi nấm sinh trưởng mạnh mẽ đây là vùng thành tếbào phát triển nhanh chóng, vùng này có thểdài đến 30µm.
Dưới phần này thành tếbào dày lên và không sinh trưởng thêm được nữa. Màng nguyên sinh chất thường bám sát vào thành tếbào. Trên màng nguyên sinh chất có một sốphần có kết cấu gấp nếp hay xoăn lại, người ta gọi là biên thểmàng (plasmalemmasome) hay biên thể(lomasome). Nhiều khi chúng có tác dụng tiết xuất các chất nào đó.Các chất dựtrữthường gặp ởnấm là glicogen, hạt volutin, các giọt mỡ [24].
Nấm sợi chỉmọc tốt trong môi trường có nhiều không khí, vì thếchúng phát triển trên bềmặt cơchất (khuẩn ty khí sinh) tạo thành lớp hình sợi, lớp mạng nhện hay lớp sợi bông.Một sốsợi nấm sinh trưởng bằng cách đâm sâu vào cơchất và hútchất dinh dưỡng (khuẩn ty cơchất).Bên trong khuẩn ty có một nhân, hai nhân hay nhiều nhân [6]. 9 Phần lớn sợi nấm có dạng trong suốt, ởmột sốnấm, sợi nấm mang sắc tốtạo nên màu tối hay màu sặc sỡ.Sắc tốcủa một sốnấm còn tiết ra ngoài môi trường và làm đổi màu khu vực có nấm phát triển.Một sốnấm còn tiết ra các chất hữu cơtạo nên các tinh thểtrên bềmặt khuẩn lạc.Vì bào tửcủa nấm thường có màu nên cảkhuẩn lạc thường có màu [25]. Trong tế bào nấm còn có các cơquan như: ty thể (mitochondrion), mạng nội chất (endoplasmic reticulum), dịch bào hay không bào (vacuolus),thểribôxôm (ribosome), bào nang (vesicle), thểGolgi sinh (Golgi body, Golgi apparatus, dictyosome), các giọt lipid (lipid droplet), các tinh thể(chrystal) và các vi thể đường kính 0,5- 1,5nm (microbody), các thểVôrônin đường kính 0,2µm (Woronin body), thểChitôxôm đường kính 40 -70nm (chitosome)… Ngoài ra trong tếbào chất còn có các vi quản rỗng ruột, đường kính 25nm (microtubule), các vi sợi đường kính 5- 8 nm (microfilament), các thểmàng biên (plasmalemmasome). Không bào Vùng kéo dài Sợi nấm Thành tế bào Màng Tếbào Thể golgi Ti thể Màng nhân A.Cấu trúc sợi nấm [25].
Đặc điểm sinh lí, hóa sinh 10 Nấm sợi là những sinh vật dinh dưỡng hóa năng hữu cơ, thuộc loại hoại sinh. Đểthực hiện các quá trình sinh lý khác nhau nấm sợi thường có những nhu cầu không giống nhau vềcác nguồn thức ăn cacbon. Chúng có thể sửdụng nhiều nguồn thức ăn khác nhau từcacbonhydrat, amino acid đến amonia. Sự thích hợp của một nguồn gốc thức ăn cacbon nào đó có thể được đánh giá bằng nhiều chỉtiêu khác nhau như mức độ sinh trưởng tối đa của hệ sợi nấm, mức độ hình thành tối đa sốlượng bào tử, mức độtích lũy tối đa các chất chuyển hóa.
Sự sinh trưởng tối đa của hệsợi nấm thường không phù hợp với sự tích lũy tối đa các sản phẩm trao đổi chất. Hầu hết các loại nấm sợi có thể đồng hóa trực tiếp mantose, lactose, melibiose, rỉđường. Các loài nấm sợi khác nhau có thểcó nhu cầu khác nhau đối với nguồn thức ăn nitơ, chúng sửdụng cảnguồn nitơhữu cơlẫn vô cơ. Nhiều loài nấm sợi (thuộc các chi Aspergillus, Penicillium) có khảnăng khửnitrat hóa.
Một sốloài như Aspergillusflavus, Trichoderma lignorum, Myrothecium verrucaria…. cókhảnăng đồng hóa trực tiếp nitơphân tử[9]. Các nguyên tốvi lượng có liên quan mật thiết với các quá trình xúc tác sinh học trong tếbào nấm sợi. Các loại nấm sợi có quan hệrất khác đối với các loại vitamin và các chất sinh trưởng.
Nhu cầu vềchất sinh trưởng của một loài nấm sợi cóthểthay đổi tùy theo điều kiện nuôi cấy, tùy theo tuổi giống [9]. Ngoài các chất dinh dưỡng nấm sợi cũng nhưtất cảcác sinh vật khác còn có nhu cầu vềnước cho các họat động sinh lý, sinh hóa của tếbào.Liên quan đến lượng nước còn có độ ẩm.Các yếu tốnày ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm và quá trình sinh trưởng, phát triển của chúng (độ ẩm không khí không thấp hơn 60%). Khảnăng hấp thụhay thoát nước của nấm đều liên quan với nhiệt độmôi trường, khoảng từ15- 30 0C, tăng trưởng tối ưu trong khoảng 25 - 300C, tùy loài [9]. Một trong những yếu tố ảnh hưởng đến sựsinh trưởng và phát triển của nấm sợi rõ rệt là pH, bình thường chúng tăng trưởng ởpH = 6.
