CHƯƠNG 1 CĂN CỨ VÀ THỜI HẠN KHÁNG NGHỊ PHÚC THẨM 1. Nhận thức khái quát và quy định của pháp luật tố tụng hình sự về căn cứ và thời hạn kháng nghị phúc thẩm 1. Nhận thức khái quát về căn cứ và thời hạn kháng nghị phúc thẩm - Khái niệm căn cứ kháng nghị phúc thẩm: Kháng nghị phúc thẩm hình sự là quyền năng pháp lý của VKSND thể hiện bằng một văn bản pháp lý được tiến hành trong thời hạn luật định, yêu cầu TA cấp phúc thẩm xét xử lại vụ án hoặc xét lại quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật theo trình tự phúc thẩm, do bản án, quyết định đó có vi phạm nghiêm trọng về 1 pháp luật TTHS hoặc có sai lầm trong việc áp dụng pháp luật. 2 Căn cứ là “dựa vào, lấy làm tiền đề hoặc cơ sở”.
Kháng nghị là hành vi tố tụng của người có thẩm quyền, thể hiện việc phản đối toàn bộ hoặc một phần nội dung bản án hoặc quyết định của TA với mục đích bảo đảm cho việc xét xử được chính xác, công bằng đồng thời sửa chữa những sai lầm trong bản án, quyết định của TA. Kháng nghị được đưa ra đối với những bản án, quyết định của TA chưa có hiệu lực pháp luật hoặc đã có hiệu lực nhưng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử phát hiện thấy có sai lầm, vi phạm nghiêm trọng pháp luật hoặc phát hiện có tình tiết mới có thể làm thay đổi cơ bản hay một phần quan trọng nội dung của bản án 3 hoặc quyết định của TA mà TA không biết được khi ra bản án hoặc quyết định đó. Tại điểm o khoản 2 Điều 41 BLTTHS năm 2015 quy định, Viện trưởng VKS có quyền: “Kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm bản án, quyết định của Tòa án theo quy định của Bộ luật này”; Điều 4 Luật Tổ chức VKSND năm 2014 quy định: “Khi thực hiện chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp, VKSND có quyền kháng nghị bản án, quyết định của Tòa án có vi phạm pháp luật”. Khoản 1 Điều 5 Luật Tổ chức VKSND năm 2014 quy định về căn cứ kháng nghị đối với bản án, quyết định là “Có vi phạm pháp luật nghiêm trọng, xâm phạm quyền con người, quyền công dân, lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân”.
Từ các khái niệm và quy định nêu trên cho thấy kháng nghị không phải là khái niệm duy nhất chỉ có trong trình tự phúc thẩm mà nó còn là căn cứ để xét xử 1 Phan Thị Thanh Trang (2020), Kháng nghị phúc thẩm theo Luật TTHS Việt Nam, Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Luật TPHCM, tr. 2 Hà Quang Năng, Từ điển tiếng Việt, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, tr. 3 Viện khoa học pháp lý, Từ điển Luật học, NXB Tư pháp, tr. 7 4 giám đốc thẩm hoặc tái thẩm.
Căn cứ kháng nghị phúc thẩm chính là cơ sở để VKS dựa vào đó yêu cầu TA xét xử lại vụ án hoặc xét lại quyết định sơ thẩm bằng việc ban hành quyết định kháng nghị. Theo Điều 37 Quy chế 505/QĐ-VKSTC quy định 04 trường hợp là căn cứ kháng nghị phúc thẩm, bao gồm: (i) Việc điều tra, xét hỏi tại phiên tòa sơ thẩm không đầy đủ dẫn đến đánh giá không đúng tính chất của vụ án; (ii) Kết luận, quyết định trong bản án, quyết định sơ thẩm không phù hợp với các tình tiết khách quan của vụ án; (iii) Có sai lầm trong việc áp dụng các quy định của BLHS, BLDS và các văn bản pháp luật khác; (iv) Thành phần HĐXX sơ thẩm không đúng luật định hoặc có vi phạm nghiêm trọng khác về TTTT. Như vậy, những căn cứ này thể hiện trong bản án hoặc quyết định sơ thẩm có vi phạm pháp luật TTHS nghiêm trọng hoặc có sai lầm khi áp dụng pháp luật của TA cấp sơ thẩm. Từ những quy định và phân tích nêu trên, căn cứ kháng nghị phúc thẩm được hiểu là những vi phạm pháp luật TTHS nghiêm trọng hoặc có sai lầm khi áp dụng pháp luật trong bản án hoặc quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật, xâm phạm quyền con người, quyền công dân, lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân mà VKS dựa vào đó yêu cầu TA xét xử lại vụ án hoặc xét lại quyết định sơ thẩm bằng việc ban hành quyết định kháng nghị.
- Khái niệm thời hạn kháng nghị phúc thẩm: Giáo trình Luật TTHS Việt Nam của Đại học Luật, Đại học Huế do Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Kiện làm chủ biên, thì: Thời hạn kháng nghị là thời hạn mà pháp luật quy định cho người có thẩm quyền kháng nghị thực hiện quyền kháng nghị của 5 mình; hết thời hạn này, việc kháng nghị không được chấp nhận. Theo tác giả Phạm Văn Nhàn thì: Thời hạn kháng nghị là khoảng thời gian cần thiết theo quy định của 6 pháp luật để chủ thể có quyền kháng nghị thực hiện quyền kháng nghị của mình. Tác giả Nguyễn Thị Thu Hà thì cho rằng: Thời hạn kháng nghị phúc thẩm vụ án hình sự theo Luật Tố tụng hình sự là khoảng thời gian cần thiết theo quy định của pháp luật để chủ thể của quyền kháng nghị thực hiện việc kháng nghị, sự hợp pháp của kháng nghị về thời hạn là một trong những điều kiện làm phát sinh hiệu lực của 7 kháng nghị. Như vậy, các khái niệm đều xác định thời hạn kháng nghị là khoảng 4 Đinh Văn Quế (2018), “Kháng nghị phúc thẩm - Những vấn đề lý luận và thực tiễn”, Tạp chí Kiểm sát số 05, tr 23.
