Chương 1: Trần Huyền Trân và thi phái “áo bào gốc liễu” Chương 2: Những nguồn cảm hứng chủ đạo và cái tôi trữ tình trong thơ Trần Huyền Trân Chương 3: Một số phương diện nghệ thuật thơ Trần Huyền Trân 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Lê Thị Hoa Thế giới nghệ thuật thơ Trần Huyền Trân NỘI DUNG Chƣơng 1: TRẦN HUYỀN TRÂN VÀ THI PHÁI “ÁO BÀO GỐC LIỄU” 1. Vài nét về cuộc đời, sự nghiệp và quá trình sáng tạo thơ ca của Trần Huyền Trân 1. Cuộc đời Trần Huyền Trân tên thật là Trần Đình Kim, sinh ngày 13 tháng 9 năm 1913 tại Hà Nội. Quê quán của nhà thơ ở làng Giang, xã Nhân La, huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên.
Ông xuất thân trong một gia đình nghèo, cha mất sớm năm ông 13 tuổi. Mẹ ông rất nghèo, chỉ có một cái vó kéo cá kiếm sống qua ngày. Chính vì vậy, ông có một tuổi thơ hết sức vất vả: học trung học đến năm thứ hai phải bỏ học và làm đủ nghề để kiếm sống: thợ nguội, thợ chiếu phim, dạy học tư, làm báo, viết văn, lập đoàn kịch… Trước Cách mạng tháng Tám 1945, Trần Huyền Trân làm thơ, viết báo, viết văn cho Nhà xuất bản Tân Dân, Tiểu thuyết Thứ bảy, đã từng làm chủ bút báo Bắc Hà, lập đoàn kịch. nhưng những nghề này hầu như không đủ để nuôi sống nhà thơ và gia đình.
Tờ báo Bắc Hà cũng chỉ tồn tại được một thời gian ngắn do không tiêu thụ được. Trần Huyền Trân đã sớm tham gia Mặt trận Việt Minh và Hội Văn hóa Cứu quốc, Báo Cờ Giải phóng, tạp chí Tiên phong (1943). Năm 1945, ông tham gia cướp chính quyền tại Hà Nội và hoạt động tích cực trong phong trào Cách mạng Việt Nam. Trong thời gian này, ông phụ trách công tác kiểm duyệt của Ban tuyên truyền ca kịch – Sở thông tin tuyên truyền Bắc Bộ và trở thành Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam vào tháng 7 năm 1946.
Trong kháng chiến, ông làm Trưởng ban ca kịch nha Thông tin Việt Nam, phụ trách ngành kịch Đoàn văn công Trung ương. 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Lê Thị Hoa Thế giới nghệ thuật thơ Trần Huyền Trân Hòa bình lập lại, Trần Huyền Trân về Ban Sân khấu – Vụ Nghệ thuật phụ trách ngành chèo, đồng thời làm công tác chỉ đạo nghệ thuật, đạo diễn đoàn kịch nói Hà Nội. Sau đó, ông về làm việc tại Sở Văn hóa Hà Nội, Hội Nghệ sỹ Sân khấu Việt Nam. Ông là Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, Ủy viên thường vụ Hội Nghệ sỹ Sân khấu Việt Nam, Ủy viên thường vụ Hội Văn học nghệ thuật Hà Nội.
Trần Huyền Trân mất ngày 22 tháng 4 năm 1989 tại Hà Nội do mắc bệnh hiểm nghèo. Năm 2007, Trần Huyền Trân được truy tặng Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật. Sự nghiệp văn học và quá trình sáng tạo thơ ca của Trần Huyền Trân Trần Huyền Trân là tác giả có sức sáng tạo bền bỉ. Ông bắt đầu làm thơ, viết truyện từ năm 20 tuổi và sớm được độc giả biết đương thời biết đến nhiều bài thơ, truyện ngắn.
Các tác phẩm ông để lại cho kho tàng văn học Việt Nam rất đa dạng, phong phú về thể loại: thơ, truyện ngắn, tiểu thuyết, kịch, kịch thơ, chèo. - Trước năm 1945 Bút danh Trần Huyền Trân được độc giả biết đến chủ yếu là một nhà thơ. Tuy nhiên, trong suốt cuộc đời mình, ông chỉ dành cho thơ khoảng thời gian rất ngắn ngủi, khoảng bảy, tám năm, chủ yếu là từ năm 1939 đến 1946. Trong tổng số 99 bài thơ để lại cho nền thơ ca Việt Nam thì có đến 54 bài thơ ông sáng tác trong giai đoạn này.
