Chương 1. Khái quát về văn hóa gia đình và chủ đề gia đình trong văn học Việt Nam hiện đại. Văn hóa gia đình trong tiểu thuyết Phố của nhà văn Chu Lai. Nghệ thuật thể hiện văn hóa gia đình trong tiểu thuyết Phố của Chu Lai.
12 NỘI DUNG Chƣơng 1 KHÁI QUÁT VỀ VĂN HÓA GIA ĐÌNH VÀ CHỦ ĐỀ GIA ĐÌNH TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM GIAI ĐOẠN SAU 1975 1. Vài nét khái quát về gia đình và văn hóa gia đình Việt 1. Gia đình và các hình thức tồn tại của gia đình Gia đình có một vị trí, ý nghĩa đặc biệt không chỉ với mỗi cá nhân mà còn với cả xã hội. Gia đình cũng là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học.
Có rất nhiều quan niệm, định nghĩa khác nhau về gia đình và dưới nhiều góc độ: Luật học, Tâm lí học, Xã hội học, Văn hóa học, Kinh tế học… Theo Từ điển tiếng Việt: “Gia đình là tập hợp người sống chung thành một đơn vị nhỏ nhất trong xã hội, gắn bó với nhau bằng quan hệ hôn nhân và dòng máu, thường gồm có vợ chồng, cha mẹ và con cái” [42, 381]. Từ điển tâm lí học cho rằng: “Gia đình là cộng đồng người cùng chung sống sinh hoạt chung dưới một mái nhà, làm thành đơn vị nhỏ nhất của xã hội (còn được gọi là tế bào của xã hội), gắn bó với nhau bằng quan hệ hôn nhân và dòng máu… Gia đình là một xã hội thu nhỏ bao gồm một hay nhiều thế hệ khác nhau sống và hoạt động bên nhau một cách có tổ chức, nguyên tắc thành văn hay bất thành văn. Sự hòa thuận được đảm bảo bởi sự ấm cúng, cảm giác an toàn và tình yêu thương” [7, 205]. Trong Luật hôn nhân và gia đình (Điều 8.
Giải thích từ ngữ), khái niệm gia đình mang tính pháp lí: “Gia đình là tập hợp những người gắn bó với nhau theo hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc do quan hệ nuôi dưỡng, làm phát sinh các nghĩa vụ và quyền giữa họ với nhau theo quy định của luật này” [76]. Dưới góc nhìn của xã hội học, gia đình mang diện mạo của một thiết chế xã hội. Đáng lưu ý là quan niệm về gia đình từ góc nhìn văn hóa học. Trong bài nghiên cứu về Văn hóa gia đình Việt Nam: Các giá trị truyền thống và hiện đại, tác giả Đào Thị Mai Ngọc đã định nghĩa: “Gia đình là một nhóm xã hội được hình thành trên cơ sở quan hệ hôn nhân và quan hệ huyết thống nảy sinh từ quan hệ hôn nhân đó (cha mẹ, con cái, ông bà, họ hàng nội ngoại…) cùng chung sống, là cái nôi nuôi dưỡng cho cả một đời người; là môi trường văn hóa đầu tiên giáo dục nếp sống 13 và hình thành nhân cách; là nơi hội tụ, chọn lọc và sáng tạo văn hóa của con người và xã hội loài người” [41,120].
Ở góc nhìn này, gia đình là tế bào của xã hội, có vai trò quan trọng nhằm thỏa mãn nhu cầu tình cảm, thực hiện chức năng sinh sản, kinh tế, xã hội hóa, đặc biệt coi trọng chức năng giáo dục, từ đó hình thành văn hóa gia đình. Chủ tịch Hồ chí Minh từng nói: gia đình là tế bào của xã hội, hạt nhân của xã hội là gia đình… nhiều gia đình cộng lại mới thành xã hội, gia đình tốt thì xã hội mới tốt. Từng gia đình khỏe mạnh thì xã hội sẽ khỏe mạnh, bao gồm cả sự khỏe mạnh về văn hóa. Gia đình là một khái niệm có tính lịch sử.
