Phần mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận văn gồm ba chương: CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU THÂN THẾ, SỰ NGHIỆP VÀ TRƯỚC CỦA NGUYÊN TƯ GIẢN 1. Thân thế và sự nghiệp của Nguyễn Tư Giản 1. Trước tác của Nguyễn Tư Giản CHƯƠNG 2: KHẢO SÁT VĂN BẢN THẠCH NÔNG THI TẬP 2. Mô tả văn bản 2.
Khảo dị văn bản 2. Niên đại của văn bản 2. Xác định bản tin cậy (thiện bản) CHƯƠNG 3: TÌM HIỂU GIÁ TRỊ VĂN BẢN THẠCH NÔNG THI TẬP 3. Giá trị nội dung 3.
Giá trị nghệ thuật 19 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU THÂN THẾ, SỰ NGHIỆP VÀ TRƯỚC TÁC CỦA NGUYỄN TƯ GIẢN 1. Thân thế và sự nghiệp của Nguyễn Tư Giản 1. Một gia tộc danh vọng Nguyễn Tư Giản 阮思僴, “sinh vào mùa đông, giờ Tuất, ngày mồng bốn, tháng một, năm Quý Mùi” [18, tr. 192], năm Minh Mệnh thứ 4 (1823) tại dinh quan Đồng Tri phủ, phủ Quốc Oai, trấn Sơn Tây.
Ông vốn có tên là Văn Phú 文富, sau đổi thành Địch Giản 廸簡, sau lại được vua đổi tên là Tư Giản 思僴. Ông xuất thân trong gia đình nhiều đời khoa bảng của huyện Đông Ngàn, có thể nói gia tộc ông là gia tộc thế thế trâm anh (đời đời làm quan). Trong sách Quốc triều Hương khoa lục của Cao Xuân Dục, khi ghi chép về Nguyễn Văn Phú (tức Nguyễn Tư Giản), có đề trên đầu dòng hai chữ “thế khoa” 世科, tức nối đời thi đỗ. Viết về dòng dõi gia tộc nhà Nguyễn Tư Giản, trong sách Tang thương ngẫu lục (bản dịch 1970), Kính Phủ Nguyễn Án (tức ông nội của Nguyễn Tư Giản) có viết như sau: “Cụ tổ tám đời nhà tôi làm quan Thái tể Trung Thuần, húy là Thực 寔 (lúc đầu có tên là Bảo 寶, sau đổi thành Thực ), người làng Vân Điềm, huyện Đông Ngàn.
Ông nội húy là Bồn 盆, được tặng phong là Thái bảo Duyên Phúc hầu. Thuở bé trong làng có viên nội thần (không rõ tên) mời thầy địa lý đến xem đất, điểm một cái huyệt. Ông đi chăng trâu, làm ruộng trông thấy, bèn ghi nhớ lấy. Sau viên nội thần táng chỗ khác, hầu rước tiên phần đế táng ở huyệt này”[18, tr.
Trong sách Vân Điềm Du Lâm Nguyễn tộc hợp phả 雲恬榆林阮族合譜 (ký hiệu VHv.2416) cũng có chép rằng: “Khởi cư từ làng Vân Điềm hai cụ tổ hiệu là Thiện Tính 善性 và Huệ Đạt 惠達 đều không rõ tên húy. Sang đến đời cụ Vân Khê, 20 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com được triều đình phong tặng tước Thái bảo Duyên Phúc hầu. Cụ Vân Khê 雲溪 húy là Bồn, …”[5, tờ 1a-1b]. Nguyễn Bồn sinh ra Nguyễn Vĩ 阮偉, Nguyễn Vĩ không làm quan nhưng có các con làm quan lớn trong triều nên cũng được phong tước hầu (Thái bảo Giáo Nghĩa hầu Đoan Trực công).
Nguyễn Vĩ sinh Nguyễn Thực 阮寔, Nguyễn Thực là Tiến sĩ của nhà Mạc 10. Nguyễn Thực sinh Nguyễn Nghi 阮宜, Nguyễn Nghi đỗ Đệ tam giáp Đồng Tiến sĩ xuất thân năm Kỷ Mùi, làm quan cùng cha trong triều. Nguyễn Nghi sinh ra Nguyễn Sủng 阮寵, Nguyễn Khuê 阮奎, Nguyễn Sĩ 阮 仕, Nguyễn Đậu 阮竇, đều làm quan lớn cả, đặc biệt là Nguyễn Khuê và Nguyễn Sĩ cùng đỗ Tiến sĩ (Đệ tam giáp Đồng Tiến sĩ xuất thân), khoa Canh Tuất, niên hiệu Cảnh Trị thứ 8 (1670), đời vua Lê Huyền Tông. Con thứ 2 của Nguyễn Nghi là Nguyễn Đậu 阮竇, Nguyễn Đậu khi làm Tư vụ bộ Binh thì mất, có con trưởng là Nguyễn Yến 阮宴.
