Chương 1: Lê Hoằng Mưu và Văn học quốc ngữ Nam Bộ cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX I. Văn học quốc ngữ Nam Bộ cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX Cuối thế kỉ XIX, cùng với sự ra đời của chữ quốc ngữ, sự ra đời của báo chí đã tạo điều kiện thuận lợi cho văn học phát triển. Khởi đầu là những truyện ngắn đơn giản với những câu chuyện vui, những chuyện nêu gương trung hiếu tiết nghĩa…như Chuyện đời xưa (1866), Chuyện khôi hài (1882) của Trương Vĩnh Ký, Chuyện giải buồn (1886) của Huỳnh Tịnh Của….với lời văn nôm na, giản dị và gần gũi bằng ngôn ngữ hằng ngày. Bên cạnh sự tồn tại, phát triển của những truyện ngắn đơn giản, hoạt động dịch thuật các tác phẩm văn học nước ngoài bao gồm cả truyện Tàu, truyện Tây ra tiếng việt bằng chữ quốc ngữ diễn ra khá sôi nổi và hoạt động này đã có những ảnh hưởng nhất định đến quá trình phát triển của văn học quốc ngữ Nam Bộ.
Đi đầu trong phong trào dịch thuật là Trương Minh Kí với tác phẩm Chuyện Phansa diễn ra quốc ngữ. Năm 1909 Trần Chánh Chiếu dịch Le Comte de Monte Cristo của A. Dumas với nhan đề Tiền căn hậu báo, năm 1914 ông lại dịch cuốn Les trios mousquetaires cũng của A. Dumas với nhan đề Ba chàng ngự lâm pháo thủ… Sự tiếp xúc với văn học phương Tây đã mở ra những chân trời mới cho văn học quốc ngữ Nam Bộ.
Không những vậy, đó còn là món ăn tinh thần không thể thiếu của tầng lớp thanh niên trí thức lúc bấy giờ. Theo thời gian, xu hướng sáng tác theo sự ảnh hưởng của văn học phương Tây đã nở rộ. Bắt đầu từ việc xuất hiện những đề tài mới lạ - đó 17 là những đề tài gắn liền với cuộc sống hiện thự “phạm vi phản ánh được mở rộng từ những chuyện nhỏ nhặt trong đời sống cá nhân, trong cuộc sống gia đình đến những vấn đề trong thôn xóm, làng mạc và mở rộng ra tới những vấn đề lớn lao trong lịch sừ dân tộc. Tiểu thuyết Nam Bộ cũng miêu tả những “cuộc kiếm tìm hạnh phúc” của những con người bình thường trong cuộc đời thường” [90, 74] cho đến cách hành văn, cụ thể là sự từ bỏ lối văn biền ngẫu, thay vào đó là lối viết hiện đại với văn từ trong sáng và giản dị.
Lúc đầu, ảnh hưởng của văn học phương Tây chỉ dừng lại ở việc các nhà văn Nam Bộ phóng tác theo một vài tác phẩm văn học nước ngoài tiêu biểu như Hồ Biểu Chánh với Chúa tàu Kim Quy, Cay đắng mùi đời,… Bên cạnh truyện Pháp, tiểu thuyết Trung Hoa cũng được dịch rộng rãi. Có thể thấy những tác phẩm lớn như Tam quốc diễn nghĩa, Tây du kí…lần lượt xuất hiện. Cũng như sự ảnh hưởng của văn học Pháp, sự ảnh hưởng của văn học Trung Hoa đối với quá trình sáng tác của các nhà văn Nam Bộ cũng khá đậm nét. Đó là kết cấu chương hồi, nghệ thuật xây dựng nhân vật, điển tích, điển cố… Như vậy, bên cạnh truyện ngắn, truyện thơ truyền thống có đổi mới về nội dung, truyện dịch cũng đã góp phần làm cho văn học quốc ngữ Nam Bộ những năm cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX thêm phần phong phú.
Nhưng bên cạnh đó, sự phát triển mạnh mẽ về kinh tế, xã hội đã kéo theo sự phát triển của văn học. Người biết chữ quốc ngữ ngày càng nhiều, cuộc sống ngày một hiện đại, nhịp sống ngày càng sôi động. Song song đó, nhịp sống mới đã xuất hiện những nhu cầu giải trí mới, những truyện ngắn đơn giản, truyện thơ, truyện dịch, chuyện phóng tác,…chưa đủ để đáp ứng nhu cầu của tầng lớp độc giả mới – tầng lớp độc giả ở thành thị. Để bắt kịp những nhu cấu của thời đại, những tác phẩm văn học được sáng tác bằng văn xuôi quốc ngữ ra đời.
