CHƯƠNG I: VÀI NÉT VỀ CUỘC ĐỜI, CON NGƯỜI VÀ VĂN NGHIỆP CỦA NGUYỄN ĐÌNH LẠP 1.Cuộc đời,con người và sự nghiệp sáng tác: 1.Cuộc đời và con người: Nguyễn Đình Lạp cũng là một trong số những nhà văn yểu mệnh như Vũ Trọng Phụng. Nhưng nếu Vũ Trọng Phụng với tuổi đời hai mươi bảy ngắn ngủi đã khẳng định được tên tuổi của mình bằng một khối lượng sáng tác khá đồ sộ thì Nguyễn Đình Lạp với tuổi đời ba mươi chín đầy tâm huyết nhưng vẫn chưa có được một vị trí xứng đáng trên văn đàn. Cuộc đời tuy ngắn ngủi nhưng nhà văn trẻ này đã sớm chuyển mình đem tài năng phục vụ cho sự nghiệp cách mạng. Vì thế, cuộc đời và nhân cách của nhà văn Nguyễn Đình Lạp cũng có những nét đáng để cho người đời sau kính phục.
Nhà văn Nguyễn Đình Lạp còn có các bút danh khác như Song Đình, Yến Dực. Ông sinh ngày 19 - 9 - 1913 tại làng Bạch Mai, huyện Hoàn Long, tỉnh Hà Đông, nay là phố Bạch Mai thuộc quận hai Bà Trưng - Hà Nội. Vì thế, tên tuổi của Nguyễn Đình Lạp trong dòng văn học hiện thực phê phán cũng gắn liền với những sáng tác về Hà Nội - mảnh đất mà ông sinh trưởng. Tuy mồ côi cha mẹ từ rất sớm nhưng bù lại, Nguyễn Đình Lạp được sự đùm bọc cưu mang của ông nội Nguyễn Đình Phúc - một chí sĩ đã từng tham gia phong trào Đông Kinh nghĩa thục và chú ruột Nguyễn Phong Sắc - một cán bộ cách mạng từng có thời là uỷ viên trung ương Đảng Cộng Sản Đông Dương.
Lớn lên trong một gia đình có truyền thống yêu nước và cách mạng như thế, Nguyễn Đình Lạp đã sớm chọn cho mình con đường đi đúng đắn: đi theo con đường cách mạng của Đảng. Trong khi đó, vấn đề “nhận đường” đặt ra một cách hết sức bức thiết đối với văn nghệ sĩ. Đâu phải nhà văn nào cũng có được sự ý thức đầy đủ và đúng đắn để có thể nhanh chóng “lột xác” và đến với cách mạng một cách dễ dàng. Lớn lên giữa chốn Hà thành đầy rẫy “những cạm bẫy người”, những ổ lưu manh, thanh niên phần lớn đi vào con đường truỵ lạc, ấy thế mà Nguyễn Đình Lạp không chỉ biết định hướng đúng đắn cho bản thân mà còn nuôi các em ăn học nên người.
Thuở nhỏ, Nguyễn Đình Lạp học tại trường ở phố Bạch Mai. Tốt nghiệp trung học, ông rời nhà trường với mảnh bằng tốt nghiệp và chuyển sang làm báo, viết văn. Thoạt đầu, Nguyễn Đình Lạp tập viết tin tức cho các báo và từ năm 1933 đã có nhiều bài đăng trên tờ Tân thiếu niên.Từ 1936 trở đi giữa “cái thời thanh niên thành thị bị mê hoặc bởi lối sống vui vẻ trẻ trung”, Nguyễn Đình Lạp đã biết lo cho tương lai của tuổi trẻ lạc đường, biết thương xót những người dân nô lệ và nghèo khổ” (Vũ Tú Nam,2003:853) thể hiện qua hàng loạt những phóng sự. SVTH: Nguyễn Thị Xuân Mai 9 Đặc điểm tiểu thuyết Nguyễn Đình Lạp Đầu những năm 1940, Nguyễn Đình Lạp bắt đầu chuyển sang viết tiểu thuyết Bước vào những năm tiền khởi nghĩa tháng tám, một số bạn bè đồng nghiệp của Nguyễn Đình Lạp đã tham gia cách mạng.