Môi trường kiềm hoặc acid, thì nấm sợi không hoặc tăng trưởng rất yếu [9]. Riêng các loài Trichoderma thường xuất hiện ở đất ưa axít, phát triển tốt ởbất cứpH nào nhỏhơn 7 và chúng có thể phát triển tốt ở đất kiềm nếu ở đó có một lượng lớn CO 2 và bicacbonat [15]. Phương thức sinh sản 11 Nấm sợi sinh sản chủyếu bằng bào tử, bào tửmọc ra từsợi nấm và sau đó là hệsợi nấm. Bào tửcó thểhình thành theo kiểu vô tính hoặc hữu tính.
Chúng khác nhau vềhình dạng và cách phát sinh. * Sinh sản vô tính: Có 3 loại bào tửvô tính: + Bào tử động (zoospores) + Bào tửkín (sporangiospore) + Bào tửtrần (conidi): loại bào tửphát sinh bằng con đường ngoại sinh hay nội sinh, khi chín được giải phóng ra ngoài. Bào tửtrần có thểcó hoặc không có vách ngăn ngang (Aspergillus spp, Penicillium spp.), có một vách ngăn ngang (Trichothecium spp…) có từhai vách ngăn trởlên (Fusarium spp.), có vách ngăn ngang lẫn vách ngăn dọc xen kẽhay nối tiếp nhau (Alternaria spp…) Hình dạng bào tửhình trứng, cầu, hạt chanh [24]. * Sinh sản sinh dưỡng: sinh sản bằng khuẩn ty hoặc bằng hạch nấm, đây cũng là hình thức sinh sản vô tính.
* Sinh sản hữu tính: + Phương pháp đẳng giao, dị giao, noãn giao + Bào tửtiếp hợp (zygospores) + Bào tửtúi (ascospores) + Bào tử đảm(basidiosppores) Phương thức sống của nấm sợi: dịdưỡng, phần lớn hoại sinh, một sốsống ký sinh trênngười, động thực vật, còn một sốkhác thì sống cộng sinh. Phân loại nấm sợi. Vi nấm là thuật ngữ dùng đểchỉtất cảcác loại nấm hiển vi (nấm men và nấm sợi) không sinh quảthểlớn (mũnấm).Việc phân loại vi nấm nói chung và nấm sợi nói riêng vẫn đang ởthời kì phân loại học hình thái dựa vào các đặc điểm hình thái nuôi cấy, một số đặc điểmsinh lý sinh hóa và phương thức sinh sản. Các phương pháp sinh hóa và sinh học phân tử được sửdụng ít trong phân loại vi nấm.
Nhà nấm học Italia P.Saccardo (1845-1920) đã chỉnh lý các nghiên cứu vềnấm và biên soạn bằng tiếng La Tinh 25 tập Kỷyếu nấm. Các thành tựu nghiên cứu đã được tổng kết khá đầy đủtrong 5 tập sách Giới nấm (The Fungi)của G. Ainsworth và cộng sự(Vol 1, 2. New York and London: Academic Press, 1963-1973).
Năm 1995 đã tái bản lần thứ8 cuốn Từ điển vềnấm (Dictionary of the Fungi)của Ainsworth và Bisby. Nấm được chia thành 4 ngành (Division, Phylum): - Ngành Chytridiomycota - Ngành Zygomycota - Ngành Ascomycota 12 - Ngành Basidiomycota. Các loài nấm không tìm thấy (đúng ra là chưa tìm thấy) dạng sinh sản hữu tính được xếp chung vào nhómNấm bất toàn – Fungi imperfecti. Theo hệthống phân loại của Saccardo (1880,1886) thì các nấm này được xếp thành một lớp- Lớp Deuteromyceteskhi phát hiện thấy cơquan sinh sản hữu tính thì người ta đổi tên loài và xếp sang các lớp khác.
Ví dụnấm lúa von trước kia được gọi là Fusarium moniliforme, nhưng sau khi tìm thấy cơquan sinh sản hữu tính thì lại chuyển thành loàiGibberella fujikuroi.Các Nấm bất toànhiện được xếp trong các nhóm conidial Ascomyceteshay conidial Basidiomycetes. Nấm bất toàn (Deuteromycota),nấm đảm (Basidiomycetes), nấm túi (Ascomycetes) được xếp vào nhóm nấm bậc cao (Michael J.Carlile et al, 2001).Nấm bất toàn là giai đoạn vô tính (Anamorph) của nấm túi hoặc nấm đảm [26]. Khóa phân loại đến lớp (Robert A. Lớp nấm túi (Ascomycetses): bào tửsinh ra trong túi bào tử.
Lớp nấm tiếp hợp (Zygomycetes)bào tửkín sinh ra trong các nang bào tửkín, hệsợi không có hoặc có ít vách ngăn. Lớp nấm bất toàn (Deuteromycetes): sợi nấm có vách ngăn, bào tửtrần. Theo hệthống phân loại căn cứvào đặc điểm phát sinh của bào tử trần của Hughes (1953). Lớp nấm bất toàn được chia thành 3 nhóm: - Nhóm Hyphomycetes: Gồm các nấm bất toàn không có túi giá và đĩa giá (giá sinh bào tửtrần ởtrên các sợi nấm hoặc các sợi nấm kết lại thành bó sợi, bó giá).
- Nhóm Coelomycetes: Gồm các nấm bất toàn có túi giá hoặc đĩa giá, giá bào tửtrần ởtrong các thểquả(Fruit - body) gọi là các conidiomata[11]. - Nhóm Agonomycetes: gồm các nấm bất toàn không có bào tửtrần. Lớp nấm đảm (Bacidiomycetes): sợi nấm có vách ngăn, sinh sản vô tính sốít bằng bào tửtrần, chủyếu bằng bào tử đảm [25]. Người ta cho rằng trong tựnhiên có khoảng 1 triệu đến 1,5 triệu loài nấm nhưng mới định tên được khoảng 10 000 chi và 70 000 loài, Trung Quốc đã điều tra được 40 000 loài.