đặt vấn đề theo một cách khác: Không thể phủ nhận rằng có một sự phi lý n{o đấy trong đời sống. Thiên nhiên tạo ra một số lượng khổng lồ những sinh linh mà tất cả đều sẽ chết hoặc trước hoặc sau khi đạt đến trạng thái phát triển viên mãn. Cái chết của một thiên t{i như Newton, nơi một trí tuệ phát triển đến trạng thái hoàn hảo dường như lại chẳng là gì ở thời điểm kế tiếp, hiện ra như một sự phi lý nếu người ta không tin vào sự bất tử của linh hồn. Sự phi lý này, gắn liền với kiếp người, đang tiến lên h{ng đầu trong thời đại chúng ta, bởi vì con người đang đứng trước nguy cơ chính mình trở thành phi lý [10].
Nguy cơ con người phương T}y chính mình trở th{nh phi lý gia tăng trong cảm thức có ý nghĩa của người ta về việc đặt ra một tuyệt đối thể trong lịch sử. “Lịch sử như thế đ~ được thần th|nh hóa v{ được chuẩn y qui chế thực tại tối hậu” như ghi nhận của R. Lịch sử, ông nhận thấy, đ~ được nhìn như sự mở phơi v{ thực hiện ý chí và mục tiêu của Thượng đế.” Chẳng hạn, tấn kịch Cơ đốc giáo về cuộc đóng đinh lên thập giá của Jesus; Thượng đế xâm nhập vào lịch sử, v{ như thế can dự vào bao nhiêu những rối rắm đa đoan thế sự cùng những xung đột triền miên”[12]. Vậy thì, người ta có thể làm gì hơn l{ nhận ra một kết thúc trong tiến trình lịch sử.
Và chỉ trong lịch sử mà cuộc h{nh hương của tiến bộ (the pilgrimage of progress) mới có thể được thực hiện.” Chính theo kiểu này mà các học thuyết về tiến bộ, chủ nghĩa thiên niên kỉ (millenarianism) và chủ nghĩa không tưởng (utopianism) đ~ góp mặt như l{ những thành phần cốt yếu của chủ nghĩa duy sử (historicism)-[13]. Camus nhận xét rằng cuộc cầu toàn trong lịch sử (the quest for perfection in history) nghịch lý thay, lại được đ|nh dấu bởi “những Không tưởng tuyệt đối chúng tự hủy hoại mình, trong Lịch sử, bởi cái giá mà chúng ra tối hậu thư để khăng khăng đòi hỏi”. Camus không nói rằng sự phi lý này hay kinh nghiệm về phi lý tự nó mang lại điểm tựa có tính kết luận cho giả định l{ không có Thượng đế hay cứu cánh siêu việt n{o trong vũ trụ. Đơn giản là ông chỉ quan tâm với vấn đề thường ng{y, nhưng vẫn thuộc về triết học, đó l{ làm thế n{o để sống trong một thế giới m{ chúng ta thường xuyên cảm nghiệm như l{ xa lạ, hững hờ, bất công và thiếu vắng một ý nghĩa tuyệt đối có thể được giải minh một cách thuần lý.
Tuy nhiên phi lý có thể được nhìn thấy như l{ bao h{m một kinh nghiệm vốn sẽ cản trở khả năng của chúng ta sống một c|ch bình thường với những sự việc hàng ngày. Quả thật, phi lý thường được đồng hóa với nỗi kinh hoàng, sự tuyệt vọng, và cả tự tử. Schrader nói: Ai đ~ đọc, dầu chỉ loáng thoáng, triết học hiện sinh, cũng đều biết rằng c|c nh{ tư tưởng hiện sinh coi là quan trọng những hiện tượng như nỗi kinh hoàng, sự ưu tư xao xuyến hay cảm thức tuyệt vọng. Một v{i người đọc đ~ kết luận rằng để trở thành một nh{ tư tưởng hiện sinh người ta chỉ cần cường điệu theo kiểu suy nghĩ ủ ê sầu đời cái khía cạnh đen tối hơn của cuộc sống v{ vũ trụ hóa nỗi ưu tư xao xuyến của mình (cosmologize his anguish) [16].
