Chương 1: Nguyễn Bính – một nhà thơ tiêu biểu của phong trào Thơ mới lãng mạn 1932 – 1945 Chương 2: Nhà thơ chân quê và khát vọng giang hồ Chương 3: Khát vọng tình yêu và cảnh ngộ lỡ bước Chương 4: Khát vọng công danh và bi kịch nhầm thời 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1: NGUYỄN BÍNH – MỘT NHÀ THƠ TIÊU BIỂU CỦA PHONG TRÀO THƠ MỚI LÃNG MẠN 1932 – 1945 1. Đôi nét về thân thế, sự nghiệp của Nguyễn Bính 1. Thân thế Nguyễn Bính sinh năm Mậu Ngọ (1918), tại xóm Trạm, thôn Thiện Vịnh, xã Đồng Đội (nay là xã Cộng Hòa), huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định. Gia đình Nguyễn Bính là nhà nho nghèo, “quý chữ hơn vàng”.
Thiếu vắng tình thương của mẹ từ nhỏ (mẹ ông là bà Bùi Thị Miện, mất năm 1918, khi đó ông mới ba tháng tuổi), Nguyễn Bính lớn lên trong tình yêu thương, đùm bọc, nuôi dạy của cha là ông đồ Nguyễn Đạo Bình. Sau này, do điều kiện gia đình sa sút, bà cả Giần (chị ruột bà Miện) đã cùng với em trai của mình là Bùi Trình Khiêm đưa Nguyễn Bính về thôn Vân quê ngoại để nuôi dạy. Tháng ba âm lịch Tân Mùi (1931), vào dịp Hội Phủ Giầy có tổ chức một cuộc thi văn với đầu đề là tả cảnh chọi gà ngày Hội… Chừng nửa tiếng sau thì có một chú bé khoảng mười hai, mười ba tuổi, bước vào chỗ Ban Giám khảo ở gian giữa Phủ Giáp Ba nộp bài. Chú bé ấy là Nguyễn Bính… Bài này được đọc lên, hàng ngàn con người có mặt ở đó, ai cũng tấm tắc khen hay.
Khi loa vang lên giữa phủ, mọi người mới biết người được giải nhất ấy là Nguyễn Bính, mới mười ba tuổi. Điều đặc biệt, trong bài văn này, Nguyễn Bính đã kết lại bằng hai câu ca dao “Khôn ngoan đá đáp người ngoài - Gà cùng một mẹ chớ hoài đá nhau” [5;38]. Phải chăng, đây là một dự báo về phong cách thơ sau này của thi sĩ – người đã được phong là “thần đồng” từ thuở ấu thơ? Năm 1932, Nguyễn Bính theo anh ruột Trúc Đường ra Hà Nội. Khi ấy, Trúc Đường đang dạy học ở một trường tư thục.
Bên cạnh vốn văn thơ dân 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tộc ngàn đời của làng quê đã thấm sâu, bện rễ trong tâm hồn mình, Nguyễn Bính còn được tiếp cận với văn học Pháp qua những bài dạy của anh cả Trúc Đường. Năm 1937, Nguyễn Bính bắt đầu nổi tiếng với bài thơ Cô hái mơ, và thực sự trở thành cái tên nhận được sự chú ý trên thi đàn văn học lúc bấy giờ với Lỡ bước sang ngang. Cũng trong năm 1937, Nguyễn Bính đã nhận giải Khuyến khích về thơ của Tự lực văn đoàn – một giải thưởng văn chương danh giá đương thời. Vốn là người thích đi đây đó, và sau này, một phần cũng xuất phát từ nhu cầu của cuộc sống, Nguyễn Bính đã bôn ba khắp nhiều nơi.
Từ năm 1937, Nguyễn Bính vào Nam, ra Bắc nhiều lần, và ở nơi đâu, Nguyễn Bính cũng để lại những kỷ niệm vui buồn trong lòng bạn bè, cũng có những bài thơ hay, ghi lại dấu ấn của cuộc đời mình. Trong thời gian diễn ra cuộc kháng chiến chống Pháp (1946 – 1954), Nguyễn Bính chủ yếu sống ở Nam Bộ. Những sáng tác của ông trong thời kỳ này cũng lấy cảm hứng chính từ cuộc sống chiến đấu, sinh hoạt hàng ngày của nhân dân nơi đây. Nguyễn Bính cũng hăng hái tham gia các hoạt động cách mạng, và được giao giữ nhiều trọng trách: phụ trách Hội văn nghệ cứu quốc tỉnh Rạch Giá, làm ở Ban văn nghệ khu Tám, làm Phó Chủ nhiệm Tổng bộ Việt Minh ở tỉnh Rạch Giá.
