Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Làng xã là đơn vị tụ cư cơ bản, lưu giữ các giá trị lịch sử và bản sắc văn hóa cổ truyền của dân tộc Việt Nam. Trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đô thị hóa, các vùng nông thôn ngoại thành Hà Nội chịu sự tác động sâu sắc trên nhiều bình diện từ cấu trúc kinh tế, quan hệ xã hội đến sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng. Làng Cao Mật Thượng (xã Thanh Cao, huyện Thanh Oai, thành phố Hà Nội) là một làng quê vùng đồng bằng Bắc Bộ có bề dày lịch sử hình thành lâu đời, song trước thời điểm khóa luận được thực hiện, các tài liệu thành văn chủ yếu mới dừng lại ở hồ sơ lý lịch di tích đình và chùa để xếp hạng do ngành văn hóa thực hiện, chưa có công trình nghiên cứu chuyên biệt và toàn diện nào về làng. Đề tài khóa luận tốt nghiệp ngành Việt Nam học của tác giả Nguyễn Thu Hằng được thực hiện nhằm ghi nhận, khảo cứu và hệ thống hóa bức tranh toàn cảnh về địa phương này.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của khóa luận gồm 3 nội dung chính:

  1. Tìm hiểu, phục dựng các giá trị văn hóa truyền thống cũng như thực trạng biến đổi văn hóa, xã hội của làng Cao Mật Thượng từ quá khứ đến hiện tại.
  2. Mô tả, phân tích sâu các thiết chế kinh tế, xã hội, tôn giáo, phong tục tập quán; so sánh đối chiếu với các mô hình làng xã khác tại vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng để làm rõ nét đặc thù.
  3. Đóng góp hệ thống tư liệu thực tiễn cho công tác nghiên cứu khu vực học, phục vụ xây dựng luận cứ cho việc bảo tồn và phát triển văn hóa làng xã vùng ven đô Hà Nội.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Toàn diện các khía cạnh lịch sử hình thành, điều kiện tự nhiên, đời sống kinh tế, tổ chức xã hội, tôn giáo tín ngưỡng và di tích lịch sử - văn hóa của làng Cao Mật Thượng.
  • Phạm vi không gian: Thôn Cao Mật Thượng, xã Thanh Cao, huyện Thanh Oai, thành phố Hà Nội.
  • Phạm vi thời gian: Khảo sát tiến trình lịch sử từ giai đoạn khởi lập (khoảng 2000 năm trước theo truyền ngôn và ngọc phả) cho đến năm 2014.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận tiếp cận đối tượng nghiên cứu trên nền tảng lý luận về làng xã cổ truyền Việt Nam, vận dụng các khung phân tích của các nhà nghiên cứu đi trước như Toan Ánh (Làng xóm Việt Nam), Phan Đại Doãn (Làng Việt Nam đa nguyên và chặt), Nguyễn Công Chất (Một số vấn đề về Làng xã cổ truyền Việt Nam) và mô hình tổ chức xã hội nông thôn đồng bằng Bắc Bộ của Giáo sư Trần Từ. Đề tài định hướng nghiên cứu theo phương pháp tiếp cận Khu vực học (Area Studies), nhìn nhận làng xã như một chỉnh thể hữu cơ giữa các yếu tố tự nhiên, kinh tế, xã hội và nhân văn.

Các phương pháp nghiên cứu cụ thể được tác giả sử dụng bao gồm:

  • Phương pháp điền dã dân tộc học: Trực tiếp khảo sát thực địa tại địa bàn làng Cao Mật Thượng, quan sát không gian cư trú, đồng ruộng, các công trình kiến trúc tín ngưỡng (đình, chùa, miếu, nhà thờ họ).
  • Phương pháp phỏng vấn sâu và điều tra xã hội học: Thu thập thông tin từ các nhân chứng cao niên am hiểu lịch sử địa phương (tiêu biểu như nhân chứng Nguyễn Văn Tiến) và làm việc với đại diện Đảng ủy, Ủy ban Nhân dân xã Thanh Cao.
  • Phương pháp thu thập và xử lý tư liệu: Chụp ảnh tư liệu, dịch thuật và đối chiếu văn bia, tài liệu lưu trữ.
  • Phương pháp phân tích - tổng hợp, quy nạp, diễn dịch và so sánh lịch sử: Phân tích số liệu hành chính, địa bạ, bản đồ để đánh giá biến đổi qua các thời kỳ.