Nó vừa có tính bền vững vừa có sự thay đổi. Gia đình cũng tồn tại với nhiều hình thức khác nhau tương ứng với các thời kì khác nhau. Theo Ăng-ghen, gia đình đã tồn tại và phát triển dưới các hình thức: gia đình huyết tộc, gia đình punalua, gia đình đối ngẫu, gia đình cá thể. Trong đó, gia đình huyết tộc là hình thức tồn tại đầu tiên.
“Lúc này, các tập đoàn hôn nhân đã tách ra theo các thế hệ: tất cả ông bà trong phạm vi gia đình đều là vợ chồng của nhau; con của họ, tức là tất cả bố mẹ, cũng thế; con của đời thứ hai, tức là các cháu, lập thành nhóm vợ chồng chung thứ ba; rồi con của họ, tức là đời thứ tư, lập thành nhóm thứ tư. Vì thế, trong kiểu hôn nhân này, chỉ có tổ tiên và con cháu, cha mẹ và con cái là không có quyền hay nghĩa vụ vợ chồng (như ta vẫn nói) đối với nhau. Còn anh chị em ruột, anh chị em họ ở bậc nào đi nữa thì đều là anh chị em, chính vì thế nên đều là vợ chồng của nhau” [57]. Bước phát triển thứ hai của tổ chức gia đình là gia đình punalua.
Ở giai đoạn này, trong gia đình đã “hủy bỏ quan hệ tính giao giữa anh chị em với nhau…Nó được thực hiện dần dần, bắt đầu với việc hủy bỏ quan hệ tính giao giữa anh chị em cùng mẹ; …và cuối cùng là cấm kết hôn giữa các anh chị em họ đời thứ nhất, thứ hai và thứ ba” [57]. Hình thức tồn tại thứ ba là kiểu gia đình đối ngẫu. Đó là “hình thức kết hôn theo từng cặp nhất định, trong thời gian ngắn hoặc dài, đã tồn tại trong chế độ quần hôn (…). Khi đó, người đàn ông có một vợ chính (nhưng chưa thể nói đó là vợ yêu nhất) trong số rất nhiều vợ của mình; và đối với người vợ chính đó, thì anh ta là người chồng chính trong số nhiều người chồng (…).
Nhưng việc kết hôn từng cặp 14 đó hẳn là đã ngày càng lớn mạnh và vững chắc; khi mà thị tộc ngày càng phát triển, các nhóm “anh em trai” và “chị em gái” không thể lấy nhau ngày càng nhiều (…). Ở giai đoạn này, một người đàn ông sống với một người đàn bà, nhưng việc có nhiều vợ và đôi khi ngoại tình vẫn là quyền của đàn ông (…); nhưng người đàn bà lại phải triệt để chung thủy trong thời gian sống với chồng, và sẽ bị trừng trị tàn khốc nếu ngoại tình. Tuy thế, mối liên hệ hôn nhân có thể dễ dàng bị một trong hai bên cắt đứt; sau khi li dị, con cái chỉ thuộc về mẹ” [57]. Ăng -ghen còn cho rằng, từ gia đình đối ngẫu nảy sinh gia đình cá thể.
“Gia đình ấy dựa trên sự thống trị của đàn ông, với chủ đích rõ ràng là con cái phải có cha đẻ xác thực. Người ta đòi hỏi điều đó, vì những đứa con ấy sau này sẽ nhận được tài sản của cha, với tư cách người thừa kế đương nhiên. Nó khác gia đình đối ngẫu ở chỗ quan hệ vợ chồng đã chặt chẽ hơn rất nhiều, hai bên không thể tùy ý bỏ nhau nữa. Theo lệ thường, chỉ người chồng mới có thể chấm dứt hôn nhân và bỏ vợ.
