phần mở đầu và kết luận, nội dung luận văn g m 02 chương: Chƣơng 1. Kháng nghị về thi hành án dân sự Chƣơng 2. Giải quyết kháng nghị về thi hành án dân sự 6 CHƢƠNG 1 KHÁNG NGHỊ VỀ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ 1. Đối tƣợng và căn cứ kháng nghị Kháng nghị về THADS là sự phản đối bằng văn bản của VKSND đối với hoạt động THA của CQTHADS, CHV, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trong việc tuân thủ về thẩm quyền, trình tự, thủ tục THADS.
Kháng nghị về THADS là hoạt động VKSND thực hiện chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp. Theo khoản 1 Điều 107 iến pháp năm 2013, VKSND thực hành quyền kiểm sát hoạt động tư pháp. Theo Điều 12 LTCVKSND, VKSND kiểm sát việc tuân theo pháp luật của CQTHADS, CHV, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trong việc THADS. Khi kiểm sát THADS, VKSND có quyền kháng nghị hành vi, quyết định của Thủ trưởng, CHV CQTHADS cùng cấp, cấp dưới có vi phạm pháp luật nghiêm trọng xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân; yêu cầu đ nh ch việc thi hành, thu h i, sửa đổi, bổ sung hoặc hủy bỏ quyết định có vi phạm pháp luật trong việc THA, chấm dứt hành vi vi phạm pháp luật Theo Điều 28 LTCVKSND, VKS có quyền kháng nghị quyết định của Thủ trưởng, CHV CQTHADS cùng cấp và cấp dưới theo quy định của pháp luật; yêu cầu đ nh ch việc THA, sửa đổi hoặc bãi bỏ quyết định có vi phạm pháp luật trong việc THA, chấm dứt hành vi vi phạm pháp luật Theo Điều 34 Quyết định số 810/QĐ-VKSTC-V11, VKSND thực hiện quyền kháng nghị đối với quyết định và hành vi của Thủ trưởng, CHV CQTHADS cùng cấp và cấp dưới, Thừa phát lại khi có vi phạm pháp luật nghiêm trọng, ảnh hưởng tới quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, người có quyền lợi, ngh a vụ liên quan trong THADS.
Theo ướng dẫn số 08/HD-VKSTC ngày 12.2021 về công tác kiểm sát THADS năm 2021, VKS phải kịp thời ban hành kháng nghị, yêu cầu khắc phục và phòng ngừa vi phạm; kịp thời xử lý và báo cáo VKSND cấp trên trực tiếp đối với các trường hợp kháng nghị không được chấp nhận hoặc chấp nhận một phần. Quan tâm theo dõi, đôn đốc, kiểm tra, phúc tra việc thực hiện kháng nghị, kết luận trực tiếp kiểm sát. Theo Điều 2 Quy chế, đối tượng của công tác kiểm sát THADS là việc tuân theo pháp luật của Tòa án nhân dân, CQTHADS, CHV, Văn phòng Thừa phát lại, Thừa phát lại; cơ quan, tổ chức và cá nhân có liên quan trong việc thi hành bản án, 7 quyết định của Tòa án về dân sự, hôn nhân và gia đ nh, kinh doanh, thương mại, lao động, hành chính; quyết định giải quyết phá sản của Tòa án; bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài đã được Tòa án Việt Nam công nhận và cho thi hành tại Việt Nam; hình phạt tiền, tịch thu tài sản, truy thu tiền, tài sản thu lợi bất chính, xử lý vật chứng, tài sản, án phí và quyết định dân sự trong bản án, quyết định hình sự; quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh của Hội đ ng xử lý vụ việc cạnh tranh có liên quan đến tài sản của bên phải THA; phán quyết, quyết định của Trọng tài thương mại, Trọng tài nước ngoài đã có hiệu lực pháp luật hoặc chưa có hiệu lực pháp luật nhưng được thi hành ngay theo quy định của pháp luật và việc tuân theo pháp luật của cơ quan có trách nhiệm giải quyết khiếu nại, tố cáo về THADS. Việc kháng nghị của VKS trong THADS còn quy định bổ sung tại Quyết định số 94/QĐ- VKSTC ngày 22.2021 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, quy định về quy trình, kỹ năng trực tiếp kiểm sát tại CQTHADS và quy trình, kỹ năng kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về THADS, THA hành chính.
