chương 1, luận văn đi tìm hiểu và trình bày các vấn đề chính về tác giả, sự nghiệp trước tác để sơ bộ mang đến cái nhìn tổng quát nhất về cuộc đời cũng như những đóng góp to lớn của tác giả Lê Văn Ngữ trên con đường nghiên cứu học thuật nói riêng. Tiếp đó luận văn sẽ đi riêng tìm hiểu văn bản “Phụ tra tiểu thuyết” và những cấu trúc nội dung được sắp xếp căn cứ theo văn bản chính văn, tóm lược nội dung được tác giả nói đến trong các thiên cụ thể. Cuối cùng luận văn đưa ra những đánh giá về mặt giá trị của tác phẩm để thấy được những giá trị đáng được ghi nhận, kế thừa và có thể là hướng lựa chọn nghiên cứu cho bất kỳ học giả nào.1 Tác giả Lê Văn Ngữ Theo tư liệu được biết trong cuốn “Tên tự tên hiệu của các tác gia Hán nôm Việt Nam” của tác giả Trịnh Khắc Mạnh thấy ghi rằng Lê Văn Ngữ tên hiệu là Lê Văn Ngữ, tự là Ứng Hòa, người xã Vạn Lộc, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định nhưng trên thực tế thì thân thế và sự nghiệp của ông cũng chưa được rõ ràng, chỉ biết ông sống vào khoảng cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20. Trên những căn cứ đã được ghi chép lại, các nhà nghiên cứu đi trước đã tìm hiểu được thân thế của tác giả: ông sinh ra ở làng Vạn Lộc, nay thuộc xã Xuân Phong, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định, đất đai của gia đình ông hiện đang nằm ở xóm 12 xã Xuân Phong và từ đó dần hiểu thêm về gia thế của ông.
Lê Văn Ngữ sinh ra trong một gia đình có truyền thống 5 đời dạy học, bản thân Lê Văn Ngữ là một nhà hào phú, thông gia với cử nhân tri phủ Vân Đình là Trần Trác. Lê Văn Ngữ thường hay làm phúc và khi đó các quan phủ Xuân Trường đều rất nể Nguyễn Thị Thu Hiền - Cao học Hán Nôm K52 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com “Phụ tra tiểu thuyết” của Lê Văn Ngữ - Khảo cứu và phiên dịch ông. Theo lời kể của một người cháu đời thứ 3 của ông được biết rằng Lê Văn Ngữ sinh vào năm 1860 và mất năm 1934 (Theo nghiên cứu điền dã được ghi lại trong luận văn thạc sỹ của Mai Thu Quỳnh). Họ Lê của ông xuất phát từ họ Phạm ở Kiến Xương - Thái Bình.
Cụ tổ bốn đời của ông lấy con gái họ Lê ở Vạn Lộc và sinh sống ở Vạn Lộc nên đã đổi sang họ Lê. Mẹ Lê Văn Ngữ là một người công giáo, đến cuối đời thì Lê Văn Ngữ lại theo kito giáo. Ông đã từng theo đoàn đi sứ của triều đình nhà Nguyễn đi sứ sang Pháp, cũng từng tiếp đón các văn thân của phong trào Duy Tân ở nhà mình. Về sau ông có gửi sách cho triều đình Huế, triều đình nhận và tặng ông tước Cửu Phẩm văn gian và một đồng tiền vàng.
Từ đó mọi người gọi ông là Cửu Ngữ. Lê Văn Ngữ đã từng cưới 3 người vợ sinh được 8 người con trai và 5 người con gái. Mặc dù theo khảo cứu biết được Lê Văn Ngữ được sinh trưởng trong một gia đình khoa bảng nhưng con đường hoạn lộ của ông không được suôn sẻ khi ông không trúng tuyển một kỳ khảo thí nào. Đây cũng chính là một lý do dẫn đến việc những thông tin về bản thân cũng như gia đình ông tương đối ít mặc dù những đóng góp của ông trong thời kỳ này cũng có khá nhiều.
