CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ LÝ THUYẾT 1. Những cơ sở lịch sử - xã hội liên quan đến motif hôn nhân giữa người và thần linh Trong mục này, chúng tôi tập trung mô tả, phân tích những cơ sở về lịch sử, xã hội, tư duy có liên quan đến motif hôn nhân giữa người và thần linh để tạo tiền đề cho việc triển khai hai chương sau. Chúng tôi đi sâu, làm rõ ba vấn đề sau: Một là, các hình thái hôn nhân – gia đình con người đã trải qua trong lịch sử nhân loại từ thời nguyên thủy cho đến nay. Hai là, những tiền đề về văn hóa chi phối đến hôn nhân bao gồm tôn giáo và tâm thức gia đình của người Việt Nam.
Ba là, thế giới quan của người nguyên thủy chi phối sự hình thành mối quan hệ hôn nhân giữa người và thần linh. Các hình thái hôn nhân – gia đình con người đã trải qua trong lịch sử nhân loại Trong lịch sử nhân loại có nhiều hình thái hôn nhân khác nhau gắn với từng giai đoạn phát triển của xã hội. Chế độ quần hôn là hình thái hôn nhân tồn tại dưới chế độ thị tộc. Từ đó cho đến nay, dưới các chế độ xã hội: chiếm hữu nô lệ, phong kiến, tư bản chủ nghĩa,.
hôn nhân một vợ một chồng là hình thái hôn nhân được định hình ở trình độ văn minh nhân loại cao nhất. Nó trải qua một quá trình sàng lọc, trải nghiệm và để lại nhiều khát vọng cũng như bi kịch mà đến tận bây giờ vẫn còn những bài học đầy ý nghĩa đối với sự phát triển và tiến bộ của loài người. Cũng cần thấy rằng các hình thái hôn nhân trong xã hội chịu sự chi phối mạnh mẽ của điều kiện kinh tế xã hội. Công trình Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của Nhà nước của F.
Engels là một tác phẩm cơ bản của chủ nghĩa Marx. Nó hình thành dựa trên những nghiên cứu của Lewis H. Tác giả công trình này đã giải thích sự phát triển của các quan hệ gia đình trong các hình thái kinh tế - xã hội khác nhau 15 trong sự phát triển của lịch sử nhân loại. Từ trạng thái quan hệ tính giao tự do, loài người đã trải qua bốn hình thức gia đình.
Đó là gia đình huyết tộc, gia đình punalua, gia đình đối ngẫu và gia đình cá thể. Theo chúng tôi, khái niệm huyết tộc được các dịch giả sử dụng khi mô tả hình thái hôn nhân – gia đình dựa trên sự hôn phối giữa những người có cùng dòng máu hoặc quan hệ họ hàng với nhau dùng để chỉ tổ chức xã hội. Khái niệm đồng huyết và cận huyết là khái niệm sinh hóa, phù hợp để diễn tả mối quan hệ hôn nhân giữa những người cùng dòng máu hoặc có họ hàng với nhau hơn nên trong công trình này, chúng tôi dùng khái niệm gia đình đồng huyết và cận huyết để chỉ hình thái hôn nhân – gia đình đầu tiên trong xã hội loài người. Trong thời kỳ công xã nguyên thủy, khi loài người sống theo bầy đàn, chưa có phân công lao động, quan hệ tính giao còn tự do, những người có quan hệ họ hàng vẫn có thể trở thành vợ hoặc chồng của nhau.
Kiểu hôn nhân này được gọi là quần hôn (hôn nhân giữa những người cùng họ hàng với nhau) và nó thể hiện rõ nét ở hai hình thái gia đình: gia đình đồng huyết và cận huyết; gia đình punalua. Kiểu gia đình đồng huyết và cận huyết thuộc giai đoạn đầu của chế độ quần hôn. Nó thuộc giai đoạn đầu tiên trong lịch sử phát triển của gia đình. Ở đây, quan hệ hôn nhân được xây dựng theo các thế hệ và mỗi thế hệ tập trung thành những nhóm hôn nhân nhất định.
Tất cả ông bà trong phạm vi gia đình đều là vợ chồng của nhau và lập thành một nhóm; con của họ (tất cả bố mẹ) cũng thế và lập thành nhóm thứ hai; con của đời thứ hai (các cháu) lập thành nhóm vợ chồng chung thứ ba;… Kiểu hôn nhân theo trực hệ (giữa cha mẹ và con cái bị loại trừ). Quan hệ họ hàng của anh chị em cũng bao hàm cả việc quan hệ tính giao với nhau. Gia đình đồng huyết và cận huyết đã tiêu tan nhưng theo Engels, chúng ta buộc phải công nhận nó từng tồn tại. Hệ thống thân tộc Hawaii thịnh hành khắp quần đảo Polynesia đang biểu hiện những mức độ thân tộc mà chỉ có hình thức gia đình này mới tạo ra được.
Toàn bộ sự phát triển sau này của gia đình cũng giả định gia đình đồng huyết và cận huyết như là giai đoạn tất yếu đầu tiên. Gia đình punalua là giai đoạn phát triển cao nhất của chế độ quần hôn. Quan hệ tính giao giữa anh chị em với nhau đã bị hủy bỏ. Con người có thể có chung vợ, 16 chung chồng với nhau trong phạm vi một gia đình nhất định nhưng phải loại ra anh em trai của vợ và chị em gái của chồng (bao gồm anh chị em cùng mẹ hoặc có họ hàng).
