phần mở đầu, kết luận và thƣ mục tài liệu tham khảo, luận văn đƣợc cấu trúc gồm các chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận Chƣơng 2: Dạy Truyện Kiều từ góc độ khai thác ẩn dụ- hoán dụ Chƣơng 3: Thực nghiệm 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1. Biện pháp tu từ Theo các nhà phong cách học, biện pháp tu từ “[…] là những cách phối hợp sử dụng trong hoạt động lời nói các phƣơng tiện ngôn ngữ (không kể là trung hoà hay diễn cảm) để tạo ra hiệu quả tu từ (tức tác dụng gợi hình gời cảm, nhần mạnh làm nổi bật…) do sự tác động qua lại của các yếu tố trong một ngữ cảnh rộng. 3] Cần phải phân biệt biện pháp tu từ và phƣơng tiện tu từ. Theo quan niệm của các nhà phong cách học, phƣơng tiện tu từ “… là những phƣơng tiện ngôn ngữ mà ngoài ý nghĩa cơ bản (ý nghĩa sự vật- logic) ra, chúng còn có ý nghĩa bổ sung, còn có màu sắc tu từ” [20, tr.
Biện pháp tu từ từ vựng Biện pháp tu từ từ vựng còn đƣợc gọi là biện pháp tu từ từ ngữ. Theo các nhà phong cách: “Biện pháp tu từ từ vựng là những cách phối hợp sử dụng các đơn vị từ vựng trong phạm vi của một đơn vị khác thuộc bậc cao hơn (trong phạm vi một câu, một chỉnh thể trên câu) có khả năng đem lại hiệu quả tu từ do mối quan hệ qua lại giữa các đơn vị từ vựng trong ngữ cảnh. 142-143] Khái niệm biện pháp tu từ từ vựng nằm trong một chỉnh thể bao gồm hệ thống các khái niệm biện pháp tu từ thuộc các cấp độ ngôn ngữ và các bình diện ngôn ngữ khác nhƣ: biện pháp tu từ ngữ âm, biện pháp tu từ cú pháp, biện pháp tu từ văn bản, biện pháp tu từ ngữ nghĩa. Do đó cũng cần phải hiểu rõ các khái 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com niệm trên.
Tuy nhiên, việc tách biện pháp tu từ ngữ nghĩa thành một kiểu riêng chỉ là trên phƣơng diện lí thuyết còn ở mọi cấp độ ngôn ngữ (trừ cấp độ ngữ âm) đều tồn tại phƣơng diện ngữ nghĩa. Khái niệm ẩn dụ- hoán dụ 1.Khái niệm ẩn dụ Ẩn dụ là phép sử dụng từ ngữ ở nghĩa chuyển dựa trên cơ sở sự tƣơng đồng, sự giống nhau… giữa các thuộc tính của cái dùng để nói và cái muốn nói đến. Theo Nguyễn Lân “Ẩn dụ là một cách ví, nhƣng không cần đến những tiếng để so sánh nhƣ: tựa, nhƣ, tƣởng, nhƣờng, bằng…” [11, tr. 18] Tác giả Nguyễn Văn Tu cho rằng: “Ẩn dụ là phép gọi tên một sự vật bằng tên của một sự vật khác theo mối quan hệ gián tiếp.
Muốn hiểu đƣợc mối quan hệ đó chúng ta phải so sánh ngầm” [11, tr. Ông Đỗ Hữu Châu viết: “Ẩn dụ là cách gọi tên sự vật hiện tƣợng này bằng tên gọi của một sự vật hiện tƣợng khác, giữa chúng có mối quan hệ tƣơng đồng” [11 tr. Cho A là một hình thức ngữ âm, x và y là những ý nghĩa biểu vật. A vốn là tên gọi của x (tức là x là ý nghĩa biểu vật chính của A).
