Mở đầu là tiểu thuyết 21 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Đêm hội Long Trì (1943) và đặc sắc nhất phải kể đến vở kịch Vũ Như Tô (1944)… Sinh ra trong một gia đình nhà nho khá giả có tinh thần yêu nước, bản thân lại có tấm lòng hướng về tổ quốc, Nguyễn Huy Tưởng đã sớm giác ngộ lý tưởng cách mạng. Từ năm 1943, ông hoạt động trong hội Văn hóa cứu quốc và được cử làm đại biểu của Hội đi dự Đại hội quốc dân ở Tân Trào năm 1945. Cách mạng thành công, nhà văn hăng hái hoạt động trong phong trào văn nghệ cách mạng và là một trong những người phụ trách Hội Văn hóa cứu quốc. Vở kịch Bắc Sơn của ông được viết và công diễn tháng 4 năm 1946 ở Hà Nội đã góp phần chứng minh sự thắng lợi của Văn nghệ Cách mạng nói chung và của nền kịch nói hiện đại Việt Nam nói riêng.
Trong kháng chiến chống pháp, ông tham gia thành lập Hội văn nghệ Việt Nam, tích cực hoạt động từ những ngày đầu. Vừa hoạt động phong trào, vừa tích cực sáng tác, Nguyễn Huy Tưởng cho ra đời nhiều tác phẩm có giá trị. Tiêu biểu có thể kể đến Ký sự Cao – Lạng, giải thưởng Văn nghệ Việt Nam 1951 – 1952. Với khoảng 20 năm sáng tạo, Nguyễn Huy Tưởng đã để lại số lượng lớn tác phẩm có chất lượng, có giá trị về nội dung, phong phú trong các thể loại khác nhau.
Sự nghiệp sáng tác của ông được chia làm hai giai đoạn: trước và sau Cách mạng. Trước 1945, với cảm quan lịch sử, ông viết Đêm hội Long Trì (1942), An Tư công chúa (1943) và kịch Vũ Như Tô (1942). Cách Mạng Tháng Tám thành công, ông tham gia biên tập báo Cờ giải phóng, Tiên phong và trở thành Tổng thư ký Ban trung ương vận động đời sống mới. Đến năm 1948, ông là một trong những người trực tiếp tham gia sáng lập tạp chí Văn nghệ, Nhà xuất bản Văn nghệ, đồng thời cũng trực tiếp làm thư ký tòa soạn từ số 3 đến số 21.
Sau 1945, Nguyễn Huy Tưởng tiếp tục hoạt động và say sưa sáng tác hơn bao giờ hết. Nội dung, cảm hứng văn chương cũng như các thể 22 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com tài văn học của nhà văn được mở rộng. Ông viết về sự đổi đời của nông dân với tiểu thuyết Truyện anh Lục (1955), cuộc hồi sinh của vùng đất Điện Biên với tiểu thuyết Bốn năm sau (1959)… Và đặc biệt hơn, đề tài lịch sử, đặc biệt là lịch sử hào hùng của đất nước trong những năm đầu Cách mạng vẫn lôi cuốn sự quan tâm của ông. Với đề tài lịch sử này, ông viết truyện phim Lũy hoa, tiểu thuyết Sống mãi với Thủ đô(1960).
Tuy nhiên, tác phẩm mới hoàn thành tập I, tài năng của ông đang được nở rộ thì nhà văn đột ngột mất vào tháng 7 năm 1960. Với sự nghiệp văn chương có giá trị của mình, ông đạt được nhiều giải thưởng về tác phẩm văn học: Ký sự Cao – Lạng, Truyện anh Lục, Sống mãi với thủ đô. Với những đóng góp của mình, Nguyễn Huy Tưởng được nhận giải thưởng Hồ Chí Minh đợt I. Nguyễn Huy Tưởng và lịch sử.