Về phạm vi kháng nghị của VKS trong THADS, theo khoản 2 Điều 12 LTHADS, bao g m: Việc cấp, chuyển giao, giải thích, sửa chữa, bổ sung bản án, quyết định của Tòa án; yêu cầu CHV, CQTHADS cùng cấp, cấp dưới ra quyết định về THA, gửi các quyết định về THA; thi hành đúng bản án, quyết định; tự kiểm tra việc THA và thông báo kết quả kiểm tra cho VKSND; yêu cầu cơ quan, tổ chức và cá nhân cung cấp h sơ, tài liệu, vật chứng có liên quan đến việc THA; kết quả trực tiếp kiểm sát hoạt động THADS của CQTHADS cùng cấp và cấp dưới, CHV, các cơ quan, tổ chức và cá nhân có liên quan; ban hành kết luận kiểm sát khi kết thúc việc kiểm sát; việc xét miễn, giảm ngh a vụ THA đối với khoản thu nộp ngân sách Nhà nước và phát biểu quan điểm của VKSND. Theo quy định trên, đối tượng kháng nghị trong THADS bao g m các quyết định và hành vi của Thủ trưởng, CHV CQTHADS trong THADS. Căn cứ để VKS thực hiện việc kháng nghị là những quy định của LTHADS, các văn bản hướng dẫn và Quyết định số 810/QĐ-VKSTC-V11. Qua kiểm sát việc THA của CQTHADS, CHV về đối tượng, căn cứ kháng nghị, tác giả nhận thấy những t n tại, bất cập như sau: Thứ nhất, quyết định và hành vi của Thủ trưởng CQTHADS, CHV trong THADS vẫn còn nhiều sai sót, không đúng pháp luật khi thực hiện việc THADS.
Các sai sót của Thủ trưởng, CHV CQTHADS phổ biến là: Một, chậm ra quyết định THA, xác minh điều kiện THA. 8 Theo Điều 36 LTHADS, Thủ trưởng CQTHADS ra quyết định THA khi có yêu cầu THA là 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được yêu cầu THA. Thủ trưởng CQTHADS có thẩm quyền chủ động ra quyết định THA trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được bản án, quyết định đối với phần bản án, quyết định mà CQTHADS phải ra quyết định THA. Tuy pháp luật quy định trách nhiệm của Thủ trưởng CQTHADS phải ra quyết định THA nhưng một số vụ việc, Thủ trưởng CQTHADS đã không thực hiện đúng quy định.
Qua kiểm sát h sơ THA và các ngu n thông tin khác (khiếu nại, tố cáo), VKS phát hiện kiến nghị để Thủ trưởng CQTHADS thực hiện theo quy định. 1 Ví dụ 1: Kiến nghị số 381/ KN-VKS ngày 29.2018 của VKSND thị xã La Gi. Trong kiến nghị này, VKSND thị xã La Gi, xác định: Chi cục THADS thị xã La Gi chậm và không ra quyết định phân công CHV ba vụ việc: Vụ Phan Hữu Phúc (khu phố 5, Tân An) thi hành cấp dưỡng nuôi con (CDNC).2015, Chi cục THADS ra quyết định THA số 645/QĐ-CCTHA, nhưng đến ngày 28.2017 mới ra quyết định phân công CHV Phạm H ng Ánh (trước đ vụ việc này do CHV H Thị Khánh Huệ đảm nhiệm). H sơ Nguyễn Văn Lập, Nguyễn Thị Hà (khu phố 5, Phước Hội): Ngày 11.2015 Chi cục THADS ra quyết định THA số 232/QĐ-CCTHA, nhưng trong h sơ không thể hiện việc ra quyết định phân công CHV.