Thế nhưng, khó m{ có thể cho rằng khái niệm của Camus về phi lý (notion of the absurd) kéo theo một ý thức khốn khổ (conscience malheureuse - unhappy consciousness). Mà đúng hơn, chính l{ điều ngược lại. Chính dòng cuối của quyển Huyền thoại Sisyphe nêu lên rằng chúng ta phải tưởng tượng Sisyphe - nhân vật phi lý mang ý thức sắc bén về phi lý (the absurd hero who is acutely conscious of the absurd) - hạnh phúc (Il faut imaginer Sisyphe heureux - We must imagine Sisyphus to be happy). Quả thật triết lý v{ th|i độ sống được phô bày trong tác phẩm của Camus phản ánh một th|i độ lạc quan tinh tế và niềm vui sống: “Trong không khí rộn r{ng hoa l| xinh tươi, giữa đất trời phong nhiêu phồn mậu, dường như con người chỉ có mỗi nhiệm vụ là sống và tận hưởng hạnh phúc”, đó l{ lời bình tiêu biểu của Camus trong A Happy Death[17].
Thomas Hanna nhận định rằng chủ nghĩa bi quan thầm lặng (the quiet pessimism) của Camus về tương lai được đặt nền tảng trên sự hiểu biết của ông về sự lẫn lộn và nỗi xao xuyến của con người hiện đại cố gắng để sống trong một thế giới mà mình vừa chợt nhận ra Trông lên Thượng đế đi rồi, Hỏi mây thái cổ con người vân vi (Nguyễn đức Sơn)[18]. Nhưng nếu Camus bi quan một cách thầm lặng, thì trong tư tưởng của ông vẫn còn không gian dành cho chủ nghĩa lạc quan thầm lặng (quiet optimism).” V}ng, tôi có thể nói rằng, dầu bi quan với định mệnh con người nhưng tôi lại lạc quan về con người” [19]. Trong khi ý thức về phi lý có thể khởi phát từ một “xung đột bất hạnh” chúng ta chỉ có một hy vọng duy nhất để đạt đến hạnh phúc đích thực. Đó l{ sống mà không hy vọng thoát khỏi thân phận phi lý của con người (man’s absurd condition) bằng cách tìm kiếm những hệ thống tư tưởng chủ tuyệt đối (absolutist systems of thought).
V{ như thế, trong một tình trạng dường như nghịch lý, chúng ta có thể hy vọng liệu chúng ta có học được cách sống mà không hy vọng hay không. Một điều kiện cần nhưng chưa phải l{ đủ để có hy vọng sống trong một c|ch có ý nghĩa v{ xứng đ|ng với phẩm gi| l{m người là ngưng hy vọng đến bất kỳ một quan điểm tuyệt đối nào về thực tại nó sẽ ban ý nghĩa cho cuộc đời của chúng ta. “Bị tước bỏ hy vọng không có nghĩa l{ tuyệt vọng,” Camus nói [20]. Sống không hy vọng không còn kéo theo tuyệt vọng cũng như việc thừa nhận phi lý không hề kéo theo chủ nghĩa hư vô.
Đối với Camus, không hề có tình trạng ph}n đôi giữa những người, giống như Sisyphe, có sự nhìn nhận về phi lý và những người không có. Mọi người, lúc n{y lúc kh|c, đều có ý thức về phi lý nhưng không phải ai cũng giống như Sisyphes chọn cách sống với nó mà không hy vọng thoát khỏi nó. Có nhiều con đường để “đ{o tho|t”. Chúng gồm cả việc mưu s|t có toan tính ý thức của chính mình.
Chúng là, ta có thể nói, những kiểu tự tử. Có những kiểu tự tử, siêu hình hay thể lý, cung cấp lối thoát cho ý thức chúng ta. Còn có cả kiểu “tự tử chuyên nghiệp” hay người vận dụng chính tư tưởng mạn tính về tự tử (the chronic thought of suicide) như một phương tiện đ{o tho|t. Vậy nên, như Tiến sĩ Frieda Fromm nói: Đối với những lo toan và những cuồng tưởng về tự tử, thì lời nói của triết gia Đức, Nietzsche, có thể tỏ ra hữu ích khi đề cập chúng theo kiểu tâm trị liệu: “Ý nghĩ tự tử đ~ giải cứu được nhiều cuộc đời” nghĩa l{ việc nhận ra rằng người ta đượ tự do chấm dứt cuộc sống của mình nếu như và khi nào gánh nặng đời sống trở nên không còn chịu nỗi, đ~ giúp cho nhiều người đương đầu với những khó khăn về cảm xúc trong khi sống [21].