Nguyễn Yến sinh Nguyễn Trạch 阮宅 và Nguyễn Gia 阮家, cả hai người con đều là võ tướng (Vũ Huân tướng quân). Nguyễn Gia sinh con là Nguyễn Thưởng 阮賞 (trước tên húy là Bá 霸, sau đổi thành Thưởng), là Tiến sĩ khoa Giáp Tuất (Đệ tam giáp Đồng Tiến sĩ xuất thân), đời vua Lê Hiển Tông, niên hiệu Cảnh Hưng thứ 15 (1754). 10 Cuốn Vân Điềm Du Lâm Nguyễn tộc hợp phả (ký hiệu VHv.2416, tờ 4b - 5a ) có chép: “Quang Hưng Ất Mùi khoa Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân Đệ nhị danh, cố Lê Thái phó tặng Thái tế dực vận tán trị công thần, Đặc tiến kim tử vinh lộc đại phu, Đông các đại học sĩ, Hộ bộ Thượng thư kiêm Hàn lâm viện Thị độc, chưởng Hán Lâm viện sự, Quốc lão tham dự triều chính, Thượng trụ quốc thượng trật, Lan quận Trung Thuần công”. 21 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Nguyễn Thưởng có con là trưởng là Nguyễn Đường 阮棠 (còn có tên khác là Hiểu 曉), chỉ đỗ Nho sinh nhưng cũng làm quan tới chức Hiến sát sứ.
Nguyễn Đường lánh cư sang làng Du Lâm, có con trai là Nguyễn Án 阮案 11 (tức ông nội của Nguyễn Tư Giản). Nguyễn Án sinh được Nguyễn Chí Hoàn 阮志完 (sau đổi thành Nguyễn Chí Quản 阮志管), Nguyễn Chí Hoàn đỗ Cử nhân khoa thi năm Quý Dậu, Gia Long thứ 12 (1813), làm quan tới chức Lang trung. Nguyễn Chí Hoàn sinh được Nguyễn Ý 阮懿 12, Nguyễn Văn Phú 阮文富 (sau đổi thành Địch Giản 廸簡, rồi Tư Giản 思僴), Nguyễn Năng Ái 阮能愛 13. Nguyễn Tư Giản sinh ra Nguyễn Kham 阮堪 14, Nguyễn Tấn Cảnh 阮晋 境 15, Nguyễn Cơ 阮璣 16, Tốn Khải 阮巽塏 17.
Trong bài thơ Kí gia chư huynh đệ Canh Tuất niên 寄家諸兄弟庚戌年 [18, tr. 339-340] ông có viết: “… Nhất bảng tam Cử nhân: Bá huynh Thành Phủ, đường đệ Văn Vinh, ngũ đệ Năng Ái. Nhất bảng song tú tài: Nhị huynh Hữu Mai, tam huynh Hướng Thúc, …/… 一榜三舉人: 伯兄誠甫, 堂弟文榮, 五弟能愛. 一榜三 雙秀才: 二兄友梅, 三兄向叔, …/.
Một bảng ba Cử nhân: Anh cả Thành Phủ, em 11 Nguyễn Án 阮案 (1770 - 1815) thời Lê mạt Nguyễn sơ, có hai tác phẩm tiêu biểu hiện còn đó là: Phong lâm minh lại thi tập 風林鳴籟詩集, kí hiệu A.1201 hiện được lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm và tác phẩm Tang thương ngẫu lục hợp soạn cùng với Phạm Đình Hổ. 12 Đỗ Cử nhân khoa Kỷ Dậu, Tự Đức thứ 2 (1849), làm quan tới chức Đốc học Nam Định. 13 Đỗ Cử nhân khoa Kỷ Dậu, Tự Đức thứ 2 (1849), làm quan tới chức Tri phủ. 14 Thi đỗ Tiến sĩ khoa Tân Mùi (1871), làm quan tới chức Tham biện Nội các, lãnh Án sát.
15 Đỗ Cử nhân khoa Ất Dậu, Hàm Nghi thứ nhất (1885). 16 Đỗ Cử nhân khoa Bính Tý, Tự Đức thứ 29 (1876), chưa kịp làm quan thì mất. 17 Đỗ Tú tài khoa Canh Tý, Thành Thái thứ 12 (1900). 22 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com họ Văn Vinh, em năm Năng Ái.