Từ sau hòa bình được lập lại đến những năm cuối đời (1954 – 1966), Nguyễn Bính trở về miền Bắc và sống những năm tháng êm đềm cuối cùng nơi quê hương nghĩa nặng tình sâu. Ngày 30 Tết năm Ất Tỵ (20.1966), Nguyễn Bính hưởng mùa xuân “tha hương” cuối cùng. Ông mất đột ngột tại nhà một người bạn yêu thơ (ông lang Tân Thanh) ở xã Hòa Lý, huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam. Sự nghiệp Nguyễn Bính được đánh giá là một trong những cây bút sung sức nhất của phong trào Thơ mới.
Trong hơn 30 năm sáng tác, ông để lại 19 tập thơ, 5 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com truyện thơ, 2 kịch thơ, 4 tập truyện, 2 kịch bản chèo và 1 tập lý luận sáng tác (Cách làm thơ lục bát). Tập thơ đầu tiên của Nguyễn Bính là Lỡ bước sang ngang (1940). Trong khoảng thời gian từ năm 1940 đến hết năm 1942, Nguyễn Bính đã cho ra mắt liên tiếp 6 tập thơ nữa. Đó là: Tâm hồn tôi (1940), Hương cố nhân (1941), Một nghìn cửa sổ (1941), Mười hai bến nước (1942), Người con gái ở lầu hoa (1942), Mây Tần (1942).
Đây cũng chính là giai đoạn Nguyễn Bính sáng tác sung sức nhất và cũng thể hiện rõ rệt nhất bản chất của người “thi sĩ nhà quê” trong thơ mình. Sau cách mạng, Nguyễn Bính lại cho ra mắt các tập thơ: Ông lão mài gươm (1947), Đồng Tháp Mười (1955), Trả ta về (1955), Gửi người vợ miền Nam (1955), Trong bóng cờ bay (1957), Tiếng trống đêm xuân (1958), Tình nghĩa đôi ta (1960), Đêm sao sáng (1962). Với những đóng góp đáng trân trọng trong suốt cuộc đời làm nghệ thuật, năm 2000, Nguyễn Bính đã được Nhà nước truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh – một phần thưởng hoàn toàn xứng đáng với sự nghiệp văn chương của ông. Với Nguyễn Bính, cuộc đời thi nhân và hành trình thơ cũng là một vậy.
Ám ảnh mãi trong chúng ta là hình ảnh một chàng thi sĩ giang hồ, hành trang chỉ là “túi thơ”, đi khắp mọi miền tổ quốc. Và ở bất kỳ đâu, con người ấy cũng không nguôi băn khoăn, dằn vặt, trăn trở, thậm chí là rơi vào bi kịch trong việc tìm kiếm hạnh phúc đích thực của đời mình. Trước những mong ước tưởng chừng như giản đơn của Nguyễn Bính, cuộc đời dường như chỉ trả lại cho Nguyễn Bính những buồn tủi, đắng cay, những ân hận, lỡ làng. Nói như nhà thơ Nga Paxtecnắc: “Thơ ca mãi mãi là cái đỉnh cao nổi tiếng ấy, cao hơn tất cả các ngọn núi Alpơ, nằm lăn trong cỏ, trước chân ta, 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đến độ chỉ cần cúi xuống một chút là ta có thể nhìn thấy nó và nhặt lên” [14;599].
Chúng tôi cho rằng, điều này rất đúng với thơ Nguyễn Bính! 1. Chủ nghĩa lãng mạn và phong trào Thơ mới (1932 – 1945) 1. Chủ nghĩa lãng mạn Chủ nghĩa lãng mạn vừa là trào lưu văn học vừa là phương pháp sáng tác, mang một nội dung xã hội lịch sử cụ thể, hình thành một cách tiêu biểu ở Tây Âu vào sau Đại cách mạng tư sản Pháp năm 1789. Xét về bản chất, cơ sở xã hội và ý thức của chủ nghĩa lãng mạn chính là sự sụp đổ của chế độ phong kiến và sự hình thành những quan hệ xã hội mới – chưa được định hình một cách rõ ràng.
