chương I. Món thứ hai là dừa sáp Cầu Kè. Khi chúng tôi nghe cô hướng dẫn giới thiệu về dừa sáp, chúng tôi không hiểu đựợc sự khác biệt giữa dừa thường và dừa sáp. Nhưng khi ăn thử, chúng tôi thấy cơm dừa sáp rất đặc, dẻo và mềm.
Khi ăn, cho thêm một ít sữa và sầu riêng sẽ thấy ngon hơn. Giá của dừa sáp cầu kè quá mắc nên không ai trong chúng tôi dám mua ăn nữa. 2 Bản đồ du lịch tỉnh Trà Vinh Việt Nam, Trung tâm Thông xin xúc tiến Du lịch Trà Vinh, 2011. 8 Món thứ ba là bánh canh Bến Có.
Món bánh canh này có lòng heo. Một số sinh viên trong đoàn đã ăn 3 tô. Có lẽ món này rất gần gũi với ẩm thực Hàn Quốc vì người Hàn Quốc cũng ăn lòng heo. Món này rất ngon.
Hương vị của nó không thể nào quên được. Chúng tôi nghĩ là những quán bánh canh ở Sài Gòn nên đóng cửa. Món thứ tư là Bún suông. Đây là món bún khác hẳn với các món như hủ tiếu, bánh canh, phở, mà trước đó chúng tôi chưa bao giờ ăn thử.
Đặc biệt của món này là tôm được giã nhuyễn và tạo thành những cọng suông, dài. Món này không béo và nước dùng rất trong nên chúng tôi muốn ăn thêm một tô nữa. Hình: Bún Suông Nguồn: Nhóm tác giả chụp Theo ý kiến của chúng tôi, món ăn của Trà Vinh ngon hơn so với các món ăn ở TP. Hương vị của ẩm thực Trà Vinh không thấy lạ nhưng rất phù hợp với người nước ngoài.
Tỉnh Trà Vinh cũng nhận được sự quan tâm của Chính phủ đã đầu tư xây dựng các dự án đầu tư lớn đã đưa vào hoạt động như: cầu Cổ Chiên, nâng cấp các Quốc lộ 53, 54, 60, thông tuyến luồng cho tàu biển có trọng tải lớn vào sông Hậu, khu kinh tế Định An, Trung tâm điện lực Duyên Hải và đang khởi động xây dựng cầu Đại Ngãi, tạo điều kiện cho Trà Vinh khắc phục hạn chế về mặt địa lý trở thành cửa ngõ giao thương quan trọng 9 của khu vực Đồng bằng sông Cửu Long đến các khu vực khác trong nước và trên thế giới bằng đường thủy, tạo động lực mới trong phát triển kinh tế địa phương. Tổng quan về làng nghề bánh tét Trà Cuôn 1. Làng nghề bánh tét Trà Cuôn Làng nghề bánh tét Trà Cuôn thuộc ấp Trà Cuôn, xã Kim Hòa, huyện Cầu Ngang. Xã Kim Hòa là xã cửa ngõ của huyện Cầu Ngang, với diện tích là 2016.
Tổng số hộ là 2689 hộ. Dân số trên dưới 10.000 người, trong đó 70% là người Khmer 4. Khi khảo sát địa bàn, chúng tôi thấy đồng bào người Khmer và người Kinh sống với nhau một cách hòa đồng, gắn bó, không có rào cản ngôn ngữ vì người Khmer nói tiếng Việt như người Kinh. Về cơ sở hạ tầng, theo chúng tôi khảo sát, đường làng nghề hơi nhỏ hẹp nhưng có nhiều xe lớn như xe tải, xe buýt 40 chỗ và các xe khác chạy với tốc độ nhanh, không bảm đảo an toàn cho những người tham gia giao thông, ngay cả người đi bộ.
Xe cộ ở đây chạy không có trật tự, đi ngược chiều, chạy quá tốc độ, chở quá tải. Ở đây, còn thiếu nhiều tiện nghi như siêu thị, cửa hàng tiện lợi, khách sạn,v. Nói chung là chưa phát tirển, hiện đại để thu hút du khách. Hơn nữa, các cơ sở sản xuất và buôn bán nằm rải rác nhau, không tập trung.
Hình: Đường làng nghề Nguồn: Nhóm tác giả chụp 3 Du lịch Trà Vinh tiềm năng và triền vọng, Trung tâm Thông xin xúc tiến Du lịch Trà Vinh, 2016. 4 Anh Nguyễn Thành Chiến, biên bản phỏng vấn số 7, trang 75.