Việc chậm và không ra quyết định phân công như nêu trên là vi phạm khoản 2 Điều 36 LTHADS. Ví dụ 2: Kiến nghị số 193/KSTHADS-KN ngày 25.2016 của VKSND thị 2 xã La Gi. Trong vụ việc này, VKSND thị xã La Gi đã phát hiện sai phạm và kiến nghị: “Từ tháng 01.2016, Chi cục THADS thị xã La Gi ch m ra 40 quyết định THA (trong đó: có 2 quyết định THA theo đơn và 38 quyết định THA chủ động - có danh sách kèm theo). Thời gian ra ch m quyết định THA của Chi cục THADS dao động từ 09 đến 22 ngày.
Việc ch m ra quyết định THA nêu trên của Chi cục THADS thị xã La Gi là vi phạm quy định tại Đ ều 36 LTHADS” Trong hai vụ trên, Chi cục THADS thị xã La Gi đã thực hiện không đúng quy định tại Điều 36 LTHADS về thời hạn và phân công CHV tổ chức việc THA. Hai, chậm tiến hành xác minh điều kiện THA. Theo Điều 44 LTHADS, trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày hết thời hạn tự nguyện THA mà người phải THA không tự nguyện thi hành thì CHV tiến hành xác 1 Phụ lục 1. 9 minh; trường hợp thi hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời thì phải tiến hành xác minh ngay.
Trường hợp người phải THA chưa có điều kiện THA thì ít nhất 06 tháng một lần, CHV phải xác minh điều kiện THA; trường hợp người phải THA chưa có điều kiện THA là người đang chấp hành hình phạt tù mà thời gian chấp hành hình phạt tù còn lại từ 02 năm trở lên hoặc không xác định được địa ch , nơi cư trú mới của người phải THA thì thời hạn xác minh ít nhất 01 năm một lần Sau hai lần xác minh mà người phải THA vẫn chưa có điều kiện THA thì CQTHADS phải thông báo bằng văn bản cho người được THA về kết quả xác minh. Việc xác minh lại được tiến hành khi có thông tin mới về điều kiện THA của người phải THA. Xác minh điều kiện THA của người phải THADS là nhiệm vụ của CHV được phân công tổ chức việc THA. Việc xác minh điều kiện THA phải bảo đảm thời hạn, nội dung và thủ tục.
Tuy nhiên, khi tổ chức việc xác minh điều kiện THA, một số CHV thực hiện không tốt nhiệm vụ của mình, dẫn đến hệ quả là xác định không đúng điều kiện THA của người phải THA, kéo dài việc thi hành, vi phạm quy định của pháp luật. Biểu hiện thường thấy trong việc vi phạm việc xác minh là hết thời hạn tự nguyện nhưng CHV không tiến hành xác minh; người phải THA chưa có điều kiện THA nhưng không xác minh theo định kỳ; CHV không thông báo kết quả xác minh cho người được THA; không tiến hành xác minh khi có thông tin về THA; CHV không xác minh tại cơ quan chức năng đối với tài sản phải đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng; biên bản xác minh ghi nội dung không đầy đủ; không tiến hành xác minh lại; không phát hiện được việc người phải THA kê khai thiếu trung thực và không đôn đốc khi có yêu cầu xác minh. Ví dụ 3: Quyết định kháng nghị số 109/QĐ-VKS ngày 27.2019 của 3 VKSND thành phố H Chí Minh. Trong Quyết định kháng nghị này, VKSND thành phố H Chí Minh xác định: Ông Phan Đ nh Trung có tài sản để THA nhưng CHV ch căn cứ vào việc ông không còn cư trú tại địa phương mà không xác minh làm rõ tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai quận trước khi đề xuất ban hành quyết định chưa có điều kiện THA và Chi cục THADS quận Tân Bình ban hành Quyết định việc chưa có điều kiện THA số 431/QĐ-CCTHADS ngày 23.