Phƣơng thức ẩn dụ là phƣơng thức lấy tên gọi A của x để gọi tên y (để biểu thị y), nếu nhƣ x và y giống nhau. (Từ vựng ngữ nghĩa Tiếng Việt) Ông Cù Đình Tú định nghĩa ẩn dụ nhƣ sau: “Ẩn dụ tu từ là cách cá nhân lâm thời lấy tên gọi biểu thị đối tƣợng này dùng để biểu thị đối tƣợng kia dựa trên cơ sở mối quan hệ liên tƣởng về nét tƣơng đồng giữa hai đối tƣợng” [29, tr. Theo Đinh Trọng Lạc: “Ẩn dụ là sự định danh thứ hai mang ý nghĩa hình tƣợng, dựa trên sự tƣơng đồng hay giống nhau (có tính chất hiện thực hoặc tƣởng 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com tƣợng ra) giữa khách thể (hiện tƣợng, hoạt động, tính chất) A đƣợc định danh với khách thể (hoặc hiện tƣợng, hoạt động tính chất) B có tên gọi đƣợc chuyển sang dùng cho A [13, tr. Nguyễn Thái Hoà: “Ẩn dụ tu từ là phƣơng thức chuyển nghĩa bằng lối so sánh ngầm dùng tên gọi đối tƣợng đƣợc so sánh thay cho tên gọi so sánh khi hai đối tƣợng có một nét nghĩa tƣơng đồng nào đó, nhằm phát động trƣờng liên tƣởng rộng lớn trong lòng ngƣời đọc”.
Khái niệm hoán dụ Hoán dụ là phép sử dụng từ ngữ dựa trên cơ sở liên tƣởng kế cận giữa các thuộc tính của cái dùng để nói và cái muốn nói đến. Theo Đinh Trọng Lạc trong cuốn “99 phƣơng tiện và Biện pháp tu từ định nghĩa: “Hoán dụ là định danh thứ hai dựa trên mối liên hệ hiện thực giữa khách thể đƣợc định danh với khách thể có tên gọi đƣợc chuyển sang dùng cho khách thể đƣợc định danh” Nguyễn Thái Hoà trong “Phong cách học Tiếng Việt” định nghĩa nhƣ sau: “Hoán dụ là phƣơng thức chuyển nghĩa bằng cách dùng một đặc điểm hay một nét tiêu biểu nào đó của một đối tƣợng để gọi tên chính đối tƣợng đó”. Đỗ Hữu Châu trong cuốn “Từ vựng ngữ nghĩa Tiếng Việt” viết: “Hoán dụ là phƣơng thức lấy tên gọi A của x để gọi y nếu x và y đi đôi với nhau trong thực tế”. Trên đây là quan niệm của một số nhà ngôn ngữ về ẩn dụ- hoán dụ.
Hầu hết các tác giả đều dựa trên quan hệ tƣơng đồng hay kế cận giữa hai đối tƣợng và sự chuyển nghĩa của từ để đƣa ra khái niệm. Vì vậy, các định nghĩa về ẩn dụ- hoán dụ tuy có khác nhau trong cách diễn đạt song cơ bản là không mâu thuẫn, hay đối lập với nhau mà ngƣợc lại các ý kiến đó còn bổ sung cho nhau hình thành nên một cách hiểu về ẩn dụ và hoán dụ đầy đủ hơn. 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Phân loại ẩn dụ- hoán dụ 1.
Phân loại ẩn dụ Theo Nguyễn Thiện Giáp ẩn dụ có các kiểu sau: - Giống nhau về hình thức: Mũi là bộ phận có đặc điểm nhọn, nhô ra; phần đất nhô ra cũng đƣợc gọi là mũi đất. Bướm, loại côn trùng có cánh bay, cái mắc áo có hình con bƣớm cũng đƣợc gọi là bƣớm … Ẩn dụ này trong tiếng Việt rất phong phú. - Giống nhau về màu sắc: Màu da trời (màu xanh nhƣ da trời), màu cánh sen (màu hồng nhƣ màu của cánh sen), màu cốm (màu xanh nhƣ màu của cốm) … - Giống về chức năng: Bến trong bến xe, bến tàu điện… không giống về hình dạng, không giống về vị trí… với bến sông, bến đò. Nó chỉ giống với bến sông, bến đò ở chức năng đầu mối giao thông.
- Giống về thuộc tính, tính chất: Tình cảm khô khan, lời nói ngọt. - Giống về đặc điểm vẻ ngoài nào đó: Ngƣời đàn ông đẹp đƣợc gọi là Phan Anh, Tống Ngọc. Ngƣời đàn bà đẹp đƣợc gọi là Tây Thi. Những ngƣời phụ nữ hay ghen đƣợc gọi là Hoạn Thư.