Sau khi không suôn sẻ trên con đường khoa bảng, ông đóng cửa không tham gia thi cử trong các khóa thi nữa mà dành thời gian chuyên tâm nghiên cứu học thuật các kinh điển Nho giáo. Tuy không dấn thân vào con đường quan lộ nữa nhưng không phải vì thế mà Lê Văn Ngữ trở thành một ẩn sĩ lánh đời, mà trái lại khát vọng và mong muốn đem hết tài trí của mình phục vụ cho việc chấn hưng Nho giáo chưa một ngày nguôi ngoai. Như vậy ta có thể khái quát những nét cơ bản về tác giả Lê Văn Ngữ, ông là một nhà trí thức Nho học nổi tiếng. Ông sinh ra, lớn lên và sống gần như trọn đời ở làng Vạn Lộc, Xuân Trường, Nam Định.
Năm 40 tuổi ông được phụ tá đệ tam giáp tiến sĩ Từ Đạm sang Pháp và trở thành một người công giáo. Ông vốn là một nho sĩ Nguyễn Thị Thu Hiền - Cao học Hán Nôm K52 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com “Phụ tra tiểu thuyết” của Lê Văn Ngữ - Khảo cứu và phiên dịch có tấm lòng nhân bản, sớm tiếp xúc với tri thức và tư tưởng mới của phương Tây đương thời, có đầu óc cách tân và cũng luôn ấp ủ lý tưởng tiên ưu và trị bình của nhà Nho. Mặc dù cuối đời ông theo kito giáo nhưng những tác phẩm của ông được viết từ thuở trung niên nên nó vẫn là những tác phẩm thuộc hệ thống thư tịch của Nho gia và thấm đượm tinh thần của nhà nho buổi giao thời. Cuộc đời ông gắn liền với các trứ tác cùng những tư tương mà ông theo đuổi với mong muốn được người đời biết đến.
Tuy ông viết nhiều và cũng đưa ra cách nhìn nhận mới trong việc tiếp thu tư tưởng Nho giáo qua các thư tịch cổ nhưng đáng buồn thay là những cố gắng của ông chưa thực sự được ghi nhận và đánh giá cao, các học giả cũng chưa biết đến. Có thể nói cuộc đời ông là sự cống hiến không mệt mỏi cho nền học thuật nước nhà, những cố gắng ấy tuy mãi sau này mới được tìm hiểu và nghiên cứu do bối cảnh lịch sử xã hội cũng có nhiều đổi thay, tác động. Những đóng góp to lớn trong cuộc đời cũng như sự nghiệp nghiên cứu của Lê Văn Ngữ chính là một tấm gương cho những kẻ hậu học tiếp bước trên con đường nghiên cứu học thuật của mình.2 Sự nghiệp trƣớ c thuâ ̣t Cuối thế kỷ 19, đầu thế kỉ 20 là thời kì khoa cử Nho học đã hoàn toàn bị bãi bỏ trên cả ba miền đất nước ta. Đứng trước thời cuộc suy tàn của Nho học truyền thống, các nhà Nho kiểu cũ trong đó có Lê Văn Ngữ đã ra sức vãn hồi lại đạo Nho.
Sự ra đời một loạt các tác phẩm là minh chứng cho hành động và những mong muôn khôi phục lại nền Nho học của nước nhà trong bối cảnh lịch sử xã hội lúc bấy giờ. Các tác phẩm của ông bao gồm: Tác phẩm “Chu dịch cứu nguyên” được chia làm ba phần. Phần đầu là “Bức thư của thống sứ Bắc kỳ” gửi tác giả (nguyên văn chữ Pháp được dịch ra chữ quốc Nguyễn Thị Thu Hiền - Cao học Hán Nôm K52 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com “Phụ tra tiểu thuyết” của Lê Văn Ngữ - Khảo cứu và phiên dịch ngữ) đề năm 1928. Phần “Chu dịch đồ thuyết” gồm các hình vẽ về hà đồ, lạc thư và 64 quẻ của kinh dịch do một người tên là Sỹ biên soạn.
