CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH GIÁO DÂN TRONG GIÁO XỨ LỘC HOÀ 1.1 Thao tác hoá khái niệm Chúng tôi làm rõ khái niệm thờ cúng tổ tiên, thế giới bên kia theo cách hiểu truyền thống của người Việt và theo cách hiểu của người Công giáo liên quan đến nội dung của luận văn. Thờ là từ Việt cổ, gốc Nam Á, có ý bao hàm một hành động, biểu hiện sự sùng kính của con người với đối tượng nào đấy. Theo Từ điển tiếng Việt thì thờ là tỏ lòng tôn kính thần thánh, vật thiêng hoặc linh hồn người chết bằng hình thức lễ nghi cúng bái theo phong tục hoặc tín ngưỡng1. Cúng xuất phát từ chữ cung trong tiếng Hán nghĩa là cung cấp cung ứng, nó vừa có tính tôn giáo (dâng lên) vừa có tính thế tục (cung ứng).
Theo Từ điển tiếng Việt thì cúng là dâng lễ vật lên thần thánh hoặc linh hồn người chết, thường có thắp hương, khấn vái theo tín ngưỡng hoặc phong tục cổ truyền2. Như vậy cúng là biểu hiện ra bên ngoài của cái tâm thờ, thể hiện bằng các nghi lễ theo phong tục. Thờ cúng là thuật ngữ dành riêng cho hoạt động chỉ niềm tin tôn giáo. Bất kỳ tín ngưỡng tôn giáo nào muốn tồn tại phải có những hành vi thờ cúng, hành vi này liên quan đến niềm tin, được thực hiện bởi cộng đồng thông qua các chức sắc, những người làm nghi lễ tôn giáo hoặc mỗi cá nhân tự thực hiện dưới sự chỉ dẫn của hệ thống giáo lý hoặc những nguyên tắc theo sự truyền miệng, theo thói quen từ đời này sang đời khác.
Những hoạt động thờ cúng đó thường được gọi là những nghi lễ. Nghi lễ là sự kết nối mối quan hệ giữa con người ở cuộc sống trần gian với thế giới của các thế lực siêu nhiên ở thế giới bên kia, những nghi lễ đó làm cho nội dung tín 1 Hoàng Phê (chủ biên) (2011), Từ điển tiếng Việt, Nxb.365 10 ngưỡng tôn giáo trở nên sống động, phổ quát, gần gũi với cuộc sống của con người qua việc thực hành các hành vi tôn giáo. Tổ tiên theo Từ điển tiếng Việt thì chỉ những thế hệ đầu tiên, qua đời đã lâu của một dòng họ hay một dân tộc, trong quan hệ với thế hệ sau này3. Đối với người Việt, tổ tiên không chỉ là những người sinh ra mỗi người chúng ta như ông bà cha mẹ, hoặc có quan hệ huyết thống như anh chị em, cô bác.
Mà còn được hiểu theo nghĩa rộng hơn rất nhiều, nó vượt ra ngoài quan hệ huyết thống “Thờ cúng tổ tiên được hiểu theo nghĩa rộng, không chỉ thờ những người có công sinh dưỡng đã khuất, nghĩa là những người có cùng huyết thống, mà thờ cả những người có công với cộng đồng làng xã, đất nước”4. Ở cấp bậc làng xóm là các vị thành hoàng, những người có công với làng xã, những bậc tổ nghề đã truyền lại nghề nghiệp, những bậc tài đức được cả làng xóm trọng vọng. Ở cấp quốc gia là các vị anh hùng có công xây dựng bảo vệ đất nước. Tổ tiên chung của người Việt ở cấp quốc gia chính là Hùng Vương.
Hùng Vương được xem là người khai sinh, xây dựng và bảo vệ đất nước này. Sở dĩ người Việt có một cách hiểu tổ tiên rộng lớn như vậy mà không chỉ dừng lại ở quan hệ huyết thống là do ý thức về truyền thống “uống nước nhớ nguồn”, phải biết ơn thờ cúng những người đã đem lại cuộc sống hạnh phúc cho mỗi người và những người này tất nhiên không chỉ là người có cùng huyết thống. Người Việt thường hay nói chúng ta có được ngày hôm nay là nhờ công đức của các bậc tiền nhân đi trước. Tiền nhân ở đây chính là chỉ tổ tiên theo nghĩa rộng.
