Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Lớp Bò sát (Reptilia) giữ vai trò mắt xích sinh thái trọng yếu trong các quần xã sinh vật nhiệt đới. Đa số các loài thằn lằn và rắn tham gia điều hòa số lượng côn trùng, động vật thân mềm và gặm nhấm gây hại nông nghiệp, đồng thời là mắt xích thức ăn quan trọng cho nhiều loài chim, thú và bò sát lớn. Bên cạnh giá trị sinh thái, nhiều loài bò sát như trăn, rắn, rùa, ba ba có giá trị sử dụng làm thực phẩm và dược liệu bồi bổ hoặc trị bệnh. Dưới áp lực khai thác thương mại quá mức cùng sự suy thoái sinh cảnh, nhiều quần thể bò sát tự nhiên đang bị suy giảm nghiêm trọng và đứng trước nguy cơ tuyệt chủng.

Khu bảo tồn thiên nhiên (KBTTN) Pù Hoạt thuộc địa bàn huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An, được thành lập nhằm bảo tồn các hệ sinh thái và khu hệ động - thực vật đặc trưng vùng núi Bắc Trung Bộ. Khu bảo tồn đóng vai trò rừng phòng hộ xung yếu đầu nguồn cho lưu vực sông Hiếu, sông Chu và các công trình thủy điện lớn (Hủa Na, Sao Va, Bản Mòng, Cửa Đạt). Pù Hoạt cũng là một trong ba vùng lõi rừng đặc dụng thuộc Khu dự trữ sinh quyển miền Tây Nghệ An được UNESCO công nhận ngày 20/09/2007.

Trước khóa luận này, khu hệ bò sát Pù Hoạt đã qua nhiều giai đoạn khảo sát:

  • Dự án Frontier-Việt Nam (2000) và Dự án xây dựng khu bảo tồn (2002) thống kê được 32 loài.
  • Hoàng Xuân Quang (2008) điều tra ghi nhận 28 loài.
  • Đậu Quang Vinh (2009–2012) bảo vệ luận án tiến sĩ ghi nhận 52 loài thuộc 7 họ, bổ sung 14 loài cho khu bảo tồn và ghi nhận vùng phân bố mới của 6 loài tại Nghệ An và Bắc Trung Bộ.
  • Báo cáo thống kê của Ban quản lý KBTTN Pù Hoạt (2015) theo Công văn số 986/TCLN-BTTN cập nhật được 61 loài thuộc 15 họ.
  • Đợt điều tra năm 2019 của Ban quản lý phối hợp chuyên gia Trường Đại học Lâm nghiệp thống kê được 64 loài thuộc 45 giống, 15 họ và 2 bộ.

Mặc dù có nhiều đợt khảo sát, thông tin về bò sát tại khu bảo tồn vẫn còn tản mạn, thiếu sự đồng nhất về hệ thống phân loại học giữa các thời kỳ và chủ yếu dừng lại ở việc lập danh lục sơ bộ mà chưa phân tích chuyên sâu các yếu tố sinh thái (loại hình nơi ở, tính thực) cũng như chưa xác lập khung phân cấp ưu tiên bảo tồn. Do đó, tác giả Đàm Quang Hùng thực hiện đề tài nhằm đánh giá toàn diện cấu trúc khu hệ và cung cấp căn cứ khoa học cho công tác quản lý.

Mục tiêu nghiên cứu:

  • Mục tiêu chung: Cung cấp cơ sở khoa học cho công tác bảo tồn đa dạng sinh học Bò sát tại KBTTN Pù Hoạt; đồng thời bổ sung thông tin về đặc trưng sinh thái của khu hệ Bò sát Việt Nam.
  • Các mục tiêu cụ thể:
    1. Đánh giá tính đa dạng loài và giá trị bảo tồn của khu hệ Bò sát ở KBTTN Pù Hoạt;
    2. Đề xuất bộ tiêu chí và xác lập các ưu tiên trong bảo tồn đa dạng loài Bò sát tại KBTTN Pù Hoạt.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Các đặc điểm khu hệ Bò sát, giới hạn trong ba yếu tố: (1) Thành phần loài và các loài có giá trị bảo tồn cao; (2) Loại hình sinh thái nơi ở; (3) Tình trạng tính thực (thức ăn).
  • Phạm vi không gian: Toàn bộ diện tích tự nhiên KBTTN Pù Hoạt (85.761,43 ha) và vùng đệm trải dài trên địa giới hành chính của 9 xã (Tiền Phong, Châu Thôn, Tri Lễ, Nậm Nhoóng, Cắm Muộn, Nậm Giải, Hạnh Dịch, Thông Thụ, Đồng Văn) thuộc huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An.
  • Phạm vi thời gian và nguồn tư liệu: Dữ liệu kế thừa có chọn lọc từ các công trình từ năm 2008 đến 2015 và số liệu khảo sát thực địa bổ sung thực hiện năm 2019 cùng các văn bản phân loại, bảo tồn cập nhật đến năm 2020.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khung phân loại và căn cứ pháp lý bảo tồn

Khóa luận sử dụng hệ thống phân loại học và danh pháp chuẩn hóa theo tài liệu "Danh lục Bò sát - Ếch nhái Việt Nam" của Nguyễn Văn Sáng, Hồ Thu Cúc, Nguyễn Quảng Trường (2005b). Các ghi nhận phân bố địa lý được đối chiếu với công trình "Herpetofauna of Vietnam" (Nguyen et al., 2009).

Tình trạng bảo tồn và mức độ nguy cấp của các loài được tra cứu, đối chiếu theo các văn bản quy chuẩn quốc gia và quốc tế gồm:

  • Danh lục Đỏ của Liên minh Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế (IUCN Red List, 2020).
  • Sách Đỏ Việt Nam - Phần Động vật (Bộ Khoa học và Công nghệ, 2007).
  • Phụ lục Công ước quốc tế về buôn bán các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp (CITES, 2019).
  • Nghị định số 06/2019/NĐ-CP của Chính phủ về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm và thực thi CITES (Nhóm IB, IIB).
  • Nghị định số 160/2013/NĐ-CP của Chính phủ về tiêu chí xác định loài và chế độ quản lý loài thuộc danh mục nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ.

Khung phân chia sinh thái nơi ở và tính thực dựa trên cơ sở tài liệu của Đào Văn Khương và cs. (2003), Hoàng Xuân Quang và cs. (2005, 2012), Lê Vũ Khôi (2009) và Giáo trình Động vật rừng (Phạm Nhật & Đỗ Quang Huy, 1998):

  • Nhóm nơi ở: Sinh sống trên mặt đất (MĐ), sống dưới lòng đất (LĐ), sống trên cây (TC), sống ở khu nước (KN).
  • Nhóm tính thực: Ăn động vật có xương sống và giun đất (ĐV), ăn côn trùng (CT), ăn thực vật (TV), ăn tạp (T).

Phương pháp nghiên cứu

  • Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp: Tổng hợp và phân tích 03 báo cáo chuyên đề về Pù Hoạt (Đậu Quang Vinh, 2012; Ban quản lý KBTTN Pù Hoạt, 2015; Ban quản lý KBTTN Pù Hoạt, 2019). Tác giả áp dụng nguyên tắc loại trừ: chỉ kế thừa các ghi nhận từ báo cáo năm 2015 nếu loài đó đã được xác nhận phân bố ở vùng Bắc Trung Bộ theo tài liệu Nguyen et al. (2009); loại bỏ hoàn toàn các dạng dữ liệu chưa định danh chính xác đến taxon bậc loài.
  • Phương pháp khảo sát thực địa: Dữ liệu đợt điều tra năm 2019 được ghi nhận thông qua 4 nguồn: quan sát trực tiếp ngoài tự nhiên (QS), phân tích mẫu vật bẫy bắt được (MBB), mẫu vật lưu giữ trong dân (MTD) và điều tra phỏng vấn cộng đồng địa phương (PV).
  • Phương pháp phân tích định lượng đa dạng phân loại: So sánh mức độ phong phú giữa KBTTN Pù Hoạt với ba khu hệ lân cận (KBTTN Xuân Liên, KBTTN Pù Huống, Vườn quốc gia Pù Mát) bằng chỉ số đa dạng phân loại học ($S_i$):

$$S_i = \frac{L_i - L_{bq}}{L_{bq}} + \frac{G_i - G_{bq}}{G_{bq}} + \frac{H_i - H_{bq}}{H_{bq}} + \frac{B_i - B_{bq}}{B_{bq}}$$