Phần nội dung gồm một số bài chuyên khảo về kinh dịch như nguồn gốc kinh dịch, hà đồ, lạc thư…. Tác phẩm “Đại học tích nghĩa”, biên soạn và viết tựa vào năm 1927. Tác phẩm “Trung dung thuyết ước” được soạn năm Bảo Đại thứ 2 tức năm 1927. Tóm lược lại nội dung 13 chương sách Trung dung (chữ hán) và có bức thư gửi thống sứ Bắc kì (chữ nôm) đặt ở đầu sách.
Tác phẩm “Y học toản yếu” gồm 20 bài bàn về thái cực, vận khí, tạng phủ, khí huyết, trời và người là một. Mối liên quan giữa y học và kinh dịch tim mạch, tính chất của các vị thuốc, châm huyệt, xem bệnh…. Tác phẩm “Luận ngữ tiết yếu”, được biên tập và đề tựa năm Bảo Đại Đinh Mão (năm 1927). Những nội dung chính được chia làm các thiên như đạo học, đạo giáo, cư xử, ứng đối vấn đáp, nghị luận, phẩm bình….3 Văn bản và cấ u trúc nô ̣i dung “Ph ụ tra tiểu thuyết” Để đi sâu tim ̀ hiể u văn bản và cấ u trúc nô ̣i dung tác phẩ m , trước hết luâ ̣n văn sẽ đi tìm hiểu về sự ra đời của tác phẩm đặt trong bối cảnh lịch sử xã hội thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX.
Tiếp đó luận văn phân chia cấu trúc nội dung tác phẩm theo từng phần và khái quát nội dung chủ yếu trong các thiên sao cho có thể truyền tải được những nội dung cơ bản và trọng tâm trong tác phẩm , làm tiền đề cho việc đi sâu phân tić h ở những chương tiế p theo. Cuối cùng là sự ghi nhận những đóng góp về mặt giá trị tư tưởng của tác phẩm trong hệ thống các tác phẩm của Lê Văn Ngữ nói riêng với những ý nghĩa thiết thực của nó trong bối cảnh lịch sử xã hội lúc bấy giờ. Nguyễn Thị Thu Hiền - Cao học Hán Nôm K52 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com “Phụ tra tiểu thuyết” của Lê Văn Ngữ - Khảo cứu và phiên dịch 1.1 Sự ra đời của tác phẩ m và cấ u trúc nội dung tác phẩ m Ở Việt Nam đầu thế kỷ XX đa số các nhà nho đều muốn vứt bút lông đi viết bút chì. Trong bối cảnh đó số ít người còn nghiên cứu Nho học đã tiến hành công việc của mình với những mục đích và cách thức khác nhau tiến tới việc giữ lại nền Nho học đã được hình thành và phát triển từ thời cha ông Trong số những nhà Nho tiêu biểu cho trào lưu tư tưởng cứu vãn đạo Nho có những người mang tư tưởng muốn cải cách hoàn toàn nhưng cũng có những người lại mong muốn được kế thừa cái học cũ nhưng có sự kết hợp giao lưu với những cái mới bên ngoài.
Tiêu biểu cho những nhà Nho có hệ tư tưởng như vậy phải kể đến Phan Bội Châu và Lê Văn Ngữ. Nếu Phan Bội Châu coi Nho học là đối tượng và công cụ để hướng đến cải cách xã hội thì Lê Văn Ngữ lại sử dụng thành tựu văn minh của cả châu Âu và châu Á đương thời để xiển phát nội dung Nho học. Lịch sử Việt Nam kéo dài đến cuối đời Nguyễn đã chứng kiến cảnh Pháp đô hộ. Kẻ thống trị lạ mặt này vào cướp nước ta mục đích là để thôn tính và thay đổi Việt Nam từ hình dạng đến lối sống.