Một bảng 2 tú tài: Anh hai Hữu Mai, anh ba Hướng Thúc, …”. Như thế, chỉ trong cùng một năm mà các anh em của Nguyễn Tư Giản đều đỗ đạt trong thi cử, cũng trong năm này (1850), Nguyễn Tư Giản được thăng là quyền Thị giảng Học sĩ, tòng tứ phẩm. Trên đây chỉ là nói riêng về mạch dòng của dòng họ Nguyễn tính từ Thái bảo Duyên Phúc hầu tới Nguyễn Tư Giản, ngoài ra những anh em và chi thứ khác cũng đều có người đỗ đạt và làm quan cả, chứ không riêng gì nhánh chi Nguyễn Tư Giản. Quả thực dòng họ của Nguyễn Tư Giản là một dòng họ nối đời làm quan, đúng thực với câu thơ đề ở nhà thờ họ Nguyễn Tư này: Gia đình tố giảng thi thư lễ 家庭素講詩書禮 Tướng tướng lên đăng phụ tử tôn 將相聯登祖父孫 Tạm dịch: Gia đình vốn giảng giải về thi, thư, lễ; Ông, cha, con liên tiếp làm khanh tướng.
Dòng họ nhà Lý? Năm 1939, Nhà xuất bản Tân Dân (Hà Nội), đã xuất bản tác phẩm kí sự lịch sử có nhan đề là Ngược đường trường thi của nhà văn Nguyễn Triệu Luật18, lần đầu tiên công bố dòng họ Nguyễn ở Vân Điềm, Du Lâm là hậu duệ của vua nhà Lý. Trong cuốn sách này, Nguyễn Triệu Luật có viết một đoạn văn rất đáng chú ý như sau: “Họ nhà ta là một ngành vua Lý. Nhà Trần bắt ta đổi làm họ Nguyễn, nhưng chúng ta phải nhớ rằng ta vốn là dòng họ Lý Bát Đế. Tổ ta, cụ Trung Liệt Lý Quang Bật là con thứ sáu Nghĩa Nam vương Lý Hùng Tích, con thứ ba Lý Thánh 18 Nguyễn Triệu Luật: Con của Nguyễn Viên, cháu nội của Nguyễn Tư Giản, tác giả của sách Ngược đường trường thi.
23 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Tông Hoàng đế, vì chống lại họ Trần mà tuyệt mạng. Ngày kia trời tựa, ta phải trừ nòi giống quân phường chài Hải Ấp19”[8, tr. Tuy nhiên, đây chỉ là những gì mà Nguyễn Triệu Luật suy đoán, còn trong chính sử thì không thấy ghi về điều này. Ngay trong sách Hoàng giáp Nguyễn Tư Giản, thân thế sự nghiệp do Trương Toại chủ biên, Nguyễn Khắc Kham hiệu đính, được in vào năm 2007, cũng cho rằng quan điểm dòng họ Nguyễn ở Vân Điềm - Du Lâm là hậu duệ của vua nhà Lý là quan điểm chưa có căn cứ xác đáng và còn nhiều điểm nghi ngờ.
Lời kết của sách cho vấn đề này vẫn còn bỏ ngỏ: “Dù sao, vấn đề hậu duệ nhà Lý của dòng họ Nguyễn Vân Điềm Du Lâm cần phải có thời gian nghiên cứu và hơn thế nữa: có một cơ may!”[18, tr. Theo chúng tôi, những căn cứ và dẫn chứng của Nguyễn Triệu Luật được trình bày trong Ngược đường trường thi cũng không có bằng chứng xác đáng và căn cứ khả tín. Phải có chứng cứ thực sự xác đáng mới có thể kết luận rằng Nguyễn Tư Giản cũng như dòng họ Nguyễn ở Vân Điềm, Du Lâm là dòng dõi của nhà Lý. Thời niên thiếu Nguyễn Tư Giản tuy sinh trong gia đình vọng tộc, nhưng ngay từ thời nhỏ ông đã phải chịu nhiều vất vả và bất hạnh.
Năm chưa đầy 4 tuổi thì thân sinh ông là bà Từ Thục cung nhân Nguyễn Thị Diễm qua đời năm 1827. Trong thời gian này, thân phụ ông là Nguyễn Chí Quản vì công vụ mà khi thì làm Tri phủ Bình Giang trấn Hải Dương, lại được lệnh sung đi làm phúc khảo trường thi Nam Định, rồi về Bắc Thành làm Viên ngoại lang, làm quyền nhiếp chức Hiệp trấn ấn vụ trấn Sơn Nam, tới năm 1831 thì ông lại cùng cha về kinh. Kể như thế đã là vất vả, nhưng tới năm 12 tuổi (tức năm 1834), thân phụ Nguyễn Chí Quản bị bệnh mất tại chức, 19 Phường chài Hải Ấp: Chỉ nhà Trần. 24 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com quan tài quàng ở Sơ Nguyên phía bắc kinh thành, năm sau người hầu mới đưa về an táng tại Du Lâm.
Sách Ngược đường trường thi của Nguyễn Triệu Luật có chép rằng: “Lang Trung mất đi để lại một người vợ kế mới ba mươi tuổi, năm con trai và hai con gái, người lớn nhất mới hai mươi mốt, người bé nhất mới đầy một tuổi thôi.