Nguồn dữ liệu của khóa luận gồm:

  • Tài liệu lưu trữ thành văn: Văn bia chùa Cao Mật Thượng (Long Ân tự bi dựng năm Chính Hòa thứ 15 - 1694), thần phả và ngọc phả đình làng, trích lục Địa bạ Gia Long (1836/1960), hồ sơ Thần tích - Thần sắc làng Cao Mật năm 1938 (lưu trữ tại Viện Thông tin Khoa học Xã hội), hồ sơ di tích của Sở Văn hóa Thông tin Hà Tây (năm 2001 - 2002).
  • Tài liệu hành chính địa phương: Báo cáo điều chỉnh ruộng đất năm 1992 của xã Thanh Cao, nghị quyết và kế hoạch dồn điền đổi thửa giai đoạn 2012 - 2014, bản Quy ước Làng văn hóa Cao Mật Thượng ban hành năm 1999 (sửa đổi, bổ sung).
  • Dữ liệu định lượng khảo sát thực địa: Thống kê số hộ, nhân khẩu, số dòng họ, diện tích canh tác và số lượng lao động ngành nghề.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan về làng Cao Mật Thượng

Chương 1 trình bày khái quát về điều kiện địa lý tự nhiên, tiến trình biến đổi địa giới hành chính và đặc điểm dân cư của làng.

Làng Cao Mật Thượng nằm ở tả ngạn sông Đáy, thuộc tọa độ địa lý 20°53'7"B, 105°44'50"Đ, cách trung tâm thành phố Hà Nội hơn 30 km về phía Nam. Về mặt địa hình, đất đai của làng được phân hóa thành ba dạng: vùng bãi ven sông Đáy màu mỡ, vùng đất đồng cao (đồng vàn) thuận lợi trồng trọt lúa xen hoa màu, và vùng trũng gieo cấy lúa chiêm kết hợp nuôi trồng thủy sản.

Về lịch sử tên gọi và quá trình chuyển cư, tài liệu chỉ ra rằng làng vốn có tên cổ là Kẻ Mật, xuất phát từ nghề trồng mía ép mật và ươm tơ dệt lụa cách đây khoảng 2000 năm. Trải qua lịch sử, làng có hai lần di dời địa giới quan trọng:

  • Lần thứ nhất (thế kỷ XIII - XIV): Dưới triều Trần, do chính sách đắp đê, quai đê sông Đáy nên làng dời từ mép sông vào khu vực Đồng Cũ. Dấu tích khảo sát để lại gồm chân móng đình, chùa cổ, hàng chục lò nung gốm sứ và các hiện vật sành sứ, tiền đồng cổ.
  • Lần thứ hai (giai đoạn 1635 - 1650): Làng tách thành hai thôn riêng biệt: Cao Mật Thượng (dời về phía Đông Bắc cách vị trí cũ khoảng 1 km) và Cao Mật Hạ (dời về phía Đông Nam). Nguyên nhân chia tách gắn liền với biến cố vỡ đê, nạn trộm cướp ven đê và hiện tượng tích tụ khí dễ cháy ("con hỏa") trong lòng đất làng cũ.

Về mặt hành chính, từ thế kỷ XVII đến nay, làng trải qua nhiều lần sáp nhập, đổi thuộc: thuộc huyện Thanh Oai, phủ Ứng Thiên, thừa tuyên Sơn Nam (1694); thuộc tổng Nga Mi, huyện Thanh Oai, phủ Ứng Hòa, tỉnh Hà Nội (1831); tỉnh Hà Đông (1888); tỉnh Hà Tây (1965); tỉnh Hà Sơn Bình (1975); trở lại tỉnh Hà Tây (1991) và trực thuộc Hà Nội từ năm 2008.