Trong đó: $L_i, G_i, H_i, B_i$ lần lượt là số loài, số giống, số họ, số bộ của khu thứ $i$; $L_{bq}, G_{bq}, H_{bq}, B_{bq}$ là giá trị trung bình số loài, giống, họ, bộ của 4 khu vực so sánh. Chỉ số $S_i > 0$ thể hiện tính đa dạng cao hơn mức bình quân khu vực.


Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tài liệu

Chương này tổng kết các đặc điểm sinh học cơ bản của lớp Bò sát: nguồn gốc tiến hóa là nhóm động vật có xương sống đầu tiên sống chính thức ở cạn; các đặc trưng thích nghi gồm da phủ vảy sừng phát sinh từ biểu bì giúp giữ nước, cột sống chia 5 phần, tim 3 ngăn (riêng cá sấu 4 ngăn) với vách hụt tâm thất, cơ thể biến nhiệt, bài tiết qua hậu thận, hô hấp hoàn toàn bằng phổi và thụ tinh trong với trứng có màng ối bảo vệ.

Toàn lãnh thổ Việt Nam đã ghi nhận 302 loài Bò sát thuộc 121 giống, 24 họ, 3 bộ (Squamata, Testudinata, Crocodylia), chiếm khoảng 4,8% tổng số loài toàn cầu. Trong đó, 39 loài nằm trong danh mục bị đe dọa của Sách Đỏ Việt Nam 2007 (01 loài tuyệt chủng ngoài tự nhiên - EW, 9 loài CR, 14 loài EN, 15 loài VU).

Về điều kiện tự nhiên KBTTN Pù Hoạt:

  • Địa hình: Chia cắt mạnh với đỉnh cao nhất 2.452 m (đỉnh Pù Hoạt). Có 3 dạng địa hình chính gồm núi cao trên 1.700 m (chiếm gần 52% diện tích, độ dốc > $30^\circ$), núi trung bình và thấp từ 300–1.700 m (chiếm 40%), và thung lũng bằng thấp (chân núi, bờ suối, tập trung ở xã Tiền Phong).
  • Khí hậu, thủy văn: Nhiệt độ bình quân $23,1^\circ\text{C}$ (tối cao $41,3^\circ\text{C}$, tối thấp $10^\circ\text{C}$), lượng mưa lớn tập trung từ tháng 7 đến tháng 9, độ ẩm 86%. Chịu ảnh hưởng trực tiếp của gió mùa Đông Bắc gây rét buốt và gió Tây Nam khô nóng (gió Lào). Là thượng nguồn hệ thống sông Chu (dài 64 km qua khu bảo tồn) và sông Hiếu (với các chi lưu lớn: Nậm Việc, Nậm Quàng dài 71 km, Nậm Giải dài 43 km).
  • Thảm thực vật: Gồm 6 kiểu rừng chính: (1) Rừng kín thường xanh mưa mùa nhiệt đới núi cao hỗn giao cây lá rộng với cây lá kim (có Pơ mu, Sa mu dầu, kiểu phụ rừng lùn trên đỉnh núi cao); (2) Rừng kín lá rộng thường xanh mưa mùa nhiệt đới núi trung bình; (3) Rừng kín lá rộng thường xanh mưa mùa nhiệt đới núi thấp (kèm kiểu phụ núi đá vôi); (4) Rừng hỗn giao gỗ - tre nứa hình thành sau nương rẫy; (5) Rừng trồng (13,76 ha keo, xoan, quế); (6) Quần lạc cỏ, cây bụi có cây gỗ rải rác trên núi đất.
  • Dân sinh - kinh tế: Khu vực có 9.629 hộ với 44.965 nhân khẩu thuộc 5 dân tộc (Thái chiếm 83,7%, H'Mông 7,3%, Khơ Mú 4,5%, Kinh 4,1%, Thổ 0,4%). Có 19 thôn bản nằm xen kẽ trực tiếp trong phạm vi quản lý của khu bảo tồn (9 bản thuộc vùng lõi đặc dụng, 12 bản thuộc vùng phòng hộ). Tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo chiếm 45,3%, 25,4% ở nhà tạm, 95% lao động làm nông lâm nghiệp, tạo áp lực săn bắt và khai thác sinh cảnh rất lớn.

