Chương 1 QUY ĐỊNH CHUNG CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VỀ KHÁNG NGHỊ PHÚC THẨM HÌNH SỰ 1. Khái niệm kháng nghị phúc thẩm hình sự của Viện kiểm sát trong quá trình giải quyết vụ án hình sự. Theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002, kháng nghị phúc thẩm hình sự là một quyền năng pháp lý riêng có của Viện kiểm sát. Các chủ thể tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng khác đều không có quyền này.
Kháng nghị phúc thẩm hình sự là một trong những cơ sở đảm bảo đúng nguyên tắc “thực hiện chế độ hai cấp xét xử” theo quy định của Điều 20 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003. Kháng nghị phúc thẩm hình sự là một trong những căn cứ để mở ra một trình tự tố tụng mới, trình tự xét xử phúc thẩm hình sự như quy định của Điều 230 Bộ luật tố tụng hình sự: “xét xử phúc thẩm là việc Toà án cấp trên trực tiếp xét xử lại vụ án hoặc xét lại quyết định sơ thẩm mà bản án, quyết định sơ thẩm đối với vụ án đó chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo hoặc kháng nghị”. Theo quy định trên, ngoài kháng nghị phúc thẩm thì kháng cáo cũng là một căn cứ để mở ra trình tự xét xử phúc thẩm hình sự. Chỉ có thể kháng nghị phúc thẩm và kháng cáo đối với bản án hoặc quyết định của Toà án cấp sơ thẩm khi bản án hoặc quyết định đó chưa có hiệu lực pháp luật, không đảm bảo tính hợp pháp và tính có căn cứ.
Mặc dù, giữa kháng nghị phúc thẩm của Viện kiểm sát và kháng cáo có nhiều điểm giống nhau nhưng lại có sự khác nhau cơ bản là: kháng cáo chỉ là sự nhân danh cá nhân, tổ chức, cơ quan (tổ chức, cơ quan với tư cách là nguyên đơn dân sự trong vụ 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com án hình sự) để bảo vệ quyền và lợi ích cho mình. Do vậy, những người có quyền kháng cáo chỉ cần không đồng ý với bản án hoặc quyết định của Toà án cấp sơ thẩm là đã có quyền kháng cáo. Còn kháng nghị phúc thẩm của Viện kiểm sát là việc thực hiện chức năng nhiệm vụ theo luật định và chỉ kháng nghị bản án, quyết định sơ thẩm nếu phát hiện bản án, quyết định đó có sai lầm trong việc đánh giá chứng cứ hoặc áp dụng pháp luật. Viện kiểm sát thực hiện quyền kháng nghị phúc thẩm nhằm bảo vệ các lợi ích hợp pháp của nhà nước, xã hội; các quyền và lợi ích chính đáng của bị cáo cũng như quyền lợi của các đương sự trong vụ án hình sự.
Viện kiểm sát thực hiện kháng nghị phúc thẩm bằng một văn bản pháp lý trong đó nêu rõ lý do của việc kháng nghị (khoản 2 Điều 233), đồng thời yêu cầu Toà án cấp phúc thẩm xét xử lại vụ án hoặc xét lại các quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật, nhằm sửa chữa khắc phục các sai lầm của Toà án cấp sơ thẩm (nếu có) khi ra các bản án hoặc quyết định đó. Tuy nhiên, một vấn đề đang đặt ra là: kháng nghị phúc thẩm hình sự của Viện kiểm sát là thực hiện chức năng thực hành quyền công tố hay chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp? Về vấn đề này trong thực tiễn cũng như lý luận còn nhiều quan điểm khác nhau. Quan điểm của một số cán bộ, Kiểm sát viên Viện kiểm sát thành phố Hải Phòng cho rằng: kháng nghị phúc thẩm hình sự là thực hiện chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp của Viện kiểm sát. Theo quan điểm này, chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tư pháp của Viện kiểm sát được thực hiện từ khi khởi tố vụ án hình sự - đến giai đoạn thi hành bản án hoặc quyết định của Toà án.
Chức năng kiểm sát của Viện kiểm sát là một hoạt động bao trùm, xuyên suốt quá trình tố tụng. Còn quyền công tố của Viện kiểm sát chỉ được thực hiện ở giai đoạn truy tố và xét xử vụ án hình sự tại phiên toà. Thực hiện chức năng kiểm sát tức là đã bao gồm việc thực hiện quyền công tố. Cũng theo quan điểm này, thông qua hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật tại phiên toà, 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com kiểm sát các bản án, quyết định của Toà án, Viện kiểm sát phát hiện vi phạm thì mới ban hành kháng nghị.