Về dân cư, năm 1954 làng có 228 người; đến năm 2014 dân số đạt trên 800 - 900 người (gần 200 hộ). Điểm đặc biệt về tôn giáo tại Cao Mật Thượng là cơ cấu dân cư phân bố tương đối đồng đều giữa hai khối: khoảng 50% theo đạo Thiên Chúa và 50% theo đạo Phật, hai cộng đồng duy trì quan hệ đoàn kết, hòa thuận trong mọi sinh hoạt xóm làng.

Tiêu chí Dữ liệu lịch sử / Thời kỳ phong kiến Dữ liệu hiện đại (đến 2014)
Tên gọi Kẻ Mật $\rightarrow$ Cao Mật Cao Mật Thượng (tách khỏi Cao Mật Hạ từ TK XVII)
Đơn vị hành chính Tổng Nga Mi, huyện Thanh Oai, phủ Ứng Hòa Xã Thanh Cao, huyện Thanh Oai, TP. Hà Nội
Dân số ~300 người (thời Trần); 228 người (năm 1954) ~800 - 900 người; gần 200 hộ gia đình
Cơ cấu tôn giáo Đạo Phật, tín ngưỡng bản địa; tiếp nhận Công giáo ~50% Thiên Chúa giáo, ~50% Phật giáo

Chương 2: Đời sống kinh tế

Nội dung chương tập trung phân tích quan hệ ruộng đất, sản xuất nông nghiệp, các ngành nghề thủ công nghiệp truyền thống và hoạt động thương nghiệp của làng.

Về ruộng đất, Địa bạ Gia Long (1836) ghi nhận Cao Mật Thượng có diện tích ruộng đất khá lớn (khoảng 320 mẫu Bắc Bộ), nguồn gốc từ đất thái ấp của Thái úy triều Trần (1288) và đất biếu công lao phân xử tranh chấp của Tiến sĩ Nguyễn Thản (1499). Đến báo cáo điều chỉnh ruộng đất năm 1992, diện tích đất nông nghiệp của làng là 208.917 m², phân bổ 360 m²/lao động (319 lao động) và 216 m²/nhân khẩu (389 nhân khẩu). Giai đoạn 2012 - 2014, làng triển khai hoàn thành công tác dồn điền đổi thửa theo đề án nông thôn mới, mỗi hộ được chia 2 vùng đất canh tác (đất đồng cao và đất đồng trũng) nhằm khắc phục tình trạng manh mún.

Về cơ cấu kinh tế và ngành nghề:

  • Nông nghiệp: Trồng lúa 2 vụ chính kết hợp vụ đông trồng hoa màu (khoai lang, ngô, khoai tây, rau cải). Năng suất lúa đạt bình quân 2 tạ/sào. Khoai lang Cao Mật Thượng nổi tiếng trong vùng về độ ngọt, bở.
  • Nghề truyền thống: Nghề trồng mía ép mật và ươm tơ nuôi tằm dệt lụa xồi phát triển rực rỡ trong quá khứ nhưng dần thoái trào và chấm dứt vào thập niên 1980 do xói lở đất bãi ven sông.
  • Nghề thêu tay: Du nhập vào làng từ những năm 1940 - 1950 thông qua các thợ học nghề từ làng Quất Động (Thường Tín). Giai đoạn 1960 - 1965, làng thành lập tổ thêu xuất khẩu 13 người. Từ năm 1996, nghề thêu phục hồi mạnh mẽ dưới sự bao tiêu của gia đình nghệ nhân Nguyễn Thị Thơm. Năm 2005, Cao Mật Thượng được công nhận là Làng nghề truyền thống của tỉnh Hà Tây. Sản phẩm gồm hai loại: hàng thường và hàng rồng (hàng cao cấp đòi hỏi kỹ thuật cao). Tuy nhiên, đến năm 2014, nghề thêu thu hẹp do thu nhập thấp, chỉ còn khoảng gần 20 người làm nghề.
  • Các nghề phụ khác: Nghề sản xuất pháo nổ từng phát triển mạnh nhưng chấm dứt hoàn toàn sau Chỉ thị 406/TTg năm 1994; nghề quay sợi dệt từ vải vụn tồn tại ngắn hạn; kinh tế trang trại theo mô hình Vườn - Ao - Chuồng (VAC), xưởng mộc, dịch vụ cơ khí và vận tải phát triển bổ trợ.
  • Thương nghiệp: Trong lịch sử từng có cảnh buôn bán tấp nập "trên bến dưới thuyền" ven sông Đáy. Hiện nay, làng không có chợ riêng mà giao thương tập trung tại chợ Cây Đa (thôn Thanh Thần - chợ liên xã) và các chợ lân cận như chợ Mai Lĩnh, chợ Tư (Bình Đà), chợ Bộ.