Nguyễn Huy Tưởng là người sớm có ý thức về lịch sử dân tộc. Ngay từ khi chưa đầy 20 tuổi, ông từng viết trong Nhật ký của mình rằng:“Người không biết lịch sử nước mình là một con trâu đi cày ruộng. Cày với ai cũng được mà cày ruộng nào cũng được”[17; tr. Ngay từ khi đi học, với nguồn kiến thức uyên bác, tinh thông Pháp văn và Hán văn, ông bắt đầu sự nghiệp của mình bằng những câu chuyện lịch sử, những nhân vật lịch sử.
Các tác phẩm của ông, hầu hết viết về chủ đề lịch sử, lấy chất liệu và đề tài từ nguồn lịch sử dân tộc. Vì thế, kịch lịch sử là một trong những mảng sáng tác quan trọng nhất của ông. Với những tác phẩm có giá trị cao, Nguyễn Huy Tưởng đã ghi dấu vào lịch sử phát triển của kịch lịch sử nói riêng và văn học Việt Nam nói chung. Tuy nhiên, cần phải khẳng định rằng, khác với các nhà văn theo dòng tiểu thuyết lịch sử đương thời, Nguyễn Huy Tưởng không theo xu hướng xuyên tạc lịch sử hoặc mượn lịch sử để trú ngụ, trốn tránh hiện thực xã hội rối 23 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com ren đương thời (như Khái Hưng, Lan Khai, Nguyễn Triệu Luật, Phan Khắc Khoan…).
Khác với những tác giả viết về lịch sử sau này với tư cách là những người “nhại” lịch sử, chỉ là “mượn” những cái tên trong lịch sử để từ đó thêm thắt và tạo ra cho chúng những đời sống mới nhằm xây dựng và truyền tải những thông điệp mà tác giả muốn gửi gắm,thì Nguyễn Huy Tưởng, trong tác phẩm của mình, lại luôn tôn sùng và trung thành với lịch sử - quá vãng xa xưa. Bởi vậy, để viết được một vở kịch lịch sử có giá trị, ông đã tốn rất nhiều công sức tìm tòi, khám phá và nghiên cứu nghiêm túc những tài liệu lịch sử, những tác phẩm của các nhà văn nổi tiếng trong quá khứ. Kịch lịch sử trong sáng tác của Nguyễn Huy Tưởng – một bước tiến mới trong bối cảnh khá phức tạp của sự phát triển thể loại. Trước Cách mạng Tháng Tám 1945, sự nghiệp văn học của Nguyễn Huy Tưởng được đánh dấu với bộ ba tác phẩm khá nổi tiếng, ra mắt công chúng và được đón nhận nhiệt liệt.
Đó chính làVũ Như Tô (1943) – một tác phẩm kịch lịch sử về câu chuyện của một người nghệ sĩ, một kiến trúc sư rất có tài thời vua Lê Tương Dực, Đêm hội Long Trì (1944) – một cuốn tiểu thuyết lịch sử viết về thời Trịnh Sâm với những tiếng nói tố cáo những tội ác của Đặng Lân, những âm mưu, thủ đoạn của người con gái xứ Kinh Bắc Đặng Thị Huệ…và vở An Tư công chúa (1944) – một cuốn tiểu thuyết lịch sử mô tả lại cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông của vua tôi nhà Trần vào những năm 1284 - 1285. Cả ba tác phẩm đều được khai thác dưới góc độ lịch sử, thấm đẫm dấu ấn lịch sử dân tộc, song mỗi tác phẩm lại gắn với một chủ đề riêng. Nếu như với Vũ Như Tô, nhà văn đưa người đọc trở về thời kì nhà nước phong kiến Việt Nam đang trên đà khủng hoảng trầm trọng của triều đại vua Lê Tương Dực, thì cũng tương tự vậy, đến với Đêm hội Long Trì, với sự soi rọi của ánh sáng lịch sử, nhà văn lấy bối cảnh lịch sử triều đại Lê mạt, thời kỳ vua Lê – chúa Trịnh, đất nước vô cùng suy yếu. Và với An Tư công chúa, nội dung sử thi 24 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com trở nên nổi bật hơn với việc khai thác câu chuyện về một nàng công chúa đời Trần hi sinh thân mình vì quốc gia, dân tộc mà ẩn sau nó là ý nghĩa về vận mệnh của tổ quốc, vận mệnh của nhân dân.