Qua người bạn Nguyễn Huy Tưởng, Nguyễn Đình Lạp đã biết đến văn hoá cứu quốc. Từ đó, ông đã nhiệt tình tham gia hoạt động Cách mạng và có mặt trong đoàn văn nghệ sĩ Nam tiến vào mặt trận quân khu V. Sau cách mạng năm 1946, Nguyễn Đình Lạp là một trong số những nhà văn đầu tiên vào quân đội và tham gia Hội văn nghệ liên khu IV. Ông phụ trách văn nghệ phòng chính trị đại đoàn 304.
Cũng trong thời kì này, ông làm giảng viên môn học phóng sự của nhiều khoá văn nghệ kháng chiến khu IV mở tại Thanh Hoá. 1950, Nguyễn Đình Lạp được kết nạp vào Đảng Cộng Sản Đông Dương. Năm 1951-1952, ông được biệt phái công tác về Mặt trận Hà Nội. Đối với bạn bè, đồng chí, Nguyễn Đình Lạp vừa là một người dễ gần dễ mến vừa là một tấm gương đáng kính đáng trọng.
Là một người lặng lẽ, ít nói, thế mà có lần, Nguyễn Đình Lạp đã trao đổi một cách sôi nổi với Vũ Tú Nam “về văn học phục vụ kháng chiến, phục vụ cách mạng, những gian khổ rèn luyện của người cầm bút, suốt đời phải lo việc “sống, học và viết” sao cho tốt” (Vũ Tú Nam,2003:853). Nguyễn Đình Lạp là một nhà văn đầy tâm huyết nên dẫu đã cống hiến hết sức mình cho nghệ thuật và cho cách mạng, ông vẫn chưa bao giờ cảm thấy thoả mãn. Điều ấy thể hiện trong câu nói đầy trăn trở và nuối tiếc với Vũ Tú Nam: “Nam có cả tương lai trước mắt. Mình thì đi đã quá nửa đường rồi, thật không dễ chút nào” (Vũ Tú Nam,2003:853).
Đối với gia đình, Nguyễn Đình Lạp là niềm tự hào của vợ con. Ông cũng có một mái gia đình ấm cúng với một người vợ biết hi sinh và những đứa con ngoan. Tình yêu của ông và bà Bạch Liên - vợ nhà văn - là một tình yêu đáng trân trọng. Một người sống hết mình theo tiếng gọi nghề nghiệp như Nguyễn Đình Lạp không khỏi có những lúc xao lãng việc gia đình nhưng thật hạnh phúc khi ông có được một người vợ biết cảm thông, chia sẻ gánh nặng cùng chồng.
Bà Bạch Liên không những là cánh tay phải đắc lực của ông lúc sinh thời mà còn là người đã giúp ông hoàn thành tâm nguyện còn dang dở khi đã quá cố bằng cách tập hợp và công bố những sáng tác của ông - một món di sản quý báu mà ông để lại cho đời. Cuộc đời của Nguyễn Đình Lạp tuy ngắn ngủi nhưng đã trải qua bao nổi éo le ly kì. Đó là do hoàn cảnh bắt buộc phải lăn lộn nhiều trong thực tế cuộc sống và trong cuộc chiến đấu ác liệt của dân tộc. Chất ly kì ấy cũng len lỏi vào những trang tiểu thuyết của ông làm cho nó có một phong vị riêng.
Oái oăm thay, cuộc sống chiến đấu gian khổ không làm cho nhà văn chiến sĩ chùn bước nhưng một cơn sốt rét ác tính lại quật ngã ông. Nằm trên giường bệnh trong những ngày chiến đấu khốc liệt, nhà văn vẫn tràn đầy lạc quan viết lên những dòng nhật ký cuối cùng: “Đời có vui và tin tưởng” (Nhật ký Nguyễn Đình Lạp) rồi trút hơi thở cuối cùng tại quân y viện 32 ở Thanh Hoá ngày 24 - 4 -1952.Sự nghiệp sáng tác: So với những cây bút khác trong cùng trào lưu, Nguyễn Đình Lạp không phải là một nhà văn có sức viết dồi dào nhưng những gì ông để lại cho văn đàn không phải là ít có SVTH: Nguyễn Thị Xuân Mai 10 Đặc điểm tiểu thuyết Nguyễn Đình Lạp giá trị. Số lượng sáng tác trong toàn bô văn nghiệp của Nguyễn Đình Lạp không nhiều và chủ yếu tập trung ở hai thể loại phóng sự và tiểu thuyết. Trước cách mạng tháng tám, Nguyễn Đình Lạp đến với phóng sự vì ông quan niệm “phóng sự là một lợi khí sắc bén” có thể “ghi chép đầy đủ, nóng hổi sự sống…” (Nguyễn Đình Lạp,2003:794) và cũng bắt đầu từ đó, ông đã thu hút được sự chú ý của người đọc.