Chương 3: Tổ chức xã hội

Chương 3 khảo cứu sự vận hành của thiết chế quản lý làng xã, hệ thống hương ước, cấu trúc gia đình và dòng họ qua các thời kỳ lịch sử.

Về tổ chức bộ máy quản lý:

  • Thời kỳ phong kiến và thuộc Pháp: Tổ chức theo hai nhánh:
    1. Tổ chức quan phương: Gồm Hội đồng kỳ mục (cơ quan lập pháp và quyết định tối cao của làng, đứng đầu là Tiên chỉ, Thứ chỉ), Bộ máy lý dịch (cơ quan hành pháp gồm Lý trưởng, Phó lý, Hương trưởng phụ trách tuần đinh, Trưởng bạn, Thủ quỹ, Quản hộ) và Dân hàng xã (nam giới từ 18 tuổi trở lên nộp thuế thân).
    2. Tổ chức phi quan phương: Hệ thống Giáp (tập hợp theo độ tuổi và địa vực, đảm nhiệm nghĩa vụ tế lễ, thi làm bánh chưng, bánh giầy, thi nuôi lợn tế vào dịp hội làng); Phường vải lụa; Phường bát âm (phường kèn); Hội tư văn (tế Đức Khổng Tử và các bậc Tiên hiền).
  • Thời kỳ hiện đại: Bộ máy tự quản nông thôn chuyển đổi thành Trưởng thôn, Phó thôn dưới sự lãnh đạo của Chi bộ Đảng và Ban công tác Mặt trận thôn, phối hợp chặt chẽ với các đoàn thể: Hội thiện (lo việc tang lễ), Chi hội Người cao tuổi (~120 hội viên), Chi hội Khuyến học, Chi hội Phụ nữ, Đoàn Thanh niên, Hội Cựu chiến binh (>30 hội viên), Chi hội Cựu quân nhân và Chi hội Nông dân (quy tụ ~70% hộ dân).

Về hương ước và quy ước:

  • Hương ước cổ truyền duy trì các chế tài nghiêm khắc như tục "Cối đá ăn thề" (trừng phạt kẻ tham lạm công quỹ), phạt vạ khi vi phạm húy hoặc lệ làng, tục nộp gạch lát đường khi lấy chồng thiên hạ.
  • Năm 1999, làng xây dựng bản Quy ước Làng văn hóa mới gồm 12 chương, 32 điều. Quy ước bãi bỏ các hủ tục lạc hậu, bổ sung các quy tắc văn minh trong cưới xin, tang ma, vệ sinh môi trường, an ninh trật tự và quy định các mức chế tài bồi thường, phê bình công khai.