Vả lại, anh ta vẫn có quyền ngoại tình”… [57]. Như vậy, theo Ăng-ghen, trong thời kì đầu tiên của lịch sử nhân loại đã “tồn tại những hình thức khác nhau của gia đình quần hôn, tiếp đó là gia đình đối ngẫu và cuối cùng là gia đình cá thể với hôn nhân một vợ một chồng. Đó cũng là dấu hiệu buổi đầu của thời đại văn minh và tồn tại cho đến ngày nay. Đúng như Mooc- gan khẳng định: “gia đình là yếu tố năng động, nó không bao giờ đứng yên một chỗ mà chuyển từ hình thức thấp lên một hình thức cao, như xã hội phát triển từ một giai đoạn thấp lên một giai đoạn cao” [57].
Các mô hình gia đình thường gắn với phương thức sản xuất và chế độ xã hội nhất định. Sự vận động, biến đổi của gia đình cũng phụ thuộc vào sự vận động biến đổi của xã hội. Mỗi hình thức sẽ phản ánh sự phát triển của chế độ xã hội tương ứng. Sự phát triển của các hình thái gia đình là do sự tác động của quy luật đào thải tự nhiên và do yếu tố kinh tế, xã hội, tâm lí, tình cảm, đạo đức chi phối…Song, điều kiện kinh tế vẫn là yếu tố quyết định.
Đáng lưu ý là trong gia đình hiện đại cũng hình thành các hình thái gia đình khác nhau: thứ nhất là gia đình hạt nhân với hai thế hệ và ba quan hệ cơ bản: vợ - chồng, cha mẹ - con cái và quan hệ giữa anh chị em ruột. Thứ hai là gia đình mở 15 rộng với nhiều mối quan hệ khác nhau và nhiều thế hệ cùng chung sống. Ở gia đình hạt nhân, mối liên hệ giữa các thành viên gần gũi, chặt chẽ hơn. Mỗi người cũng sẽ có khoảng không gian tự do hơn, tạo điều kiện cho sự phát triển cá nhân tốt hơn.
Song, do có sự ngăn cách không gian giữa các gia đình nên sự tương trợ nhau sẽ bị hạn chế và các giá trị văn hóa truyền thống của gia đình cũng khó bảo lưu. Còn trong gia đình mở rộng, các thành viên dễ dàng giúp đỡ, chia sẻ về cả vật chất lẫn tinh thần. Nhưng cũng dễ nảy sinh mâu thuẫn giữa các thế hệ, gia đình cũng vì thế mà sẽ có những rạn nứt khó tránh khỏi. Có thể nói, gia đình là một vấn đề được nghiên cứu khá nhiều.
Qua các công trình nghiên cứu của nhiều tác giả, ta thấy có nhiều quan niệm khác nhau về gia đình. Gia đình cũng tồn tại với nhiều hình thức tương ứng với từng giai đoạn lịch sử xã hội loài người nhưng theo hướng ngày càng tiến bộ văn minh hơn. Văn hóa gia đình người Việt truyền thống và hiện đại Văn hóa là một khái niệm có nội hàm rộng, với nhiều cách hiểu. Nó có liên quan đến mọi mặt đời sống vật chất và tinh thần của con người.
UNESCO định nghĩa: “Văn hóa là tổng thể sống động các hoạt động và sáng tạo trong qúa khứ và hiện tại. Qua các thế kỉ, hoạt động sáng tạo ấy đã hình thành nên một hệ thống các giá trị, các truyền thống và thị hiếu - những yếu tố xác định đặc tính riêng của mỗi dân tộc” [76]. Từ khái niệm này, chúng ta có thể hiểu rõ hơn, cụ thể và đầy đủ hơn về văn hóa. Văn hóa được thể hiện đầy đủ, phong phú trong mọi mặt của đời sống con người và ở từng cấp độ: văn hóa của mỗi người, văn hóa gia đình, văn hóa làng xã, văn hóa dân tộc.
Trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay thì vấn đề văn hóa dân tộc ngày càng được đề cao và quan tâm. Bởi lẽ còn giữ gìn được văn hóa thì đất nước còn tồn tại, khi văn hóa bị đồng hóa thì nước cũng dễ mất. Vì thế, Đảng và Nhà nước ta luôn chú trọng và đặt mục tiêu “xây dựng một nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc”.