18 Năm 1887 truyện Thầy Lazarô Phiền của Nguyễn Trọng Quản ra đời. Tác phẩm là một hiện tượng độc đáo “là tiểu thuyết bằng quốc ngữ viết theo phương Tây sớm hơn cả ở miền Nam”. [10, 56] Tác phẩm này mới cả về nội dung lẫn hình thức: không có kết cấu chương hồi, không có câu văn biền ngẫu, không có kết thúc có hậu, …nhân vật chính cũng không phải là mẫu người Nam Bộ bộc trực chất phác mà là một người luôn bị dằn vặt day dứt giữa với những lầm lỗi trong quá khứ…song như Bằng giang nhận xét: “Truyện Thầy Lazarô Phiền chỉ là một con chim lạ từ phương Tây đáp xuống một vùng đất còn vắng bóng đồng loại. Bởi lẽ nó mới nổi lên như một ốc đảo chơi vơi vào nửa sau thế kỉ XIX, không riêng gì ở Nam Kì mà cả Việt Nam”[5, 303] bởi lẽ đây là một tác phẩm mới trên tất cả các phương diện nhưng liên tục nhiều năm sau đó không có một tác phẩm nào kế thừa, … Năm 1906 trên báo Nông cổ mín đàm, chủ bút Trần Chánh Chiếu công bố cuộc thi viết tiểu thuyết gọi là Quốc âm thí cuộc với đề ra “Tiền căn báo hậu” yêu cầu những tác phẩm dự thi phải làm rõ được những đặc điểm của tiểu thuyết Việt Nam đương thời: vừa có những nét truyền thống lại vừa có nét cách tân…tuy nhiên cuộc thi nhanh chóng rơi vào lãng quên bởi từ đầu đến cuối cuộc thi chỉ có ba tác phẩm đăng kí dự thi… Năm 1910, Trần Chánh Chiếu cho ra mắt Hoàng Tố Anh hàm oan.
Tác phẩm dài 54 trang, về hình thức rất gần với kết cấu chương hồi truyền thống. Tác phẩm được chia làm 15 hồi, mỗi hồi có một hoặc hai câu Hán Việt tóm tắt nội dung, kể về cuộc đời nhiều truân chuyên của một cô gái nhà nghèo làm nghề bán trầu nhưng đẹp người đẹp nết tên là Hoàng Tố Anh. Vì một tai nạn, Hoàng Tố Anh sa vào nhà một tên Thiên hộ từ cha đến con đều có máu Bùi Kiệm, gái thì hoang dâm chửa hoang, ăn ở thất đức. Nhưng thay vì mải mê bàn luận 19 về sự đời như các tác phẩm truyền thống, tác giả đã mau chóng đi ngay vào câu chuyện và cho xuất hiện ngay những nhân vật chính, điều này làm câu chuyện sinh động, hấp dẫn.
Cũng năm đó, Phan yên ngoại sử tiết phụ gian truân của Trương Duy Toản ra đời. Tiếp theo sau đó, năm 1911, Thoại Thiều Anh của Ô Môn Nguyễn Bửu Hạp ra đời – đây là một tác phẩm mà cả nội dung lẫn hình thức đều không có gì mới lạ. Sau Thoại Thiều Anh, trong hai năm 1912 – 1913 tác phẩm Vợ chồng nghĩa bộc viết về tấm lòng trung nghĩa của vợ chồng người nô bộc đối với chủ của Trần Hữu Khuê ra mắt độc giả trên báo Lục tỉnh tân văn,…góp thêm vào sự đa dạng về mặt đề tài cho văn học quốc ngữ lúc bấy giờ… Nổi bật hơn cả là tác phẩm Truyện nàng Hà hương của Lê Hoằng Mưu đăng trên Nông cổ mín đàm, về sau được nhà in Nguyễn Văn Viết xuất bản với tên gọi Hà Hương phong nguyệt. Câu chuyện kể về Hà Hương - một cô gái lẳng lơ và nham hiểm…Tác phẩm đề cập tới những vấn đề nhạy cảm, với những hành động sành sõi của Hà Hương…đã làm rộ lên cuộc bút chiến sôi nổi trên văn đàn lúc bấy giờ.