Chương 2: Mục tiêu và phương pháp nghiên cứu

Trình bày chi tiết khung logic nghiên cứu, hệ thống các biểu mẫu thống kê, quy trình kế thừa tài liệu, phương pháp xử lý mẫu thực địa và phương pháp tính toán định lượng chỉ số $S_i$. Đồng thời, thiết lập hệ thống định nghĩa tiêu chí phân hạng ưu tiên bảo tồn cho khu hệ bò sát dựa trên tính thực, nơi ở, mức độ nguy cấp và quy chế pháp lý.

Chương 3: Kết quả và phân tích kết quả

Chương này công bố danh lục cập nhật gồm 64 loài Bò sát thuộc 45 giống, 15 họ và 2 bộ. Bộ Có vẩy (Squamata) chiếm ưu thế áp đảo với 51 loài (79,69%), 35 giống (77,78%) thuộc 11 họ; Bộ Rùa (Testudines) có 13 loài (20,31%), 10 giống (22,22%) thuộc 4 họ.

Họ Rắn nước (Colubridae) phong phú nhất với 17 loài (26,56%) thuộc 13 giống (28,89%). Ba họ tiếp theo có độ đa dạng cao là Thằn lằn bóng (Scincidae - 10 loài, 5 giống), Rùa đầm (Geoemydidae - 8 loài, 5 giống) và Nhông (Agamidae - 7 loài, 4 giống).

Bậc phân loại Toàn quốc (Nguyễn Văn Sáng và cs., 2005b) KBTTN Pù Hoạt (Khóa luận, 2020) Tỷ lệ so với toàn quốc (%)
Bộ (Ordo) 3 2 66,67%
Họ (Familia) 24 15 62,50%
Giống (Genus) 121 45 37,19%
Loài (Species) 302 64 21,19%

So sánh đa dạng với 3 khu bảo tồn lân cận:

Chỉ số / Khu bảo tồn Diện tích (ha) Số bộ Số họ Số giống Số loài Chỉ số đa dạng phân loại ($S_i$)
KBTTN Pù Hoạt 85.761,43 2 15 45 64 +0,209
KBTTN Xuân Liên 23.815,50 2 12 34 38 -0,712
KBTTN Pù Huống 49.113,00 2 15 51 71 +0,036
VQG Pù Mát 94.715,40 2 15 46 53 (Dữ liệu nền đối chứng)
Giá trị trung bình ($bq$) - 2,00 14,25 44,00 56,50 0,000

Ghi nhận mới năm 2019: Khảo sát thực địa bổ sung 03 loài mới cho khu bảo tồn, trong đó loài Rắn nhiều đai (Cyclophiops multicinctus) là ghi nhận đầu tiên cho tỉnh Nghệ An (thu thập tại khe Na Khích, xã Cắm Muộn). Hai loài bổ sung cho danh lục Pù Hoạt gồm Rắn hổ xiên mắt to (Pseudoxenodon macrops) và Rắn lục cườm (Protobothrops mucrosquamatus), đều ghi nhận tại xã Thông Thụ qua mẫu vật bẫy bắt và quan sát trực tiếp.

