ĐẶT VẤN ĐỀ Bò sát là một mắt xích quan trọng trong quần xã sinh vật, đặc biệt là ở vùng nhiệt đới. Đa số thằn lằn, rắn tiêu diệt côn trùng, thân mềm, gặm nhấm làm hại nông nghiệp. Ngược lại nhiều loài bò sát là thức ăn cho các nhóm động vật khác như chim, thú và cả các loài bò sát lớn. Nhiều loài Bò sát làm thực phẩm, làm thuốc bồi bổ cơ thể hay chữa bệnh cho con người như: rùa, ba ba, trăn, rắn.
Ngày nay, chạy theo giá trị thương mại người ta đã khai thác quá mức các loài Bò sát làm cho chúng bị suy giảm và nhiều loài có nguy cơ bị tuyệt chủng. Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Hoạt (KBTTN Pù Hoạt) được thành lập nhằm bảo tồn các hệ sinh thái và các loài động, thực vật đặc trưng cho vùng núi Bắc Trung Bộ Việt Nam. Không chỉ có giá trị đa dạng sinh học, Pù Hoạt còn là một trong những khu rừng phòng hộ xung yếu cho lưu vực sông Hiếu (Nghệ An), sông Chu (Thanh Hóa), cũng như là nguồn sinh thủy của các thủy điện: Hủa Na, Sao Va, Bản Mòng, Cửa Đạt. KBTTN Pù Hoạt cũng là một trong ba khu rừng đặc dụng nằm trong khu dự trữ sinh quyển miền Tây Nghệ An, được Tổ chức giáo dục, khoa học và văn hóa Liên hiệp quốc (UNESCO) công nhận ngày 20/09/2007.
Trong báo cáo dự án xây dựng khu bảo tồn thiên nhiên Pù Hoạt (2002) và chương trình nghiên cứu rừng của tổ chức Frontier-Việt Nam (2000) đã thống kê được trong khu vực có 32 loài Bò sát (Ban quản lý khu bảo tồn thiên nhiên Pù Hoạt, 2013). Năm 2008, Hoàng Xuân Quang tiến hành điều tra ngoài rừng và ghi nhận ở khu vực Pù Hoạt có 28 loài Bò sát. Từ năm 2009 đến 2012, Đậu Quang Vinh đã thực hiện luận án tiến sĩ sinh học với đề tài về nghiên cứu khu hệ Lưỡng cư, Bò sát tại KBTTN Pù Hoạt; kết quả đã ghi nhận được 52 loài Bò sát thuộc 7 họ; trong đó tác giả luận án đã bổ sung cho KBTTN Pù Hoạt 14 loài, ghi nhận vùng phân bố mới của 6 loài ở Nghệ An và vùng Bắc Trung Bộ (Đậu Quang Vinh, 2012). Năm 2015; triển khai công văn số 986/TCLN-BTTN ngày 20/07/2015 của tổng cục Lâm nghiệp về việc lập biểu thống kê loài động- thực vật rừng tại các khu rừng đặc dụng; ban quản lý khu bảo tồn đã cập nhật các kết 1 quả điều tra trước đó và thống kê được 61 loài Bò sát thuộc 15 họ (Ban quản lý khu bảo tồn thiên nhiên Pù Hoạt, 2015).
Năm 2019; dưới sự tư vấn của các chuyên gia động vật thuộc Trường Đại học Lâm nghiệp, ban quản lý khu bảo tồn đã triển khai điều tra và thống kê được 64 loài Bò sát thuộc 45 giống, 15 họ và 2 bộ (Ban quản lý khu bảo tồn thiên nhiên Pù Hoạt, 2019). Mặc dù có khá nhiều đợt điều tra, nhưng thông tin về thành phần loài Bò sát ở KBTTN Pù Hoạt còn tản mạn, các đợt điều tra khác nhau lại sử dụng hệ thống phân loại khác nhau để sắp xếp các loài Bò sát ghi nhận được vào danh lục; ngoài ra các đợt điều tra Bò sát tại khu bảo tồn mới dừng lại ở việc thống kê thành phần loài, chưa thống kê và đánh giá chuyên sâu về các yếu tố sinh thái tạo nên đặc điểm khu hệ Bò sát. Để có đánh giá toàn diện hơn về tầm quan trọng của KBTTN Pù Hoạt trong việc bảo vệ sinh cảnh sống cho các loài Bò sát, cũng như suy đoán đặc điểm môi trường sống thông qua thành phần các nhóm bò sát sinh thái khác nhau; em đã lựa chọn đề tài “Nghiên cứu đặc điểm khu hệ Bò sát tại khu bảo tồn thiên nhiên Pù Hoạt – tỉnh Nghệ An” để thực hiện khóa luận tốt nghiệp của mình. 2 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.
