phần mở đầu, phần kết luận và phụ lục, tài liệu tham khảo, bố cục của luận văn đƣợc chia thành 4 chƣơng, cụ thể nhƣ sau: CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN: tổng hợp những quan điểm khác nhau về thành ngữ trong tiếng Việt và tiếng Thái, chỉ ra khái niệm thành ngữ có từ chỉ động vật và bƣớc đầu giới thiệu những đặc trƣng cơ bản của văn hóa Việt Nam và Thái Lan. CHƢƠNG 2: THÀNH NGỮ CÓ TỪ CHỈ ĐỘNG VẬT TRONG TIẾNG VIỆT: thống kê các thành ngữ có từ chỉ động vật trong tiếng Việt, sau đó phân tích các thành ngữ đó về mặt cấu trúc và ngữ nghĩa. CHƢƠNG 3: THÀNH NGỮ CÓ TỪ CHỈ ĐỘNG VẬT TRONG TIẾNG THÁI: 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thống kê các thành ngữ có từ chỉ động vật trong tiếng Thái, sau đó phân tích các thành ngữ đó về mặt cấu trúc và ngữ nghĩa. CHƢƠNG 4: ĐẶC TRƢNG VĂN HÓA VIỆT NAM VÀ THÁI LAN QUA THÀNH NGỮ CÓ CÓ TỪ CHỈ ĐỘNG VẬT: so sánh các thành ngữ có từ chỉ động vật trong tiếng Việt và tiếng Thái, từ đó chỉ ra sự tƣơng đồng cũng nhƣ khác biệt trong đặc trƣng văn hóa Việt Nam và Thái Lan qua các thành ngữ đó.
7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. Khái niệm thành ngữ trong tiếng Việt Tìm hiểu về khái niệm thành ngữ trong tiếng Việt, các nhà nghiên cứu đã đƣa ra những quan điểm có nhiều nét tƣơng đồng. Dƣơng Quảng Hàm trong “Việt Nam văn học sử yếu” định nghĩa: “Thành ngữ là những lời nói có sẵn để ta tiện dùng mà diễn đạt một ý gì hoặc một trạng thái gì cho có màu mè” [7, tr. Cụ thể hơn, Nguyễn Văn Mệnh diễn giải trong “Vài suy nghĩ góp phần xác định khái niệm thành ngữ tiếng Việt”: “Thành ngữ là một đơn vị ngôn ngữ có sẵn.
Chúng là những ngữ có kết cấu chặt chẽ và ổn định, mang một ý nghĩa nhất định, có chức năng định danh và được tái hiện trong giao tế” [14, tr. Đồng quan điểm, Cù Đình Tú trong “Góp ý kiến phân biệt về thành ngữ và tục ngữ” viết: “Thành ngữ là những đơn vị có sẵn, mang chức năng định danh, nói khác đi dùng để gọi tên sự vật, tính chất, hành động” [25, tr. Để làm rõ khái niệm thành ngữ trong tiếng Việt, trƣớc tiên tôi muốn đặt khái niệm này trong so sánh với các khái niệm có đôi nét tƣơng đồng là từ ghép, quán ngữ và tục ngữ. Từ ghép và thành ngữ, theo phân tích của Nguyễn Thiện Giáp, đƣợc khu biệt bởi tính cố định của ngữ, “được đo bằng khả năng mà yếu tố đó có thể dự đoán sự xuất hiện đồng thời của các yếu tố còn lại của kết hợp” [6, tr.72] Có thể dẫn ra đây một số ví dụ về tính cố định nhƣ từ qué trong gà qué, nhẹn trong nhanh nhẹn, hay ngồi trốc trong ăn trên ngồi trốc.