Trước hết là những phóng sự ngắn đăng trên báo Bắc Hà 1937 như Hà Nội, Giao thừa, Đi ở. Sau đó ông càng được nhiều người biết đến qua một loạt tác phẩm phóng sự dài đăng tải trên các báo Tiểu thuyết thứ năm, Ích hữu như Chợ phiên đi tới đâu (1937), Thanh niên truỵ lạc (1937), Từ ái tình đến hôn nhân (1937), Cường hào (1938). Đầu những năm 1940, Nguyễn Đình Lạp chuyển sang viết tiểu thuyết bởi ông nhận ra “tiểu thuyết là một nghệ thuật rộng rãi và nhiệm mầu hơn phóng sự. Chỉ có tiểu thuyết mới ghi nổi u uẩn sâu kín nhất của con người và những quan hệ vô cùng phức tạp phiền phức của xã hội” (Nguyễn Đình Lạp,2003:793).Và khi hai tiểu thuyết đầu tay ra đời: “Ngoại ô” - xuất bản 1941 và “Ngõ hẻm” - xuất bản 1943 thì Nguyễn Đình Lạp lại càng thu hút sự chú ý của người đọc.
* Tóm lược về hai tiểu thuyết “Ngoại ô” và “Ngõ Hẻm”: Hai tiểu thuyết này được xem là bộ tiểu thuyết liên hoàn bởi nội dung của nó có sự liên quan và tiếp nối nhau. Nếu như “Ngoại ô” là câu chuyện xoay quanh gia đình của bác Vuông bán giò chả thì “Ngõ hẻm” lại là câu chuyện xoay quanh gia đình của chàng đồ tể Nhớn – con rể bác. “Ngoại ô” phản ánh cuộc sống của những người dân nghèo vùng Vạn Thái, Bạch Mai, thuộc Ô Cầu Dền, Hà Nội. Đó là những con người sống bằng đủ thứ nghề: buôn bán, phu xe, đồ tể, cô đầu, gái điếm và có cả những tay lưu manh, trộm cướp.
Trong đó, gia đình bác Vuông bán giầy giò được khắc hoạ đậm nét nhất. Gia đình bác Vuông rất nghèo, cái nghèo truyền kiếp nhưng bác rất hào hiệp, hay giúp đỡ cô đầu Huệ lúc khó khăn. Nghe bác phở Mỗ ngỏ lời, bác Vuông quyết định gả cái Khuyên – con gái bác cho Pháo – con trai bác phở Mỗ và đã cho ăn hỏi. Trong khi đó, nhiều người hay gán ghép Khuyên với Nhớn, một anh chàng đồ tể lành nghề, tráng kiện làm cho Khuyên hay so sánh Pháo với Nhớn.
Gia đình bác Vuông chỉ có ba đứa con gái nên vợ bác vẫn mong cưới vợ lẽ cho chồng để kiếm con trai nối dõi và đã nhờ người mai mối. Cưới vợ lẽ về chưa được bao lâu thì tai hoạ cũng dồn dập kéo đến: Lệnh cấm giò chả, cấm thịt ở ngoại ô vào thành phố bán. Gia đình bác Vuông khốn đốn vì không bán được hàng, tiền đút lót cũng mất, bác Vuông gái đi buôn thịt lậu cũng bị bắt. Rồi đùng một cái, bác gái chết vì bệnh dịch tả, đưa về quê chôn lại bị bọn lí dịch hoạnh hoẹ đủ điều.
Đau khổ vì vợ mất, bác Vuông lại biết Nhớn và Khuyên yêu nhau liền cho Pháo cưới gấp. Nhớn liều đào mả trộm vàng để có tiền trốn đi cùng Khuyên. Bấy nhiêu nỗi khổ dồn dập khiến bác Vuông hoá điên và tác phẩm kết thúc trong buổi chiều tà ảm đạm khi bác Vuông bị bắt vào nhà thương điên bỏ lại sau lưng người vợ lẽ với cái bụng chửa và cái Còi - đứa con gái bị câm của bác. “Ngõ hẻm” là câu chuyện về Nhớn và Khuyên khi đã trốn đi khỏi Bạch Mai.
Sau khi đưa Khuyên trốn đến Hải Phòng, Hà Tu, phần vì Khuyên ốm, phần vì nghe tin bác Vuông bị điên nên Nhớn đưa vợ trở về Bạch Mai.