Giá trị bảo tồn cao: Khu hệ có 23 loài quý hiếm (chiếm 35,94% tổng số loài):

  • 13 loài trong Danh lục Đỏ IUCN 2020 (3 loài CR: Python molurus, Cuora galbinifrons, Cuora cyclornata; 7 loài EN; 3 loài VU).
  • 15 loài trong Sách Đỏ Việt Nam 2007 (3 loài CR: Python molurus, Ophiophagus hannah, Cuora cyclornata; 8 loài EN; 4 loài VU).
  • 14 loài thuộc Nghị định 06/2019/NĐ-CP (Nhóm IB nghiêm cấm khai thác: Ophiophagus hannah, Platysternum megacephalum; Nhóm IIB hạn chế khai thác: 12 loài).
  • 03 loài thuộc danh mục ưu tiên bảo vệ của Nghị định 160/2013/NĐ-CP: Hổ mang chúa (Ophiophagus hannah), Rùa hộp trán vàng (Cuora galbinifrons) và Rùa hộp ba vạch (Cuora cyclornata).

Đặc trưng sinh thái:

  • Nơi ở: Nhóm sống trên mặt đất (MĐ) chiếm ưu thế tuyệt đối với 47 lượt loài (62,67%), tiếp đến là nhóm khu nước (KN) với 14 lượt loài (18,66%), sống trên cây (TC) có 11 lượt loài (14,67%) và sống trong lòng đất (LĐ) có 3 lượt loài (4,00%).
  • Tính thực: Nhóm ăn động vật (ĐV) chiếm 37 lượt loài (56,92%), nhóm ăn côn trùng (CT) chiếm 23 lượt loài (35,38%), nhóm ăn thực vật (TV) chỉ có 3 lượt loài (4,62% - gồm Manouria impressa, Indotestudo elongata, Cuora mouhotii) và nhóm ăn tạp (T) có 2 lượt loài (3,08% - gồm Cuora galbinifrons, Cyclemys tcheponensis).

Xếp hạng ưu tiên bảo tồn: Khóa luận chia 64 loài thành 4 cấp độ:

  1. Rất ưu tiên (5 loài): Hổ mang chúa, Rùa hộp trán vàng, Rùa hộp ba vạch, Kỳ đà hoa, Trăn đất.
  2. Ưu tiên (9 loài): Ba ba trơn, Rùa đất speng-lơ, Rắn hổ mang trung quốc, Rùa đầu to, Rùa câm, Rùa núi viền, Rắn cạp nong, Ba ba gai, Rắn ráo trâu.
  3. Ưu tiên thấp (12 loài): Rùa cổ sọc, Rùa bốn mắt, Tắc kè, Rắn ráo thường, Rắn sọc dưa, Rồng đất, Rùa đất sê pôn, Rùa núi vàng, Rùa sa nhân, Thằn lằn rắn, Rắn mống, Liu điu kuc-ni.
  4. Ít ưu tiên: 38 loài còn lại không đáp ứng các tiêu chuẩn nguy cấp và đơn thực.

Định hướng giải pháp: Tăng cường tuần tra kết hợp giữa kiểm lâm địa bàn và giám sát đa dạng sinh học; quy hoạch hệ thống ô tiêu chuẩn định vị theo dõi biến động quần thể các loài ưu tiên; thiết lập tuyến diễn giải môi trường rừng hướng tới thành lập Trung tâm Giáo dục môi trường và Du lịch sinh thái; thí điểm mô hình nhân nuôi bò sát thương mại thông thường tại các bản vùng đệm; lồng ghép giáo dục bảo tồn cho học sinh các xã giáp ranh.


Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã hệ thống hóa và giải quyết được sự bất cập về mặt số liệu khu hệ bò sát tại KBTTN Pù Hoạt:

Chỉ số sinh thái / bảo tồn Số lượng ghi nhận Tỷ lệ tương đối (%)
Tổng số loài ghi nhận chính thức 64 loài (45 giống, 15 họ, 2 bộ) 100%
Loài có giá trị bảo tồn cao 23 loài 35,94%
- Sách Đỏ Việt Nam (2007) 15 loài (3 CR, 8 EN, 4 VU) 23,44%
- Danh lục Đỏ IUCN (2020) 13 loài (3 CR, 7 EN, 3 VU) 20,31%
- Nghị định 06/2019/NĐ-CP 14 loài (2 Nhóm IB, 12 Nhóm IIB) 21,88%
- Nghị định 160/2013/NĐ-CP 3 loài 4,69%
Loại hình sinh thái nơi ở (75 lượt loài)
- Sống trên mặt đất (MĐ) 47 lượt loài 62,67%
- Sống ở khu nước (KN) 14 lượt loài 18,66%
- Sống trên cây (TC) 11 lượt loài 14,67%
- Sống trong lòng đất (LĐ) 3 lượt loài 4,00%
Đặc trưng tính thực (65 lượt loài)
- Ăn động vật (ĐV) 37 lượt loài 56,92%
- Ăn côn trùng (CT) 23 lượt loài 35,38%
- Ăn thực vật (TV) 3 lượt loài 4,62%
- Ăn tạp (T) 2 lượt loài 3,08%

Đóng góp mới của tác giả so với các nghiên cứu trước:

  • Chuẩn hóa danh lục 64 loài theo hệ thống phân loại hiện đại, loại trừ các ghi nhận thiếu căn cứ địa lý sinh vật học từ báo cáo cũ.
  • Bổ sung 01 ghi nhận phân bố mới cho tỉnh Nghệ An: Rắn nhiều đai (Cyclophiops multicinctus); bổ sung 02 loài cho KBTTN Pù Hoạt: Rắn hổ xiên mắt to (Pseudoxenodon macrops) và Rắn lục cườm (Protobothrops mucrosquamatus).
  • Ứng dụng thành công công thức định lượng $S_i$ để chứng minh mức độ đa dạng phân loại của Pù Hoạt đứng thứ hai trong khu vực Bắc Trung Bộ ($S_i = +0,209$).
  • Lần đầu tiên xây dựng bảng phân loại sinh thái chi tiết (nơi ở, tính thực) và ma trận phân cấp mức độ ưu tiên bảo tồn 4 bậc cho toàn bộ khu hệ bò sát tại địa bàn.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế được ghi nhận

  • Dữ liệu nghiên cứu phụ thuộc phần lớn vào phương pháp kế thừa từ các báo cáo điều tra giai đoạn trước; tác giả chưa tự chủ hoàn toàn trong việc thu thập mẫu vật thực địa độc lập do hạn chế về nguồn lực tài chính và kỹ năng định loại chuyên sâu.
  • Nỗ lực điều tra giữa các khu bảo tồn so sánh (Xuân Liên, Pù Huống, Pù Mát) không đồng đều về thời gian và cường độ khảo sát, dẫn đến việc so sánh chỉ số đa dạng phân loại ($S_i$) còn mang tính tương đối.

Hướng nghiên cứu tiếp theo

  • Triển khai các nghiên cứu chuyên sâu, dài hạn về sinh thái quần xã: đánh giá cấu trúc quần xã bò sát theo thang độ cao địa hình, dạng vi sinh cảnh và các biến số vi khí hậu để lựa chọn loài chỉ thị môi trường.
  • Thiết lập khung chương trình giám sát chuyên đề cho các loài bò sát mang tính biểu trưng của Pù Hoạt nhằm ghi nhận diễn biến mật độ quần thể trước tác động của con người.
  • Nghiên cứu tập tính lựa chọn nơi ở của loài Rồng đất (Physignathus cocincinus), ứng dụng GIS để mô hình hóa ổ sinh thái không gian phục vụ quy hoạch bảo tồn loài.