Ở mọi hình thức gia đình trong chế độ quần hôn, người ta chỉ biết chắc chắn mẹ của một đứa trẻ mà không biết cha của nó. Huyết tộc chỉ tính được về bên mẹ nên nữ hệ được thừa nhận. Trong hình thức gia đình này, một nhóm chị em gái (hoặc một nhóm anh em trai cùng mẹ hay cùng họ của những chị em gái đó) sẽ trở thành thành viên của thị tộc. Họ có một bà mẹ tổ chung nhưng chồng của họ không phải là con của bà mẹ này nên không thuộc thị tộc.
Song con cái của họ thuộc về tập đoàn này vì huyết tộc nữ hệ được thừa nhận. Việc kết hôn với những người không có họ hàng với nhau tạo nên một giống nòi mạnh mẽ hơn về thể chất và trí tuệ. Gia đình đối ngẫu (theo cặp) hình thành khi hôn nhân theo những người có quan hệ họ hàng với nhau bị cấm, ý thức xã hội của con người về hôn nhân phát triển cao hơn, các cặp vợ chồng tách ra thành từng đôi riêng lẻ. Một người đàn ông sống với một người đàn bà nhưng việc có nhiều vợ hay ngoại tình là quyền của họ.
Người đàn bà lại phải tuyệt đối chung thủy nếu không sẽ bị trừng phạt nặng. Tuy nhiên, mối quan hệ hôn nhân có thể bị cắt đứt khi một trong hai bên quyết định và con cái thuộc về mẹ như xưa kia. Con cái được sinh ra vẫn thuộc về thị tộc mẹ như trước nên chúng kế thừa tài sản của mẹ. Hình thái này vẫn còn tàn dư trong cơ chế hôn nhân gia đình ở một số tộc người trên đất nước ta.
Gia đình đối ngẫu chỉ là một đơn vị hôn phối chứ chưa là phải là một đơn vị kinh tế. Thị tộc vẫn là một đơn vị kinh tế cơ bản trong xã hội lúc bấy giờ. Dưới những hình thức gia đình trước, đàn ông không bao giờ thiếu đàn bà nhưng giờ đây người đàn bà trở nên ít ỏi vì vậy việc cướp và mua bán họ trở thành hiện tượng phổ biến. Khi xã hội phát triển hơn, sự phân công lao động được chuyên môn hóa cao, năng suất lao động phát triển và đem lại của cải dư thừa, kinh tế gia đình xuất hiện khi gia đình đối ngẫu chiếm lấy những của cải dư thừa đó.
Đây là điều kiện dẫn 17 đến sự hình thành kiểu hôn nhân một vợ một chồng – hình thức hôn nhân cao hơn, mới hơn và bền vững hơn hôn nhân đối ngẫu. Kiểu hôn nhân này cũng là kiểu hôn nhân phổ biến cho các chế độ xã hội về sau. Trong gia đình một vợ một chồng, người chồng bắt đầu nắm vị trí thống trị đối với người vợ và con cái. Nguyên nhân xuất phát từ việc người chồng làm những nghề nghiệp mang lại năng suất và thu nhập cao hơn như: chăn nuôi, trồng trọt, tiểu thủ công,… Còn người vợ chỉ làm công việc nội trợ, không làm ra của cải vật chất nên bị phụ thuộc vào chồng.
Gia đình cá thể (một vợ một chồng) nảy sinh từ gia đình đối ngẫu và là dấu hiệu cho biết thời văn minh đã bắt đầu. Kiểu gia đình này dựa trên sự thống trị của đàn ông và con cái đã xác định được cha đẻ của mình. Sau này, chúng sẽ là người nhận được tài sản thừa kế từ cha. Kiểu gia đình này khác gia đình đối ngẫu ở mối quan hệ vợ chồng chặt chẽ hơn nhiều, hai bên không thể tùy ý bỏ nhau.
Người chồng có quyền ngoại tình trong khi người vợ vi phạm sẽ bị trừng phạt rất tàn khốc. Hôn nhân không phải là kết quả của tình yêu nam nữ mà mang tính vụ lợi. Gia đình cá thể cũng là hình thức gia đình đầu tiên dựa trên cơ sở các điều kiện kinh tế, dựa trên sự thắng lợi của chế độ tư hữu đối với chế độ công hữu tự nhiên nguyên thủy. Nó xuất hiện như sự nô dịch của giới này đối với giới kia, tuyên bố sự đấu tranh giữa hai giới.
Vì người đàn ông không có tài sản nên không thể lập ra sự thống trị. Đặc biệt, khi người phụ nữ trở thành người thường xuyên nuôi sống gia đình thì không có cơ sở nào cho quyền thống trị của người đàn ông trong gia đình. Như vậy, chế độ thị tộc tan rã trước sự phát triển của tư tưởng tư hữu và sự hình thành của gia đình một vợ một chồng. Cuộc cách mạng này đã xảy ra từ trong gia đình.
Dưới mỗi chế độ khác nhau, kiểu hôn nhân có những đặc điểm riêng biệt. Gia đình có một vai trò quan trọng đối với sự phát triển của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất. Nhấn mạnh tầm quan trọng này, Marx và Engels đã cho rằng gia đình là quan hệ xã hội duy nhất trong buổi đầu của lịch sử xã hội. Với chức năng sinh con đẻ cái, quan hệ gia đình đã sản sinh ra và duy trì những quan hệ xã 18 hội khác.
Gia đình là một xã hội thu nhỏ và khi xã hội loài người được hình thành, phát triển thì những hoạt động của nó thường xuyên tác động đến gia đình làm cho gia đình biến đổi về hình thức, cấu trúc cũng như vai trò đối với xã hội. Những hình thái khác nhau của hôn nhân trong lịch sử loài người cho thấy điều đó.