Đặc điểm chung của động vật thuộc lớp Bò sát Bò sát là lớp động vật có xương sống đầu tiên thực sự ở cạn. Hình thái và cấu tạo cơ thể Bò sát có những đặc điểm sau (Lê Vũ Khôi, 2009): 1) Cơ thể có hình dạng khác nhau, da được bao phủ bởi vẩy sừng hoặc bởi những tấm xương bì, ít tuyến da. Vẩy sừng phát sinh từ biểu bì, khác vẩy cá phát sinh từ bì; nhờ đó Bò sát không phụ thuộc vào ẩm độ của môi trường. 2) Bộ xương hóa cốt hoàn toàn.
Cột sống gồm 5 phần: cổ, ngực, thắt lưng, chậu và đuôi. Sọ có một lồi cầu chẩm, có quá trình tiến hóa tiêu giảm xương bì của giáp sọ, hình thành hố thái dương dùng làm nơi ẩn cho cơ nhai. Có sườn chính thức. Chi 5 ngón khỏe, thích nghi với chuyển vận nhanh.
Ở một số loài chi thoái hóa, mất hẳn. 3) Hệ thần kinh trung ương phát triển. Não trước, tiểu não lớn, vòm bán cầu não có chất thần kinh làm thành não mới (neopallium). Đã có đủ 12 đôi dây thần kinh não.
4) Giác quan: mắt có hai mí trên, dưới và màng nháy bảo vệ mắt khỏi khô. Tai trong phát triển. Đa số có màng nhĩ và khoang tai giữa; riêng Rắn không có tai giữa. Âm thanh được truyền vào tai trong nhờ xương hàm dưới.
Cơ quan jacopson khá phát triển. 5) Hệ hô hấp: hô hấp hoàn toàn bằng phổi; mang chỉ có ở giai đoạn phôi. Đường hô hấp tách biệt với đường tiêu hóa. Lỗ mũi trong lùi vào sau miệng do hình thành khẩu cái thứ sinh.
6) Hệ tuần hoàn: tim 3 ngăn, ngoại trừ cá sấu 4 ngăn. Đã có vách ngăn tâm thất chưa hoàn toàn. Động mạch cảnh xuất phát từ cung chủ động mạch phải mang máu động mạch đi nuôi phần đầu của cơ thể. Hai cung chủ động mạch trái và phải nhập một ở phía sau cơ thể tạo thành động mạch lưng đem máu đi nuôi phần sau cơ thể.
Bò sát là động vật biến nhiệt. 3 7) Hệ bài tiết là hậu thận. Ống dẫn niệu nối với huyệt. Nước tiểu thải ra cùng với phân.
8) Hệ sinh dục: phân tính. Con đực có cơ quan giao cấu. Thụ tinh trong. Trứng lớn có vỏ dai hay vỏ thấm vôi.
Trong giai đoạn phát triển có sự hình thành các màng phôi, đặc biệt tạo thành các túi niệu (allantois), túi ối (amnios) và túi noãn hoàng. Sơ lƣợc đặc điểm khu hệ Bò sát Việt Nam 1. Về đa dạng thành phần loài Tài nguyên động vật rừng nói chung và các loài Bò sát nói riêng góp phần to lớn vào sự đa dạng sinh học cao ở Việt Nam. Theo Nguyễn Văn Sáng và cộng sự (2005b), ở Việt Nam đã tìm thấy và mô tả được 302 loài Bò sát thuộc 121 giống, 24 họ và 03 bộ; chiếm khoảng 4,8% tổng số loài Bò sát trên toàn thế giới (Bảng 1.