Hơn nữa người Việt luôn ý thức về nguồn gốc của mình. Truyền thuyết mẹ Âu Cơ đẻ ra cái bọc trăm trứng, rồi sau đó chia nhau lên rừng, xuống biển xây dựng và cai quản đất nước Việt Nam này. Vì vậy tất cả người sống trên đất nước Việt Nam này đều là anh em. Người Việt thường hay tự hào mình là “con Lạc cháu Hồng, giống Rồng Tiên”.1568 4 Đặng Nghiêm Vạn (chủ biên) (1996), Về tôn giáo tín ngưỡng Việt Nam hiện nay, NXb.
Khoa học xã hội, Hà Nội, T.315 11 Như vậy, thuật ngữ thờ cúng tổ tiên là chỉ lòng tôn kính, tưởng nhớ của con cháu đối với công ơn mà tổ tiên đã để lại, thể hiện qua các hình thức nghi lễ và cúng vái theo phong tục, văn hoá của từng dân tộc, được thực hiện bởi cộng đồng nhất định, đối với xã hội Việt Nam thì thực hiện trong gia đình, dòng họ hoặc làng xã. Trong bài viết, chúng tôi có đôi chỗ dùng từ tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên hoặc phong tục thờ cúng tổ tiên là theo thói quen cách nói phổ biến ở Việt Nam hiện nay, chứ chúng tôi không có ý định phân biệt thờ cúng tổ tiên là một tôn giáo hay là một tín ngưỡng. Tuy nhiên chúng tôi cũng nêu một vài suy nghĩ của mình về việc sử dụng thuật ngữ tôn giáo hay tín ngưỡng đối với phong tục thờ cúng tổ tiên của người Việt để cho bài viết được mạch lạc, rõ ràng hơn. Theo quan niệm thông thường thì muốn được gọi là tôn giáo phải có các tiêu chí với hệ thống giáo hội, giáo chủ, giáo lý và giáo đường.
Trước đây người ta hay hiểu tôn giáo là bậc phát triển cao, tín ngưỡng thì chỉ giống như một tập tục theo thói quen không có các tiêu chí trên nên tín ngưỡng là hình thức thấp của tôn giáo, là một điều kiện cho tôn giáo tồn tại và mở rộng. Vì vậy người ta xem thờ cúng tổ tiên như là một tôn giáo bậc thấp. Tuy nhiên ngày nay, quan niệm của đa số các nhà nghiên cứu cho rằng tín ngưỡng không phải là hình thức thấp hơn của tôn giáo, thờ cúng tổ tiên cũng không phải là một tôn giáo bậc thấp. Lấy Công giáo được gọi là tôn giáo và thờ cúng tổ tiên được gọi là tín ngưỡng để so sánh ta thấy đây là hai hình thức tôn giáo thể hiện tư duy, quan điểm của con người ở những nền văn hoá khác nhau.
Công giáo với hệ thống giáo lý, tín điều nói đến thuyết sáng thế và cứu thế, hướng con người đến niềm tin vào sự cứu cánh sau cái chết, cuộc sống trần thế chỉ là giai đoạn chuẩn bị cho cuộc sống vĩnh hằng sau khi chết. Thờ cúng tổ tiên không có thuyết sáng thế và cứu thế, thể hiện niềm tin của con người vào lực lượng siêu nhiên nhưng không phải hi vọng vào sự cứu cánh cuộc sống sau cái chết mà chính là cầu cho cuộc sống hiện tại được hạnh phúc, được hình thành nên từ quần chúng và được lưu truyền từ đời này qua đời khác tạo thành nếp sống xã hội. Về mục đích thì tín ngưỡng trong nội dung này và mục đích của 12 tôn giáo hoàn toàn khác nhau 5. Vì vậy không thể nói tín ngưỡng là hình thức thấp của tôn giáo mà là một tên gọi khác, hình thức khác của tôn giáo chỉ sự khác biệt của tôn giáo văn hoá Việt Nam so với tôn giáo văn hoá phương Tây.