Sôi nổi và gây được sự chú ý của dư luận đến mức đã bị chính quyền thực dân tịch thu rồi đem đốt bởi bị cho là “dâm thư”, “có hại cho phong hóa dân tộc”, Năm 1917, Kim thời dị sử của Biến Ngũ Nhi ra mắt công chúng trên Công luận báo. Đây là một tác phẩm được viết theo thể loại trinh thám. Nhân vật chính là tên cướp Ba Lâu – một tên cướp chuyên cướp của người giàu trao cho người nghèo. Đáng chú ý hơn cả là năm 1920 Nguyễn Chánh Sắt giới thiệu Nghĩa hiệp kỳ duyên - nhân vật chính là Chăng Cà Mum trải qua quãng đời lưu lạc nhưng vẫn giữ được bản tính tốt đẹp để rồi cuối cùng được trở rồi đoàn viên cùng gia đình.
…Tác phẩm hội tụ những luồng ảnh hưởng của văn học phương Tây và tiểu thuyết Trung Hoa, có thể coi là “mô hình của tiểu 20 thuyết trong nền văn học mới” [7, 233] góp thêm cho nền văn học quốc ngữ Nam Bộ buổi đầu thêm phần phong phú. Mặc dù được đánh giá khá cao nhưng tiểu thuyết trên của Nguyễn Chánh Sắt vẫn mang hơi hướng của truyện trung đại với cách kết cấu chương hồi, thời gian tuyến tính, kết thúc có hậu… Sang những năm 20, văn học quốc ngữ Nam Bộ thực sự khởi sắc. Một trong số những nhà văn có những đóng góp tích cực không thể không nhắc đến Hồ Biểu Chánh – nhà văn “viết nhiều tiểu thuyết nhất ở Việt Nam”1 với hàng loạt tác phẩm như Cay đắng mùi đời, Tiền bạc bạc tiền, Thầy thông ngôn, Con nhà nghèo, Cha con nghĩa nặng.với những đề tài bao quát những mảng hiện thực khác nhau ở thành thị và nông thôn Việt Nam buổi đương thời. Tuy nhiên, trong hầu hết các sáng tác của Hồ Biểu Chánh, quan niệm đạo đức chi phối nhiều đến sáng tác của ông, do đó, trong tiểu thuyết của ông luôn có kết thúc có hậu: người ở hiền sẽ gặp lành, kẻ tích ác sẽ gặp điều dữ,….nhưng phải chăng chính vì lí do đó mà những sáng tác của ông luôn được người bình dân đón đọc? Bên cạnh Hồ Biểu Chánh, văn học quốc ngữ thời kì này còn những tên tuổi khác như: Bửu Đình (Cậu Tám lọ,), Nguyễn Văn Vinh (Tam Yên di hận, Mẹ chồng nàng dâu),… Sang đầu những năm 30, với thể loại tiểu thuyết phá án cùng những cây bút tiêu biểu như Nam Đình Nguyễn Thế Phương (Vô oan trái), Phú Đức (Căn nhà bí mật, Chẳng vì tình,…), Phú Đức (Châu về hợp phố),…đã tạo được sức hút đối với bạn đọc….
Như trên đã nói, trong những năm cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX này sự ra đời của văn xuôi quốc ngữ là một điều tất yếu trong tiến trình phát triển của văn học quốc ngữ Nam Bộ. Bên cạnh đó, việc giao lưu, 1 Chữ dùng của Trần Đình Hượu – Lê Chí Dũng – “Văn học Việt Nam 1900 – 1945” 21 ảnh hưởng bởi những nền văn học ngoại quốc như văn học Pháp, văn học Trung Quốc cũng là điều tất yếu. Chính quá trình giao lưu học hỏi đã mang lại những đổi mới nhất định cho văn học quốc ngữ Nam Bộ nói chung và tiểu thuyết nói riêng. Chính việc mạnh dạn tiếp nhận những tinh hoa từ những nền văn học lớn, từ đề tài, kết cấu cho đến nghệ thuật xây dựng nhân vật,…đã giúp cho văn học quốc ngữ Nam Bộ có những bước chuyển mình đáng kể.