Nếu hiểu theo quan điểm này thì chưa thật chính xác so với các quy định của pháp luật nước ta như Điều 137 Hiến pháp năm 1992 sửa đổi quy định: “Viện kiểm sát nhân dân tối cao thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp, góp phần bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất. Các Viện kiểm sát nhân dân địa phương, các Viện kiểm sát quân sự thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp do luật định”. Ngay Điều 23 Bộ luật tố tụng hình sự hiện hành cũng quy định: “Viện kiểm sát thực hành quyền công tố trong tố tụng hình sự, quyết định việc truy tố người phạm tội ra trước Toà án. Viện kiểm sát kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự có trách nhiệm phát hiện kịp thời vi phạm pháp luật của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng, áp dụng những biện pháp do Bộ luật này quy định để loại trừ việc vi phạm pháp luật của những cơ quan hoặc cá nhân này.
Viện kiểm sát thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự nhằm đảm bảo mọi hành vi phạm tội đều phải được xử lý kịp thời; việc khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội”. Như vậy, có thể khẳng định Viện kiểm sát có hai chức năng rất rõ ràng là kiểm sát việc tuân theo pháp luật và thực hành quyền công tố Nhà nước. Điều này cũng được khẳng định một lần nữa tại các Điều 12, Điều 18 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002. Trong suốt quá trình tố tụng, Viện kiểm sát thực hiện đồng thời cả hai chức năng này.
Theo quan điểm của tiến sỹ Dương Thanh Biểu, Phó viện trưởng - Viện kiểm sát nhân dân tối cao thì: “Kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm là một trong những hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân nhằm thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử vụ án hình sự” [30, tr 3]. Theo quan 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com điểm này, chức năng công tố của Viện kiểm sát chỉ có thể thực hiện ở giai đoạn truy tố và giai đoạn xét xử vụ án hình sự. Do đó, khi Viện kiểm sát thực hành quyền công tố tại phiên toà, nếu phát hiện có vi phạm pháp luật cần kháng nghị, Viện kiểm sát đã có quyền kháng nghị phúc thẩm mà không đợi thông qua hoạt động kiểm sát bản án, quyết định của Toà án. Quan điểm khác đã khẳng định được Viện kiểm sát có hai chức năng là thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp nhưng vẫn có những hạn chế: một là, nếu hiểu quyền công tố theo quan điểm này thì chưa thật toàn diện, bởi lẽ nội dung và phạm vi của quyền công tố rộng hơn nhiều.
Đó là quyền của Nhà nước giao cho cơ quan chức năng để thực hiện việc buộc tội đối với những người thực hiện hành vi phạm tội nhằm bảo vệ các lợi ích của xã hội, của tập thể, của các tổ chức và công dân. Quyền công tố của nhà nước xuất hiện từ thời điểm có hành vi phạm tội xảy ra và được giao cho Viện kiểm sát. Quyền công tố được thể hiện ở những mức độ và hình thức khác nhau tuỳ thuộc vào tư cách tham gia tố tụng của Viện kiểm sát trong mỗi giai đoạn tố tụng cụ thể. Để đảm bảo thực hiện chính xác quyền quyết định đưa vụ án ra toà, cần khẳng định phạm vi chức năng công tố bao gồm cả trong hoạt động kiểm sát điều tra, kiểm sát xét xử…mà không nên đồng nhất quyền công tố với một số biện pháp pháp lý như làm cáo trạng, luận tội…mà khi thực hành quyền công tố Viện kiểm sát nhân dân đã thực hiện.
Tại Điều 12, Điều 13 Luật tổ chức nhân dân năm 2002 khẳng định, trong giai đoạn điều tra Viện kiểm sát nhân dân thực hiện cả hai chức năng là thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc điều tra các vụ án hình sự của các cơ quan điều tra và các cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra. Điều 112 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 quy định về nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của Viện kiểm sát khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra đã khẳng định điều đó một lần nữa. Hai là, Viện kiểm sát thực hiện quyền kháng nghị không chỉ thông 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com qua hoạt động thực hiện chức năng công tố trong giai đoạn xét xử vụ án hình sự mà còn thông qua hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật tại phiên toà, qua nghiên cứu bản án, quyết định của Toà án gửi cho Viện kiểm sát. Vì tại phiên tòa và sau phiên toà, Viện kiểm sát không chỉ thực hiện một chức năng duy nhất là công tố mà còn thực hiện cả chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Toà án.
Thực tiễn hoạt động kháng nghị phúc thẩm của Viện kiểm sát cũng chứng minh điều đó. Có rất nhiều bản kháng nghị của Viện kiểm sát được ban hành thông qua hoạt động kiểm sát bản án, quyết định của Toà án. Quan điểm của lãnh đạo và đa số cán bộ, Kiểm sát viên thành phố Hải Phòng cho rằng: kháng nghị phúc thẩm hình sự của Viện kiểm sát vừa để thực hiện chức năng thực hành quyền công tố, vừa thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động xét xử của Toà án. Đây là quan điểm phổ biến hiện nay, phù hợp với các quy định hiện hành của pháp luật.
So với quan điểm thứ nhất và thứ hai, quan điểm thứ ba đã hiểu đúng bản chất của cơ quan Viện kiểm sát. Viện kiểm sát không chỉ có một chức năng kiểm sát mà còn có chức năng thực hành quyền công tố.