Thơ ông thời kỳ này mang những nét đặc trưng nhất cho cả cuộc đời sáng tác thơ Trần Huyền Trân, sức sáng tạo cũng dồi dào nhất, như nhà nghiên cứu Lưu Khánh Thơ đã khẳng định: “Cái tinh anh của Trần Huyền Trân trong thơ đã phát tiết đúng độ của nó rồi. Cái tài hoa của thơ ông cũng đã đạt đến cõi. Cái bản sắc, giọng điệu riêng của ông 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Lê Thị Hoa Thế giới nghệ thuật thơ Trần Huyền Trân cũng đã định hình”. Chính vì lý do trên, trong luận văn này, chúng tôi đã chia con đường sáng tác thơ của Trần Huyền Trân thành hai giai đoạn như vậy.
- Sau 1945: Từ sau năm 1945 trở đi, hoạt động sáng tác văn học chủ yếu của Trần Huyền Trân là ở lĩnh vực sân khấu. Ông ít sáng tác thơ hơn thời kỳ trước (trong hơn 40 năm ông sáng tác 45 bài thơ). Nhưng những bài thơ của ông vẫn chứa chan tình người, tình đời, vẫn là một mạch cảm xúc nối dài từ thời kỳ trước Cách mạng. Trần Huyền Trân là nghệ sỹ có sự nghiệp văn học hết sức phong phú ở nhiều lĩnh vực: tiểu thuyết, thơ, sáng tác kịch bản sân khấu, đạo diễn sân khấu, hoạt động báo chí.
Các tác phẩm chính của Trần Huyền Trân đã xuất bản gồm: Thơ: - Rau tần – thơ – 1986 - Trần Huyền Trân – Rau tần – 1995 - Thơ mới – 1932 – 1945 (in chung). - Thơ Trần Huyền Trân tuyển tập – 2001. Văn: Truyện ngắn: - Chim lồng (Tập truyện ngắn) - Lẽ sống (Tập truyện ngắn) - Phát súng lục, Bài thơ trong chiếc chiến bào, Người trong lau. Tiểu thuyết: - Kẻ phụ tình (1939) - Sau ánh sáng (1940) - Bóng người trên gác kinh (1940) - Tấm lòng người kỹ nữ (1940) 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Lê Thị Hoa Thế giới nghệ thuật thơ Trần Huyền Trân - Người ngàn thu cũ (1942) Sân khấu: Kịch: Phá xiềng, 19-8 (viết chung với Thâm Tâm), Con trâu hai nhà (đạo diễn), Cái máy chém (đạo diễn), Bài bích báo (đạo diễn), Đường dây chiến thắng (đạo diễn), Giờ phút quyết định (đạo diễn).
Kịch thơ: Lên đường (tác giả), Hoàng Văn Thụ (tác giả), Lam Sơn tụ nghĩa (đạo diễn), Sơn Tinh – Thủy Tinh (tác giả). Chèo: - Sưu tầm, cải biên, chỉnh lý các vở chèo cổ: Vân dại (kiêm đạo diễn), Quan âm Thị Kính (kiêm đạo diễn), Trương Viên. - Ngôi nhà mới (tác giả), Người con dâu (tác giả), Vườn cam (đạo diễn), Những cô thợ dệt (viết chung với Việt Dung, Xuân Bình, Cao Kim Điển), Tiếng hát bên nôi (tác giả), Tạ Thị Kiều (tác giả), Câu chuyện ngược dòng (chuyển thể chèo – đạo diễn), Thạch Sanh (đạo diễn), Lửa Hà Nội (tác giả), Tú Uyên Giáng Kiều (tác giả - đạo diễn), Bà má vùng cát trắng (đạo diễn), Ni cô Đàm Vân (chuyển thể chèo – đạo diễn), Cô Thủy (viết chung với Kiều Liên Sơn), Bên sông Như Nguyệt (tác giả). Trần Huyền Trân và thi phái “áo bào, gốc liễu” Thi phái “áo bào gốc liễu” bao gồm ba nhà thơ Nguyễn Bính, Thâm Tâm và Trần Huyền Trân.