Cấu trúc thành phần loài của khu hệ Bò sát Việt Nam TT Tên bộ-họ Số giống Số loài I Bộ Có vẩy - Squamata 96 272 I.1 Phân bộ Thằn lằn – Lacertilia 34 100 1 Họ tắc kè – Gekkonidae 8 21 2 Họ thạch sùng mí – Eublepharidae 1 2 3 Họ nhông – Agamidae 7 20 4 Họ thằn lằn bóng – Scincidae 13 43 5 Họ thằn lằn giun – Dibamidae 1 6 6 Họ thằn lằn chính thức- Lacertidae 1 3 7 Họ thằn lằn rắn – Anguidae 1 2 8 Họ kỳ đà – Varanidae 1 2 9 Họ Thằn lằn cá sấu – Shinisauridae 1 1 I.2 Phân bộ Rắn – Serpentes 62 172 10 Họ rắn giun – Typhlopidae 2 3 11 Họ rắn hai đầu - Anilidae 1 1 4 TT Tên bộ-họ Số giống Số loài 12 Họ rắn mống - Xenopeltidae 1 2 13 Họ trăn – Boidae 1 3 14 Họ rắn rầm ri- Acrochordidae 2 2 15 Họ rắn nước - Colubridae 37 119 16 Họ rắn hổ – Elapidae 13 26 17 Họ rắn lục- Viperidae 5 16 II Bộ Rùa- Testudinata 24 28 18 Họ rùa da – Dermochelyidae 1 1 19 Họ vích- Cheloniidae 4 4 20 Họ rùa đầu to - Platysternidae 1 1 21 Họ rùa đầm – Emydidae 11 15 22 Họ rùa núi- Testudinidae 2 2 23 Họ ba ba- Trionychidae 5 5 III Bộ cá sấu – Crocodylia 1 2 24 Họ cá sấu – Crocodylidae 1 2 Tổng cộng: 121 302 Thực tế, số loài Bò sát ở Việt Nam còn lớn hơn rất nhiều do còn nhiều loài chưa được mô tả hoặc chưa được công bố. Về tình trạng bảo tồn của các loài Bò sát ở Việt Nam Hiện nay, nhiều loài Bò sát đã bị suy giảm kích thước quần thể nghiêm trọng, một số loài đang đứng trước nguy cơ bị tuyệt chủng. Nguyên nhân chính gây suy thoái đa dạng sinh học Bò sát ở Việt Nam là do hoạt động săn bắt và phá hủy sinh cảnh sống. Theo Sách Đỏ Việt Nam (2007); trong số 302 loài Bò sát đã phát hiện ở Việt Nam có 39 loài đang bị đe dọa ở mức độ khác nhau; mức bị tuyệt chủng ngoài tự nhiên (EW): có 01 loài là Cá sấu hoa cà; Rất nguy cấp (CR): 9 loài; mức Nguy cấp (EN): 14 loài; mức Sẽ nguy cấp (VU): 15 loài.
Về các nhóm sinh thái theo nơi ở của Bò sát Sau khi chiếm lĩnh môi trường trên cạn, Bò sát đã tiến hóa thích nghi được với nhiều môi trường sống khác nhau trên trái đất. Theo nơi ở/nơi sinh sống, các loài Bò sát ở Việt Nam có thể chia thành 04 nhóm sinh thái chính sau (Lê Vũ Khôi, 2009): (1). Nhóm trên mặt đất: hầu hết các loài thằn lằn và rắn; (2). Nhóm dưới mặt đất: các loài thuộc họ Rắn giun; (3).
Nhóm trên cây và bay lượn: các loài thuộc họ Tắc kè và một số loài thuộc họ Nhông; (4). Nhóm dưới nước: các loài cá sấu, một số loài thuộc họ Rắn nước, kỳ đà hoa; hầu hết các loài rùa, trừ họ rùa núi. Về tính thực, thích nghi với thức ăn của Bò sát Tính chất thức ăn của Bò sát rất khác biệt, ngay cả trong phạm vi một nhóm, thậm chí ở những dạng gần nhau. Theo thành phần thức ăn, các loài Bò sát ở Việt Nam có thể chia thành 03 nhóm sinh thái sau (Lê Vũ Khôi, 2009): (1).
Nhóm ăn thực vật: lấy thực vật làm thức ăn; bao gồm một số loài Rùa, Thằn lằn; (2). Nhóm ăn động vật: lấy động vật bao gồm cả côn trùng và giun đất làm thức ăn; bao gồm phần lớn các loài bò sát; và (3). Nhóm ăn tạp: lấy cả thực vật và động vật làm thức ăn; bao gồm một số loài có tính thích nghi với thức ăn theo mùa hoặc thay đổi thức ăn theo tuổi do nhu cầu dinh dưỡng của cơ thể con vật.