5 Đại học Luật, Đại học Huế (2020), Giáo trình Luật TTHS Việt Nam, Nxb Tư pháp, Hà Nội, tr. 6 Phạm Văn Nhàn (2018), Kháng nghị phúc thẩm theo pháp luật TTHS Việt Nam từ thực tiễn của VKSND cấp cao tại TPHCM, Luật văn Thạc sĩ, Học viện Khoa học xã hội, tr. 7 Nguyễn Thị Thu Hà (2016), Kháng nghị phúc thẩm theo Luật TTHS Việt Nam, Luận văn thạc sĩ luật học, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, tr. 8 thời gian mà chủ thể có quyền kháng nghị thực hiện quyền kháng nghị.
Tuy nhiên, các khái niệm nêu trên đều chưa chỉ rõ cụ thể về chủ thể, đối tượng kháng nghị… trong khoảng thời gian đó. Theo Điều 144 BLDS năm 2015:“Thời hạn là một khoảng thời gian được xác định từ thời điểm này đến thời điểm khác”. Khoản 1 Điều 134 BLTTHS năm 2015 quy định: “Thời hạn mà Bộ luật này quy định được tính theo giờ, ngày, tháng, năm”. Từ những phân tích và quy định nêu trên, thời hạn kháng nghị phúc thẩm hình sự được hiểu là khoảng thời gian nhất định mà pháp luật TTHS quy định cho phép VKSND được ra quyết định kháng nghị đối với bản án hoặc quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật của TA.
Thời hạn kháng nghị phúc thẩm được tính kể từ thời điểm bắt đầu đến thời điểm kết thúc. Thời hạn kháng nghị phúc thẩm được xác định bắt đầu kể từ ngày Tòa án tuyên án hoặc ra quyết định và thời điểm kết thúc là thời điểm kết thúc ngày cuối cùng của thời hạn theo quy định của BLTTHS. Thời điểm kết thúc ngày cuối cùng của thời hạn là vào lúc 24 giờ của ngày đó. Nếu ngày cuối cùng của thời hạn là ngày nghỉ cuối tuần (thứ bảy, chủ nhật) hoặc ngày nghỉ lễ, thì thời hạn kết thúc tại thời điểm kết thúc ngày làm việc đầu tiên tiếp theo ngày nghỉ đó.
Hệ quả của việc kết thúc thời hạn kháng nghị sẽ làm mất quyền kháng nghị phúc thẩm của VKS, khi đó bản án, quyết định sơ thẩm có hiệu lực pháp luật. - Ý nghĩa của căn cứ và thời hạn kháng nghị phúc thẩm: + Căn cứ và thời hạn kháng nghị phúc thẩm là cơ sở pháp lý quan trọng để VKS xem xét ban hành quyết định kháng nghị phúc thẩm đối với bản án hoặc quyết định sơ thẩm, giúp cho việc ban hành quyết định kháng nghị phúc thẩm được kịp thời, đúng quy định pháp luật, đúng thời hạn; tránh việc kháng nghị tùy tiện, không 8 có cơ sở, qua đó bảo đảm thực hiện tốt chức năng THQCT và KSXX của VKS. + Giúp bảo vệ quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của những người tham gia tố tụng có lợi ích trong vụ án hình sự; góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả, uy tín, tính đúng đắn trong các quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam. Quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về căn cứ và thời hạn kháng nghị phúc thẩm - Quy định về căn cứ kháng nghị phúc thẩm 8 Chuyên đề số 804/CĐ-VC2-V1 ngày 15/5/2020 của VKSND cấp cao tại Đà Nẵng về giải pháp nâng cao số lượng, chất lượng kháng nghị phúc thẩm hình sự trên một cấp của VKSND cấp cao tại Đà Nẵng.
9 BLTTHS năm 2015 không có quy định cụ thể về những căn cứ kháng nghị phúc thẩm. Tuy nhiên, căn cứ kháng nghị phúc thẩm có thể được suy ra từ căn cứ để HĐXX phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm (Điều 357 BLTTHS năm 2015), hủy bản án sơ thẩm để điều tra lại hoặc xét xử lại (Điều 358 BLTTHS năm 2015), hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ vụ án (Điều 359 BLTTHS năm 2015), cũng như quy định tại Quy chế 505/QĐ-VKSTC ngày 18/12/2017 của Viện trưởng VKSND tối cao. Điều 37 Quy chế 505/QĐ-VKSTC quy định căn cứ kháng nghị phúc thẩm gồm: + Việc điều tra, xét hỏi tại phiên tòa sơ thẩm không đầy đủ dẫn đến đánh giá không đúng tính chất của vụ án. Việc điều tra, xét hỏi tại phiên tòa sơ thẩm là vô cùng quan trọng, là cơ sở để HĐXX ra một bản án, quyết định đúng đắn, bảo vệ pháp chế XHCN.
Phán quyết của HĐXX không chỉ được dựa trên hồ sơ vụ án, mà còn phải dựa vào việc điều tra, xét hỏi công khai tại phiên tòa sơ thẩm.