Giá trị tham khảo

Tài liệu là nguồn tham chiếu hữu ích cho:

  • Sinh viên, học viên chuyên ngành Quản lý tài nguyên rừng, Lâm học, Sinh học, Quản lý môi trường: Tham khảo phương pháp luận chuẩn hóa danh lục động vật, phương pháp tính toán chỉ số đa dạng phân loại học ($S_i$) và cách thức thiết lập tiêu chí phân hạng bảo tồn.
  • Ban quản lý các khu rừng đặc dụng và Hạt Kiểm lâm vùng Bắc Trung Bộ: Sử dụng danh lục cập nhật và danh mục 23 loài ưu tiên bảo tồn làm căn cứ lập phương án tuần tra bảo vệ rừng, xác định các điểm nóng đa dạng sinh học và xây dựng hồ sơ giám sát loài nguy cấp.
  • Các nhà nghiên cứu bò sát học: Cung cấp tọa độ phân bố mới của loài Cyclophiops multicinctus và tư liệu thực nghiệm về sinh thái thức ăn, nơi ở của bò sát vùng Trường Sơn Bắc.

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận ghi nhận loài bò sát nào lần đầu tiên xuất hiện tại tỉnh Nghệ An?
Loài Rắn nhiều đai (Cyclophiops multicinctus - Roux, 1907) thuộc họ Rắn nước (Colubridae) lần đầu tiên được ghi nhận phân bố tại Nghệ An, thông qua quan sát và mẫu vật bẫy bắt tại khu vực khe Na Khích, xã Cắm Muộn trong đợt điều tra năm 2019.

2. Họ bò sát nào có số lượng loài và giống phong phú nhất tại KBTTN Pù Hoạt?
Họ Rắn nước (Colubridae) đa dạng nhất với 17 loài (chiếm 26,56% tổng số loài của khu hệ) thuộc 13 giống (chiếm 28,89% tổng số giống). Tiếp theo là họ Thằn lằn bóng (Scincidae) với 10 loài thuộc 5 giống.

3. Có bao nhiêu loài bò sát tại khu bảo tồn thuộc danh mục ưu tiên bảo vệ theo Nghị định 160/2013/NĐ-CP?
Có 03 loài gồm: Hổ mang chúa (Ophiophagus hannah), Rùa hộp trán vàng (Cuora galbinifrons) và Rùa hộp ba vạch (Cuora cyclornata). Cả ba loài này đều được xếp ở mức bảo tồn "Rất ưu tiên" trong khóa luận.

4. Vì sao nhóm sinh thái bò sát sống trên mặt đất (MĐ) lại chiếm tỷ lệ cao vượt trội?
Nhóm sống trên mặt đất chiếm 47 lượt loài (62,67%). Nguyên nhân sinh học là do bò sát là động vật biến nhiệt, thân nhiệt phụ thuộc hoàn toàn vào môi trường; nền rừng và mặt đất cung cấp điều kiện phơi nắng, điều hòa nhiệt độ tối ưu cũng như nguồn thức ăn phong phú (côn trùng, thú nhỏ, lưỡng cư).

5. Kết quả chỉ số đa dạng phân loại ($S_i$) của Pù Hoạt đạt bao nhiêu khi đặt cạnh các khu hệ lân cận?
Chỉ số $S_i$ của KBTTN Pù Hoạt đạt $+0,209$, xếp thứ hai về độ đa dạng phân loại trong số 4 khu vực được phân tích (sau KBTTN Pù Huống với $S_i = +0,036$, và vượt trội so với KBTTN Xuân Liên có $S_i = -0,712$).


Kết luận

Khóa luận của tác giả Đàm Quang Hùng đã hoàn thành việc chuẩn hóa danh lục khu hệ Bò sát tại KBTTN Pù Hoạt với 64 loài thuộc 45 giống, 15 họ và 2 bộ; trong đó bổ sung 01 loài cho khu hệ Nghệ An và 02 loài cho khu bảo tồn. Công trình làm rõ cấu trúc khu hệ với 23 loài có giá trị bảo tồn cao, đồng thời định lượng hóa đặc trưng sinh thái với sự ưu thế của nhóm sống trên mặt đất (62,67%) và nhóm ăn động vật (56,92%). Kết quả xếp hạng ưu tiên bảo tồn 4 nhóm cùng hệ thống giải pháp quản lý cung cấp cơ sở khoa học tin cậy cho công tác quản trị tài nguyên đa dạng sinh học tại vùng lõi Khu dự trữ sinh quyển miền Tây Nghệ An.