Điều này tác động đến hầu hết các tầng lớp người trong xã hội, trong đó ảnh hưởng “nặng nề” nhất là đối với tầng lớp tiểu tư sản, trí thức. Những mong muốn, ước vọng của họ về một xã hội tốt đẹp trong tương lai đã không trở thành hiện thực sau khi cách mạng thành công. Như Victo Huygo có nói trong lời tựa vở kịch Cromoen: “Tâm hồn của con người hiện nay đặt nhiều hi vọng ở lý tưởng hơn là ở thực tại… Nghệ sĩ du hành đến các vì sao, thì đành xin lỗi là không phục tùng huyện đường được” [9;518]. Bác bỏ cuộc sống tầm thường, các nhà chủ nghĩa lãng mạn đem ước vọng cao cả của mình hướng về một thế giới khác, trong các truyền thuyết và sáng tác dân gian, trong các thời đại lịch sử đã qua.
Trên nền tảng xã hội – ý thức như vậy, tùy theo thái độ phản ứng lại cuộc sống và cách tìm lối thoát của người nghệ sĩ, chủ nghĩa lãng mạn được chia thành hai khuynh hướng tích cực và tiêu cực và có mối liên hệ rất phức tạp với nhau. Trong đó, khuynh hướng tiêu cực xuất hiện trước khuynh hướng tích cực. Nếu như con người lý tưởng của chủ nghĩa lãng mạn tiêu cực thoát ly thực tế, quay về với quá khứ, hoặc đi vào ảo mộng, hoặc thu mình trong cái tôi nhỏ bé (đại diện tiêu biểu cho khuynh hướng này có thể kể đến Satôbriăng, 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Lamáctin, Vinhi), thì ngược lại, con người lý tưởng của chủ nghĩa lãng mạn tích cực lại được tăng cường ý chí một cách mạnh mẽ, được thức tỉnh lòng bất phục tùng đối với thực tại, đối với mọi đè nén áp bức (đại diện tiêu biểu của khuynh hướng này là V.Huygo, Bairơn, Lécmtôntốp). Về vấn đề thi pháp, nếu như chủ nghĩa cổ điển trong việc xây dựng tính cách rất chú ý đến cái chung, cái ý nghĩa khái quát mà coi nhẹ cái riêng, cá tính thì ngược lại, chủ nghĩa lãng mạn coi trọng vẻ riêng, cái đặc biệt độc đáo, thậm chí nhấn mạnh đến mức cực đoan, phi thường, ngoại lệ.
“Cái bình thường là cái chết của nghệ thuật” (Victo Huygo). Do nguyên tắc chủ quan, cho nên những tính cách trong chủ nghĩa lãng mạn tích cực, trên ý nghĩa nào đó, chẳng qua là “phân thân” của tác giả. Nó không có logic nội tại khách quan, mà phát triển chuyển biến theo ảo tưởng chủ quan của nhà văn, thể hiện đúng nguyên tắc tổng quát của chủ nghĩa lãng mạn là lấy “tâm hồn và trái tim làm cơ sở để nói lên những nguyện vọng không rõ rệt muốn tiến tới một cái gì tốt đẹp hơn, cao cả hơn, tìm cách tự thỏa mãn bằng những lý tưởng chỉ có trong trí tưởng tượng” (Bêlinxki). Nhưng xét mặt bản chất, những ảo mộng, lý tưởng, tưởng tượng của nó đều phải bắt nguồn từ hiện thực.
Bên cạnh đó, chủ nghĩa lãng mạn tích cực rất đề cao chất trữ tình trong sáng tác. Chủ nghĩa lãng mạn còn coi trọng văn học dân gian vốn rất dồi dào tính nhân dân, tính dân tộc và tính trữ tình. Xét về nhiều phương diện, mọi sự quy định, ràng buộc của chủ nghĩa cổ điển đều bị phá vỡ. Victo Huygo nói: “Chúng ta dùng chiếc búa lớn đập vào mọi thứ lý luận, thi học và hệ thống, bóc trần những lớp phấn cũ kĩ trát bên ngoài nghệ thuật.
Vô luận là phép tắc hay mẫu mực đều không có, nói đúng hơn, trừ những phép tắc nói chung của tự nhiên và những phép tắc cá biệt cố hữu do đề tài đòi hỏi chi phối trong toàn bộ nghệ thuật, thì không có phép tắc nào khác nữa” [9;520].