Về gia đình và dòng họ:

  • Cấu trúc gia đình chuyển dịch từ mô hình gia đình truyền thống nhiều thế hệ sang gia đình hạt nhân (2 thế hệ), tỷ lệ ly hôn dưới 1%.
  • Làng có 12 dòng họ cùng chung sống, gồm: họ Trương, 2 họ Phạm (Phạm Bá, Phạm Tài), họ Dương, 2 họ Trần (Trần Đình, Trần Văn), họ Lý, 2 họ Nguyễn (Nguyễn Xuân và các chi họ Nguyễn khác), họ Đỗ, họ Lê, họ Ngô. Dòng họ ngụ cư sớm nhất là Trương, Phạm, Dương (14 đời). Dòng họ Trần Đình (gốc Thanh Hóa, định cư 8 đời) là họ lớn, đã xây dựng nhà thờ họ khang trang và duy trì quỹ khuyến học phát triển mạnh.

Chương 4: Đời sống văn hóa, tôn giáo, tín ngưỡng và lịch sử

Chương 4 tập trung làm rõ truyền thống hiếu học, lịch sử yêu nước chống ngoại xâm và hệ thống di tích, sinh hoạt tín ngưỡng tâm linh của làng.

Về truyền thống khoa bảng và hiếu học: Làng Cao Mật có 3 vị đại khoa đỗ đạt thời phong kiến (trong tổng số 50 tiến sĩ của toàn huyện Thanh Oai):

  1. Tiến sĩ Đoàn Nhân Công: Đỗ Đồng tiến sĩ xuất thân khoa Mậu Thìn (1448) triều vua Lê Nhân Tông, bổ làm Hàn lâm Viện Đại học sĩ, được khắc tên trên văn bia số 82 tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám.
  2. Tiến sĩ Nguyễn Thản: Đỗ Tiến sĩ khoa thi năm Kỷ Mùi (1499) triều vua Lê Hiến Tông, giữ chức quan tại kinh thành Thăng Long.
  3. Thám hoa Nguyễn Tế: Đỗ Đệ nhất giáp Tiến sĩ đệ tam danh (Thám hoa) khoa Đinh Mùi (1547) triều vua Mạc Tuyên Tông, làm quan đến chức Thượng thư, Hàn lâm Viện Đại học sĩ. Bên cạnh đó, làng còn có Tiến sĩ thần học Trần Quang Tịnh (Phó sứ Bắc Kỳ). Đến thời hiện đại, làng có 56 người tốt nghiệp trình độ đại học và trên đại học; hàng năm có 8 - 10 học sinh trúng tuyển đại học, cao đẳng.

Về truyền thống yêu nước và di tích quân sự: Trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông lần thứ hai (1285) và lần thứ ba (1287 - 1288), hoàng tử Tướng quốc triều Trần (Tả Thiên Đại Vương, em ruột vua Trần Nhân Tông) đã chọn vùng rừng rậm Cao Mật ven sông Đáy để lập căn cứ kháng chiến. Dấu tích căn cứ quân sự cổ hiện nay gồm: khu Miếu Cao Mật Thượng (đại bản doanh rộng 2 ha), xứ Bãi Gạo (kho lương), gò Khiên, đống Mác (kho vũ khí), vùng Quần Ngựa (trại nhốt ngựa chiến). Cánh quân này đã phối hợp cùng Tiết chế Trần Quang Khải lập nên các chiến công lớn tại Chương Dương, Đông Bộ Đầu, Vạn Kiếp và Bạch Đằng.

Hệ thống công trình kiến trúc tín ngưỡng:

  • Đình Cao Mật Thượng: Thờ Tả Thiên Đại Vương (Thành hoàng làng).
  • Chùa Cao Mật Thượng (Long Ân Tự): Ngôi chùa cổ lưu giữ tấm bia đá dựng năm 1694 ghi lại lịch sử tôn tạo và việc thờ Phật. Đình và chùa làng đã được Ủy ban Nhân dân tỉnh Hà Tây xếp hạng di tích lịch sử - văn hóa vào năm 2002.
  • Miếu Cao Mật Thượng và Nhà thờ giáo họ Cao Mật Thượng: Phục vụ đời sống tâm linh cho nhân dân hai tôn giáo Phật giáo và Công giáo.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đạt được những kết quả chính sau:

  • Khảo cứu và xác lập hệ thống dữ liệu toàn diện, đáng tin cậy về lịch sử địa lý, sự chuyển dịch địa giới và biến đổi hành chính của làng Cao Mật Thượng qua các triều đại Lý, Trần, Lê, Mạc, Nguyễn đến thời kỳ đương đại.
  • Cung cấp số liệu xác thực về quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế địa phương: thống kê diện tích ruộng đất qua Địa bạ 1836, đợt phân bổ đất 1992 (208.917 m² cho 319 lao động), quá trình dồn điền đổi thửa 2012 - 2014; quá trình hình thành, phát triển và suy thoái của các làng nghề truyền thống (mía mật, lụa xồi, nghề thêu được công nhận năm 2005, nghề pháo nổ bị cấm năm 1994).
  • Phục dựng diện mạo tổ chức xã hội nông thôn từ thiết chế Kỳ mục - Lý dịch, hệ thống Giáp, phường hội xưa đến cơ cấu tự quản thôn xóm hiện đại gắn liền với 12 dòng họ và sự cộng cư hòa hợp giữa hai tôn giáo Công giáo - Phật giáo.
  • Làm rõ các giá trị lịch sử - văn hóa thông qua hồ sơ tư liệu về căn cứ quân sự thời Trần thế kỷ XIII, 3 vị đại khoa thời phong kiến (Đoàn Nhân Công, Nguyễn Thản, Nguyễn Tế) và hệ thống di tích đình, chùa được xếp hạng năm 2002.

Về mặt đóng góp khoa học, đây là công trình nghiên cứu trường hợp (case study) độc lập, có hệ thống đầu tiên về làng Cao Mật Thượng dưới góc độ Việt Nam học và Khu vực học, bổ sung tư liệu thực địa có giá trị vào kho tàng nghiên cứu làng xã cổ truyền vùng châu thổ sông Hồng.


Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận tồn tại một số hạn chế do đặc thù nguồn dữ liệu:

  • Nguồn tư liệu văn bản cổ (hương ước chữ Hán, thần tích gốc) bị thất lạc qua chiến tranh và thiên tai, do đó nhiều nội dung về luật tục cổ truyền và quá trình chuyển cư thế kỷ XVII chủ yếu phải dựa trên khảo sát hồi ức điền dã từ các nhân chứng cao niên.
  • Phạm vi nghiên cứu chủ yếu tập trung vào thôn Cao Mật Thượng, chưa mở rộng so sánh sâu trên bình diện đồng bộ với thôn Cao Mật Hạ vốn có chung gốc tích lịch sử.

Hướng nghiên cứu tiếp:

  • Tiếp tục sưu tầm, dịch thuật và giám định hệ thống văn bia, hoành phi, câu đối chữ Hán - Nôm còn lưu giữ tại đình, chùa, miếu và từ đường các dòng họ.
  • Đi sâu đánh giá tác động của quy hoạch đô thị hóa chuỗi đô thị ven sông Đáy đối với sự biến đổi sinh kế và lối sống của cư dân làng nghề nông nghiệp trong giai đoạn tiếp theo.

Giá trị tham khảo

Công trình là tài liệu tham khảo hữu ích cho:

  • Giảng viên, sinh viên và học viên cao học thuộc các ngành Việt Nam học, Lịch sử học, Văn hóa học, Nhân học, Xã hội học khi nghiên cứu về làng xã Bắc Bộ, làng nghề truyền thống hoặc văn hóa địa phương vùng Hà Tây cũ.
  • Cán bộ quản lý văn hóa, bảo tàng, ban quản lý di tích tại huyện Thanh Oai và thành phố Hà Nội trong công tác lập hồ sơ bảo tồn di tích lịch sử đình, chùa, miếu Cao Mật Thượng.
  • Cấp ủy, chính quyền xã Thanh Cao trong việc hoạch định chính sách phát triển kinh tế nông thôn, quản lý quy ước văn hóa và bảo tồn không gian di sản địa phương.