Tuy nhiên thành ngữ đƣợc tách ra thành một nhóm độc lập trong ngữ cố định, phân biệt với từ ghép bởi tính thành ngữ. Cũng theo cách diễn giải của Nguyễn Thiện Giáp, “một tổ hợp được coi là có tính thành ngữ khi ý nghĩa chung của nó là một cái gì mới, khác với tổng số ý nghĩa của những bộ phận tạo thành… Một tổ hợp được coi là có tính thành ngữ nếu trong đó có ít nhất một từ khi dịch toàn bộ tổ hợp người ta phải dịch từ ấy bằng một yếu tố mà yếu tố đó chỉ tương đương với từ ấy 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com khi từ ấy xuất hiện đồng thời với tất cả các yếu tố còn lại của tổ hợp (trong trật tự nhất định). Thêm vào đó, từ này có thể được gặp cả khi không có các yếu tố còn lại và khi ấy nó được dịch bằng một yếu tố khác” [6, tr. Theo đó, ý nghĩa của cụm từ bờ xôi ruộng mật không phải tổng hợp các ý nghĩa của từng từ trong cụm từ mà mang một ý nghĩa mới hoàn toàn so với ý nghĩa của các thành tố cấu tạo nên là ruộng đất màu mỡ, phì nhiêu, dễ làm ăn.
Từ xôi và mật cũng có cách định nghĩa duy nhất là màu mỡ, phì nhiêu khi đứng trong cụm từ này. Nhƣ vậy trong tƣơng quan với từ ghép, thành ngữ đƣợc hiểu là một cụm từ cố định có tính độc lập về ý nghĩa so với các đơn vị cấu thành nên nó. Nói nhƣ Nguyễn Văn Mệnh thì “Trước hết, thành ngữ phân biệt với từ ghép ở phạm vi rộng hẹp và ở mức độ nông sâu trong nội dung ý nghĩa của chúng … Nếu từ ghép chỉ nêu lên khái niệm chung về sự vật, hoạt động, tính chất, hoặc trạng thái, thì các thành ngữ tương ứng lại hàm chứa một nội dung rộng lớn hơn và sâu sắc hơn. Thành ngữ không chỉ nêu lên một khái niệm về sự vật, về hoạt động, về tính chất trạng thái và còn nói rõ thêm những sự vật và những hoạt động đó như thế nào, những tính chất và trạng thái ấy đến mức độ nào” [14, tr.
Bàn về cụm từ cố định, có một khái niệm nữa ít nhiều đƣợc đem ra so sánh với thành ngữ, đó là quán ngữ. Quán là thói quen, việc thƣờng xuyên lặp lại, theo Hoàng Phê, quán ngữ là “Tổ hợp từ cố định dùng lâu thành quen, nghĩa có thể suy ra từ nghĩa các yếu tố hợp thành” [19, tr.801], nói tóm lại, nói chung, một mặt thì, mặt khác thì hay của đáng tội, khí không phải, đùng một cái là những ví dụ về quán ngữ. Chiếu theo định nghĩa này, quán ngữ và thành ngữ có nét tƣơng đồng là đều đƣợc hình thành từ thói quen giao tiếp, thƣờng xuyên sử dụng của nhân dân, tạo nên những diễn đạt cố định trong một hoàn cảnh đặc thù nào đó. Tuy nhiên, nếu ý nghĩa của thành ngữ đứng độc lập với ý nghĩa các đơn vị từ cấu thành nên (con ong cái kiến, được giỏ bỏ nơm) thì quán ngữ có thể đƣợc hiểu dựa theo các yếu tố hợp thành (hèn nào, hoài của, khí vô phép).
Thành ngữ nêu ra nhận định về sự vật, sự việc, có chức năng định danh, còn quán ngữ chủ yếu đƣợc dùng để liên kết, đƣa đẩy, nhấn 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com mạnh nội dung nào đó cần truyền đạt. Ngoài ra về mặt cấu trúc, thành ngữ có cấu tạo chặt chẽ hơn quán ngữ, là một diễn đạt hoàn chỉnh, ít hoặc khó thay đổi, trong khi các thành tố tạo nên quán ngữ có thể thêm vào hoặc bớt đi mà không ảnh hƣởng đến việc diễn đạt (nói ngắn gọn, nói một cách ngắn gọn, như sau, như dưới đây vv) Song le, nếu hiểu thành ngữ là đơn vị ngôn ngữ có cấu trúc chặt chẽ, giàu hình ảnh, giàu sắc thái biểu cảm thì ít nhiều có nét tƣơng đồng với tục ngữ. Bàn về sự khác nhau giữa thành ngữ và tục ngữ, đã có nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra sự khác biệt khá rõ ràng giữa hai đơn vị ngôn ngữ này. Tuy cùng là một thể thống nhất, giàu sắc thái biểu cảm, đều đƣợc sử dụng trong giao tiếp nhƣng căn cứ vào hình thức, nội dung và chức năng của mỗi đơn vị, có thể phân biệt thành ngữ và tục ngữ trong tiếng Việt.