Ngoài ra, cùng thời kỳ này còn có tác phẩm Cột đồng Mã Viện,vở kịch về sức sống của dân tộc lấy bối cảnh là một vùng đất biên giới giữa nước ta (khi đó là Giao Chỉ) và tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc. Như vậy, với số lượng tác phẩm không nhiều, nhưng rõ ràng, từ trước Cách mạng, Nguyễn Huy Tưởng dường như đã xác định con đường đi cho những tác phẩm kịch của mình theo hướng lịch sử. Vì thế, sau Cách mạng, khuynh hướng kịch lịch sử của Nguyễn Huy Tưởng ngày càng trở nên đậm nét hơn. Cách mạng tháng Tám 1945 thành công đã mang lại sức sống mới cho thời đại, mang lại nguồn cảm hứng dồi dào bất tận với tất cả các nhà văn, nhà thơ, họa sĩ, nhiếp ảnh… Và cũng nằm trong dòng chảy lịch sử ấy, Nguyễn Huy Tưởng cho ra đời hai vở kịch ghi lại dấu ấn của mình trong lịch sử văn học dân tộc: Bắc Sơn và Những người ở lại.
Nếu như Bắc Sơn được nhà văn khai thác từ hiện thực cuộc khởi nghĩa vũ trang ở Bắc Sơn, Đình Cả năm 1940 – 1941 với tinh thần quật khởi của nhân dân giữa lựa chọn sống tự do hay tiếp tục làm nô lệ, thì Những người ở lại lại mang đến không khí của cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân ta vào những năm 1946 với vấn đề điển hình của người dân thời bấy giờ: tản cư để kháng chiến hay ở lại trong thành chấp nhận cuộc sống đầy đủ về vật chất nhưng lại có lỗi với cuộc kháng chiến của cả dân tộc? Đọc tác phẩm, chúng ta không thể không chú ý đến những thanh niên trẻ tuổi sống trong thời kì lịch sử bi tráng của dân tộc, họ chiến đấu hết mình vì tiếng nói tình yêu Tổ quốc, độc lập dân tộc. Nguyễn Huy Tưởng, theo như GS Hà Minh Đức, là “một trí thức có tâm huyết, gắn bó với lịch sử Hà Nội, tác phẩm của ông ngợi ca truyền thống anh hùng của dân tộc trong quá khứ, hiện tại và bày tỏ tâm sự, nêu những vấn đề của người trí thức đi theo Cách Mạng”[8; tr. Và vì vậy, chúng ta không 25 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com ngạc nhiên khi theo dõi tiến trình sự nghiệp sáng tác của ông, một Nguyễn Huy Tưởng với cái duyên với lịch sử, nên chẳng có gì lạ khi có sự trùng hợp rằng, những tác phẩm văn xuôi đầu tay kể trên và sáng tác cuối cùng của ông Sống mãi với thủ đô đều hướng về đề tài lịch sử, cụ thể là về Thăng Long,về Hà Nội. Các nhân tố tạo nên cảm hứng lịch sử trong các sáng tác của Nguyễn Huy Tưởng.
Để tạo nên con người những tác phẩm in đậm dấu ấn phong vị lịch sử của Nguyễn Huy Tưởng, có hai vấn đề cơ bản là hoàn cảnh lịch sử và những thôi thúc bên trong của nhà văn. Xét về yếu tố khách quan, điều kiện trước tiên và cơ bản dẫn đến quá trình sáng tác về các đề tài lịch sử dân tộc chính là điều kiện về hoàn cảnh và môi trường sống. Cha ông mất sớm, ông chịu sự giáo dục nuôi dưỡng chủ yếu từ người mẹ, một người phụ nữ tần tảo, nhân từ có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển nhân cách của nhà văn.