Đối với người Việt Nam, văn hoá Việt Nam thì thờ cúng tổ tiên cũng có thể gọi là tôn giáo, tôn giáo của người Việt, bởi vì việc thờ cúng mang tính chất tôn giáo trong đó. Mọi người thờ cúng tổ tiên không chỉ là lòng hiếu kính mà còn là lòng tin vào thế lực siêu nhiên ở đây chính là các bậc tiền nhân. Tuy không có giáo chủ, giáo lý nhưng hầu như ai cũng tin theo và thực hành những nghi lễ tương tự nhau. Quan điểm của nhà nghiên cứu Toan Ánh thì cho rằng “Việc thờ phụng tổ tiên không phải là thứ tôn giáo mà là lòng thành kính và biết ơn của con người đối với người đã khuất”6.
Tuy nhiên linh mục Cléopold Cadière khi nghiên cứu về văn hoá tôn giáo của người Việt thì lại cho rằng“Đối với những người tiên tiến thì xem việc thờ cúng ông bà như là một nghi thức lễ nghi truyền thống và trút bỏ ý niệm hoặc cảm thức tôn giáo nhưng đó là trường hợp ngoại lệ. Đối với đông đảo quần chúng người Việt ông bà vẫn tiếp tục là thành phần trong gia đình và việc thờ cúng họ rõ ràng là đậm nét tôn giáo”7. Điều đó cho thấy tính chất tôn giáo trong việc thờ cúng tổ tiên. Cléopold Cadière coi thờ cúng tổ tiên là một tôn giáo của người Việt.
Thủ tướng Phạm Văn Đồng khi nghiên cứu về tôn giáo Việt Nam thì cho rằng “Từ xa xưa, dân tộc Việt Nam ta không có tôn giáo theo nghĩa thông thường của nhiều nước khác. Còn nói tôn giáo là thờ cúng thì mọi người đều thờ cúng ông bà”8. Cách phân chia tôn giáo hay tín ngưỡng là theo cách của người châu Âu còn theo cách hiểu thông thường thì cả hai đều thể hiện niềm tin của con người vào một thế giới siêu nhiên, thế giới đó tác động chi phối đến con người. Vì vậy không thể lấy quan 5 Nguyễn Đăng Duy (2001), Các hình thái tín ngưỡng tôn giáo ở Việt Nam, Nxb.Văn hoá thông tin, Hà Nội, T.24 6 Toan Ánh (2005), Nếp cũ tín ngưỡng Việt Nam, Nxb.Trẻ, Hồ Chí Minh, T.22-23 7 Cléopold Cadière (2010), Về văn hoá và tín ngưỡng truyền thống người Việt, tập 1, Người dịch: Đỗ Trinh Huệ, Nxb.Thuận Hoá, Huế, T.105 8 Phạm Văn Đồng (1994), Văn hoá và đổi mới, Nxb.Chính trị quốc gia, Hà Nội, T.75 13 điểm về tôn giáo của châu Âu làm chuẩn mực để soi vào tôn giáo của các dân tộc khác.
Ngay như Phật giáo được xem là một tôn giáo với hệ thống giáo chủ, giáo lý, giáo hội, nơi thờ tự nhưng không có thuyết sáng thế như Công giáo. Điều đó cho thấy văn hoá quyết định tôn giáo, văn hoá khác nhau thì tôn giáo cũng mang những đặc điểm khác nhau, nếu muốn hiểu tôn giáo của một quốc gia, dân tộc trước tiên phải hiểu về văn hoá của dân tộc đó. Vì vậy việc xếp thờ cúng tổ tiên là một tôn giáo hay là tín ngưỡng thì theo chúng tôi điều đó cũng không cần thiết. Thờ cúng tổ tiên vừa mang tính phổ quát nhưng cũng mang tính khu biệt đối với từng nhóm xã hội, tôn giáo khác nhau.
Đối với người Công giáo thì hiểu theo tín lý Công giáo thì không có thuật ngữ thờ cúng tổ tiên. Người Công giáo chỉ dùng chữ Adoration có nghĩa là thờ lạy dành cho một mình Thiên Chúa, còn chữ cúng thì không có. Đối với các Thánh hoặc mẹ Maria trong Công giáo cũng chỉ có địa vị là được tôn kính chứ không tôn thờ.