Vũ Ngọc Phan đã tổng kết trong Tục ngữ ca dao dân ca Việt Nam [17,tr.27] “Thành ngữ là một phần câu sẵn có, nó là một bộ phận của câu mà nhiều người đã quen dùng, nhưng tự riêng nó không diễn được một ý trọn vẹn.Về hình thức ngữ pháp, mỗi thành ngữ chỉ là một nhóm từ, chưa phải một câu hoàn chỉnh, nói một cách khác, thành ngữ là một cụm từ trơn tru, quen thuộc, được dùng trong câu nói thông thường cũng như được dùng trong tục ngữ ca dao dân ca”. Việc phân biệt thành ngữ và tục ngữ căn cứ theo hình thức ngữ pháp là dựa vào đa số cấu tạo của thành ngữ chỉ là một cụm từ, một ngữ, ví dụ: cao như sếu, chậm như rùa, mèo mả gà đồng vv Trong khi đó tục ngữ là một câu hoàn chỉnh, một thông báo trọn vẹn, ví dụ: học thầy không tầy học bạn, nhà sạch thì mát, bát sạch ngon cơm vv. Một phần vì đặc điểm ngữ pháp này mà thành ngữ không mang tính chất thông báo, không diễn đạt trọn vẹn một ý nghĩa, một bài học kinh nghiệm. Chức năng của thành ngữ là định danh, biểu hiện sự vật, tính chất, hành động, còn chức năng của tục ngữ là truyền tải một thông báo ngắn gọn, súc tích.
Tục ngữ tự thân nó đã bao hàm toàn bộ ý nghĩa, vấn đề cần đề cập, truyền tải đến ngƣời nghe mà ngƣợc lại, khi ngƣời nghe tiếp nhận nó sẽ không phát sinh bất kỳ câu hỏi liên quan đến nội dung truyền đạt. Khác với tục ngữ, khi ngƣời nghe tiếp nhận thông tin từ một thành 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com ngữ sẽ có thể đặt câu hỏi xung quanh thành ngữ đó. Ví dụ thành ngữ lừ đừ như ông từ vào đền, ở đây sẽ có thể đặt câu hỏi ai lừ đừ, chậm chạp; còn đối với câu tục ngữ tham thì thâm, không ai có nhu cầu cần đặt câu hỏi ai hay tại sao tham thì thâm, vì bản thân câu tục ngữ đã truyền tải một bài học đúc kết từ bao đời nay về hậu quả của lòng tham. Cũng cần phải nhắc lại rằng mặc dù có những điểm khác biệt căn bản kể trên, thành ngữ và tục ngữ trong rất nhiều trƣờng hợp khó tách bạch.
Chẳng hạn về kết cấu ngữ pháp, có nhiều thành ngữ có kết cấu hoàn chỉnh nhƣ nước đổ lá khoai, trẻ cậy cha, già cậy con, hay nhƣ chó treo mèo đậy, vắng chủ nhà gà vọc đuôi tôm hoàn toàn có thể đứng riêng biệt thành một câu, thể hiện một nhận định. Tựu chung lại, thành ngữ, qua tham khảo nhận định của các công trình nghiên cứu và theo hiểu biết của ngƣời viết thông qua so sánh với các khái niệm gần kề, là những cụm từ mang ngữ nghĩa cố định (phần lớn không tạo thành câu hoàn chỉnh về mặt ngữ pháp; không thể thay thế và sửa đổi về mặt ngôn từ) và độc lập riêng rẽ với từ ngữ hay hình ảnh mà thành ngữ sử dụng, đƣợc dùng để định danh, nêu lên sự vật, tính chất, hành động, làm tăng tính biểu cảm, bóng bẩy trong giao tiếp. Khái niệm thành ngữ trong tiếng Thái Từ “thành ngữ” trong tiếng Việt, khi chuyển ngữ tƣơng đƣơng sang tiếng Thái là từ “sẳm -nuôn”, Khunwichitmattra [33, tr.