Thâm Tâm (1917–1950) tên thật là Nguyễn Tuấn Trình, sinh ngày 12 tháng 5 năm 1917 tại thị xã Hải Dương, tỉnh Hải Dương. Thâm Tâm là nghệ sỹ đa tài, ngoài tài thơ còn vẽ tranh, viết truyện, soạn kịch, minh họa cho sách báo; tuy vậy ông vẫn được người đời biết đến với khả năng làm thơ nhiều hơn cả. Cũng giống như Trần Huyền Trân, Thâm Tâm chỉ được Hoài Thanh dành cho hai trang ít ỏi trong Thi nhân Việt Nam, bao gồm cả phần trích dẫn bài thơ 18 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Lê Thị Hoa Thế giới nghệ thuật thơ Trần Huyền Trân Tống biệt hành. Chỉ với dung lượng ngắn ngủi nhưng nhà phê bình Hoài Thanh qua một bài thơ cũng đã khái quát được nét độc đáo, đặc trưng nhất của thơ Thâm Tâm: “Thơ thất ngôn của ta bây giờ thực có khác thơ thất ngôn cổ phong.
Nhưng trong bài thơ dưới đây lại thấy sống lại cái không khí riêng của nhiều bài thơ cổ. Điệu thơ gấp. Lời thơ gắt. Câu thơ rắn rỏi, gân guốc.
Không mềm mại, uyển chuyển như phần nhiều thơ bây giờ. Nhưng vẫn đượm chút bâng khuâng khó hiểu của thời đại. Nguyễn Bính (1918 - 1967) tên thật là Nguyễn Trọng Bính, quê tại xã Đồng Đội (nay là xã Cộng Hòa), huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định. Trong suốt cuộc đời cầm bút của mình, Nguyễn Bính đã sáng tác nhiều thể loại như thơ, kịch, truyện thơ.
Ông được đông đảo độc giả công nhận như một trong các nhà thơ xuất sắc nhất của thi ca Việt Nam hiện đại. Nguyễn Bính đã từng tự bạch "Tôi là thi sĩ của thương yêu". Quả đúng vậy, Nguyễn Bính là thi sĩ khát khao và trân trọng tình người, Nguyễn Bính trở thành người đồng điệu của nhiều văn nghệ sĩ chân chính, những người suốt đời phấn đấu vì tình thương yêu đồng loại, tình yêu nhân dân đất nước, sống và viết với ước vọng nhân văn cao cả ấy. Khác với Thâm Tâm và Trần Huyền Trân, thơ Nguyễn Bính luôn ngập tràn nét dung dị, mượt mà của ca dao dân tộc.
Trần Huyền Trân là một trong hai nhà thơ hiếm hoi trong Thi nhân Việt Nam không được Hoài Thanh – Hoài Chân trích dẫn nguyên vẹn một bài thơ nào (Trần Huyền Trân và T.Kh), đồng thời lại là thi sỹ cuối cùng khép lại cuốn sách. Có lẽ đó chính là lý do khiến cho Trần Huyền Trân không được nhiều người biết đến. Độc giả thường vẫn nhắc đến Nguyễn Bính và Thâm Tâm nhiều hơn mặc dù so với Thâm Tâm, số lượng tác phẩm của Trần Huyền Trân còn lớn hơn nhiều. Bút danh Trần Huyền Trân khiến rất nhiều người, ngay cả những người trong giới nghệ sỹ băn khoăn.
Nhà văn Nguyễn Huy Tưởng đã từng hỏi Trần 19 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Lê Thị Hoa Thế giới nghệ thuật thơ Trần Huyền Trân Huyền Trân: “Tại sao cậu lại dùng cái bút danh khăn yếm như thế, dẫu cho đó là tên một tuyệt tác giai nhân?”. Nhà văn Tô Hoài cũng đã từng nhận xét cái tên ấy không hợp với dáng dấp nhà thơ “Mày gươm nét mác chữ nhân già – Hàm bạnh hình đồi, lưng cỗi đa”. Và những khi được hỏi những câu hỏi như vậy, nhà thơ Trần Huyền Trân chỉ mỉm cười lặng lẽ. Bởi bút danh ấy của ông gắn với một sự kiện lớn trong đời nhà thơ.
Ngày còn làm báo Bắc Hà, Trần Huyền Trân thuê nhà của mẹ con cô Trần Nguyệt Hiền. Vì hoàn cảnh gia đình khó khăn, cô gái bị mẹ gả bán cho nhà giàu, không bao lâu thì bị trả về nhà với cái thai trong bụng. Sẵn một trái tim giàu lòng nhân ái, nhà thơ đã lấy tên mình khai sinh cho đứa bé. “Trần nối với Trân bằng dấu huyền là Trần Huyền Trân.
đấy là tên đứa bé tội nghiệp và là bút danh” [3, tr.24] của Trần Kim. Thi phái “áo bào gốc liễu” được tạo nên từ chính sự đồng cảm của ba con người cùng cảnh ngộ.