Câu hỏi thường gặp

1. Làng Cao Mật Thượng có nguồn gốc tên gọi từ đâu và trải qua mấy lần chuyển dời địa giới trong lịch sử?
Tên gọi của làng khởi nguồn từ tên cổ "Kẻ Mật", gắn liền với nghề truyền thống trồng mía ép mật và ươm tơ nuôi tằm cách đây khoảng 2000 năm. Làng trải qua hai lần chuyển dời lớn: Lần thứ nhất vào thời nhà Trần (thế kỷ XIII - XIV) do quai đê sông Đáy nên dời về khu Đồng Cũ; Lần thứ hai vào khoảng giữa thế kỷ XVII (1635 - 1650) do biến cố lũ lụt, trộm cướp và hỏa hoạn, làng tách thành hai thôn Cao Mật Thượng (dời về phía Đông Bắc) và Cao Mật Hạ (dời về phía Đông Nam).

2. Cơ cấu dân cư và tôn giáo tại làng Cao Mật Thượng có đặc điểm gì đặc thù?
Dân số của làng đến năm 2014 có khoảng 800 - 900 nhân khẩu với 200 hộ gia đình thuộc 12 dòng họ. Khác với nhiều làng quê thuần lương hoặc thuần giáo ở Bắc Bộ, dân cư Cao Mật Thượng phân bổ đều cho hai tôn giáo: khoảng 50% theo đạo Thiên Chúa và 50% theo đạo Phật, hai cộng đồng cùng chung sống hòa thuận, tham gia đầy đủ các sinh hoạt văn hóa và việc họ, việc làng.

3. Nghề thêu thủ công truyền thống tại làng Cao Mật Thượng được hình thành và phát triển như thế nào?
Nghề thêu tay được hai nghệ nhân tiếp thu từ làng Quất Động (huyện Thường Tín) đưa về làng trong thập niên 1940 - 1950. Làng từng có tổ thêu xuất khẩu (1960 - 1965) và phát triển mạnh mẽ từ năm 1996 nhờ mô hình tổ chức của gia đình nghệ nhân Nguyễn Thị Thơm. Năm 2005, Cao Mật Thượng được Ủy ban Nhân dân tỉnh Hà Tây công nhận danh hiệu Làng nghề truyền thống.

4. Những nhân vật khoa bảng tiêu biểu thời phong kiến được ghi danh của làng Cao Mật Thượng là ai?
Làng có 3 vị đại khoa đỗ tiến sĩ thời phong kiến gồm: Tiến sĩ Đoàn Nhân Công (đỗ khoa Mậu Thìn năm 1448 triều Lê Nhân Tông, bia số 82 Văn Miếu), Tiến sĩ Nguyễn Thản (đỗ khoa Kỷ Mùi năm 1499 triều Lê Hiến Tông), và Thám hoa Nguyễn Tế (đỗ Đệ nhất giáp Tiến sĩ đệ tam danh khoa Đinh Mùi năm 1547 triều Mạc Tuyên Tông). Ngoài ra làng còn có Tiến sĩ thần học Trần Quang Tịnh.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp Tìm hiểu làng Cao Mật Thượng ngoại thành Hà Nội của tác giả Nguyễn Thu Hằng là một công trình nghiên cứu trường hợp công phu, nghiêm túc về một làng quê cổ truyền vùng đồng bằng sông Đáy. Bằng việc kết hợp chặt chẽ giữa tư liệu điền dã dân tộc học và tài liệu lưu trữ Hán Nôm, hành chính, đề tài đã làm rõ diện mạo toàn diện của làng từ điều kiện tự nhiên, biến động ruộng đất, tổ chức quản lý xóm làng đến truyền thống hiếu học và di tích lịch sử chống ngoại xâm. Công trình đóng góp nguồn cứ liệu thực chứng có giá trị phục vụ công tác giảng dạy, nghiên cứu Việt Nam học và quy hoạch phát triển văn hóa làng xã ven đô Hà Nội.