- Ẩn dụ từ cụ thể đến trìu tƣợng: Hạt nhãn là cái cụ thể chỉ phần bên trong của quả đƣợc dùng để chỉ trung tâm quan trọng nhất của một vấn đề. Nắm là động tác cụ thể của bàn tay đƣợc chuyển sang dùng nắm tình hình. - Lấy vật chỉ ngƣời: Con rắn độc, con hoạ mi của anh, con chó con của mẹ… 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Chuyển tính chất của sự vật hiện tƣợng này sang chỉ tính chất của sự vật hiện tƣợng khác: Khăn thương nhớ ai Khăn rơi xuống đất Khăn thương nhớ ai Khăn vắt lên vai. Cách phân loại của ông Nguyễn Thiện Giáp khá đa dạng, cụ thể nhƣng chƣa bao quát đƣợc hết các trƣờng hợp ẩn dụ.
Hơn nữa, cách phân loại của ông cũng chƣa thực sự nhất quán. Các loại ẩn dụ: giống nhau về hình thức; giống nhau về màu sắc; giống nhau về chức năng; giống nhau về thuộc tính, tính chất; giống về đặc điểm vẻ ngoài nào đó đƣợc phân loại căn cứ vào nét tƣơng đồng giữa các đối tƣợng. Các loại ẩn dụ còn lại: ẩn dụ từ cụ thể đến trìu tƣợng; lấy vật chỉ ngƣời; chuyển tính chất của sự vật, hiện tƣợng này sang chỉ tính chất của sự vật hiện tƣợng khác thực ra đó là hƣớng chuyển nghĩa của ẩn dụ chứ không đồng nhất với các loại ẩn dụ trên. Trong cuốn “Phong cách học và đặc điểm tu từ tiếng Việt”, ông Cù Đình Tú đƣa ra cách phân chia dựa theo khả năng tƣơng đồng giữa hai sự vật và hiện tƣợng.
Theo ông nét tƣơng đồng này là cơ sở để hình thành nên ẩn dụ tu từ trên lý thuyết, có bao nhiêu khả năng tƣơng đồng thì có bấy nhiêu khả năng ẩn dụ. Có một số khả năng nhƣ sau: + Tƣơng đồng về màu sắc. + Tƣơng đồng về tính chất. + Tƣơng đồng về trạng thái.
+ Tƣơng đồng về hành động. + Tƣơng đồng về cơ cấu. Cách phân loại của ông Cù Đình Tú nhất quán nhƣng chƣa bao quát đƣợc 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com hết các trƣờng hợp ẩn dụ Ông Đinh Trọng Lạc trong “Phong cách học Tiếng Việt” phân loại nhƣ sau: - Nhóm ẩn dụ Nhóm ẩn dụ gồm: ẩn dụ, ẩn dụ bổ sung và ẩn dụ tƣợng trƣng. + Ẩn dụ Căn cứ vào từ loại (danh từ, động từ hay tính từ) và vào chức năng (chức năng định danh, chỉ bộ phận đề hay chức năng làm vị ngữ, chỉ bộ phận thuyết) của từ ẩn dụ, có thể chia ẩn dụ ra ba loại: ẩn dụ định danh; ẩn dụ nhận thức; ẩn dụ hình tƣợng Ẩn dụ định danh là một thủ pháp có tính chất thuần tuý kỹ thuật dùng để cung cấp những tên gọi mới bằng cách dùng vốn từ vựng cũ.
Ví dụ: đầu làng, chân trời, tay ghế, cổ lọ, má phanh… Ẩn dụ nhận thức nảy sinh ra do kết quả của việc làm biến chuyển khả năng kết hợp của những từ chỉ dấu hiệu khi làm thay đổi ý nghĩa của chúng từ cụ thể đến trìu tƣợng. Ví dụ: tâm hồn giá lạnh, dòng sông hiền hoà, tấm gương vằng vặc… Ẩn dụ hình tƣợng là nguồn sản sinh ra đồng nghĩa. Ví dụ: Thềm hoa một bước lệ hoa mấy hàng. (Nguyễn Du) Lệ hoa đƣợc dùng để chỉ giọt nƣớc mắt.
Không chỉ có lệ hoa mà trong Truyện Kiều còn có rất nhiều các ẩn dụ tu từ đƣợc dùng để chỉ nƣớc mắt: giọt mưa, mạch tương, giọt châu, giọt hồng, giọt ngọc… Ẩn dụ hình tƣợng là phƣơng thức bình giá riêng có của cá nhân ngƣời sử dụng. Căn cứ vào những đặc điểm về ngữ nghĩa, ẩn dụ đƣợc chia ra nhƣ sau: 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Ẩn dụ của ngôn ngữ với hình ảnh đã bị phai mờ.