Điều quan trọng là cần phân biệt “tự tử” thường được hiểu theo cách của nhà tâm bệnh học với “tự tử siêu hình (metaphysical suicide).” Sự tự tử này tự giết mình, bởi vì, trên bình diện siêu hình, nó bị gây nhiễu,” như Camus nói. Chúng ta ph}n biệt giữa người chỉ tìm c|ch vượt qua những áp lực thông thường của cuộc sống hàng ngày với người tra vấn chính ý nghĩa của cuộc sống hàng ngày. Khoa học và phần lớn các kỹ thuật tâm trị liệu dường như liên quan đến những khó khăn về cảm xúc h{ng ng{y song hình như chúng bất lực trong việc đương đầu với một thứ rối loạn siêu hình s}u xa hơn, như được diễn tả trong Steppenwolf (Sói đồng hoang) của Hermann Hesse: Và ở đ}y cần x|c định rõ rằng nếu chỉ gọi những ai thực sự tự hủy hoại mình mới là những người tự tử thì như thế là sai lầm. Quả thật trong số những người này, có nhiều người, hiểu theo một nghĩa n{o đấy, là những người tự tử chỉ bởi tình cờ và trong tồn tại của họ việc tự tử không có một vị trí tất yếu.
Trong đ|m “trung nh}n dĩ hạ”có rất nhiều kẻ với nhân cách nhỏ bé và chẳng hề được ghi dấu ấn sâu của số mệnh, những kẻ kết liễu đời mình bằng tự tử mà không thuộc vào típ người tự tử vì khuynh hướng bẩm sinh: trong khi đ{ng kh|c. Trong số những người tự tử thực sự thường là ta sẽ thấy những bản tính kiên cường, sôi nổi và gan dạ.những gì được nói trên đ}y về đề tài những người tự tử rõ ràng chỉ mới chạm đến bề mặt. Đó mới chỉ là chuyện của tâm lý học và do vậy, có một phần thuộc vật lý. Xét về phương diện siêu hình, vấn đề có một phương diện kh|c v{ rõ r{ng hơn nhiều.
Trong phương diện này, những người tự tử hiện ra như những kẻ bị ập xuống bởi cảm thức tội lỗi gắn liền với các cá nhân, những tâm hồn nhìn thấy mục đích của đời sống không phải nơi sự hoàn thiện v{ khuôn đúc tự ng~, nhưng trong việc tự giải thoát bằng cách trở về với quê mẹ, với Thượng đế, với toàn thể. Rất nhiều trong số những bản tính này hoàn toàn không có khả năng một lúc n{o đó cầu cứu đến giải pháp tự tử thật sự, bởi vì họ có ý thức sâu sắc về tội lỗi nếu l{m như thế. Đối với chúng tôi, tuy vậy họ vẫn là những kẻ tự tử [23]. Camus gợi ý rằng người ta có thể nói “không” với tự tử hay với chủ nghĩa hư vô v{ nói “có” với việc sống hạnh phúc với phi lý mà không hy vọng, và vẫn không mâu thuẫn.
Con người phi lý nói vâng và do vậy cố gắng của hắn sẽ là bất tuyệt (The absurd man say yes, and his effort will henceforth be unceasing). Trong sự thực hiện này, lẽ ra sẽ là nỗi đau giằng xé, nhưng tr|i lại, cũng chính l{ khúc khải hoàn của hắn (In this realization which should be his torment, lies, on the contrary, his victory)[24]. Vắn tắt một lời, Camus cung tiến chúng ta niềm hy vọng để sống mà không hy vọng đạt đến, bằng khái niệm, chân lý tuyệt đối (Camus offers us a hope for living without the hope of conceptually obtaining absolute truth).