Luận văn: Khai thác và Sử dụng Tài liệu Lưu trữ tại Cao Bằng

Tài liệu nghiên cứu Luận văn thạc sỹ thực hiện chính sách tổ chức khai thác sử dụng tài liệu lưu trữ từ thực tiễn trung, tổng hợp lý thuyết và thực hành, cung cấp kiến thức chuyên

Chuyên ngành

Chính sách công

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn
72
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

Tính cấp thiết của đề tài

1. Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH TỔ CHỨC, KHAI THÁC SỬ DỤNG TÀI LIỆU LƯU TRỮ

1.1. Một số khái niệm

1.1.1. Khái niệm chính sách công, thực hiện chính sách công

1.1.1.1. Khái niệm chính sách công
1.1.1.2. Thực hiện chính sách công

1.1.2. Khái niệm tài liệu lưu trữ; tổ chức, khai thác sử dụng tài liệu lưu trữ

1.1.3. Khái niệm chính sách tổ chức, khai thác sử dụng tài liệu lưu trữ và thực hiện chính sách tổ chức, khai thác sử dụng tài liệu lưu trữ

1.2. Quan điểm của Đảng, chính sách của Nhà nước về tổ chức, khai thác sử dụng tài liệu lưu trữ

2. Thực trạng thực hiện chính sách tổ chức, khai thác sử dụng tài liệu lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ lịch sử tỉnh Cao Bằng

3. Mục tiêu, giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách tổ chức, khai thác sử dụng tài liệu lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ lịch sử tỉnh Cao Bằng

Tài liệu tham khảo

Kết luận

Tóm tắt

I. Vai trò và cách khai thác tài liệu lưu trữ tỉnh Cao Bằng

Tài liệu lưu trữ được xem là di sản văn hóa và tài sản đặc biệt của quốc gia. Tại Cao Bằng, khối tài liệu này chứa đựng thông tin phong phú, phản ánh trung thực mọi mặt đời sống xã hội qua các thời kỳ lịch sử. Việc khai thác tài liệu lưu trữ tỉnh Cao Bằng không chỉ phục vụ nghiên cứu khoa học, lịch sử mà còn cung cấp cơ sở dữ liệu quan trọng cho các hoạt động thực tiễn của cơ quan, tổ chức và người dân. Nguồn tài liệu này có ý nghĩa to lớn trong công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Để phát huy tối đa giá trị, một chính sách lưu trữ rõ ràng và quy trình khai thác hiệu quả là yêu cầu cấp thiết. Các hoạt động này được quản lý và thực hiện chủ yếu bởi Trung tâm Lưu trữ lịch sử tỉnh Cao Bằng, đơn vị giữ vai trò then chốt trong việc bảo quản và cung cấp thông tin từ di sản quý giá này.

1.1. Giá trị đặc biệt của tài liệu lưu trữ trong phát triển

Giá trị tài liệu lưu trữ được khẳng định qua nhiều lĩnh vực. Trong kinh tế, các thông tin thống kê, quy hoạch, dự án là cơ sở để xây dựng kế hoạch phát triển phù hợp. Trong văn hóa – xã hội, chúng phục vụ việc nghiên cứu về lịch sử, văn hóa các dân tộc, góp phần giải quyết các chế độ chính sách cho người có công. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng chỉ rõ: “tài liệu lưu trữ có giá trị đặc biệt về phương diện kiến thiết quốc gia”. Việc tổ chức khai thác hiệu quả giúp biến những thông tin quá khứ thành tư liệu bổ ích, phục vụ các nhiệm vụ hiện hành. Đây là cầu nối giữa quá khứ và hiện tại, biến giá trị tiềm năng trong tài liệu thành của cải vật chất, nâng cao đời sống tinh thần cho nhân dân, đồng thời là mục tiêu cuối cùng của công tác văn thư lưu trữ.

1.2. Giới thiệu Trung tâm Lưu trữ lịch sử tỉnh Cao Bằng

Trung tâm Lưu trữ lịch sử tỉnh Cao Bằng là đơn vị sự nghiệp trực thuộc Sở Nội vụ, có chức năng quản lý tài liệu lưu trữ lịch sử của tỉnh và thực hiện các hoạt động dịch vụ lưu trữ. Đây là nơi lưu giữ những tư liệu gốc, có độ tin cậy cao, phản ánh quá trình hình thành và phát triển của các cơ quan, tổ chức qua các thời kỳ. Hiện nay, trung tâm đang bảo quản 22 phông tài liệu, tương đương 530 mét giá, bao gồm tài liệu hành chính, tài liệu xây dựng cơ bản, tài liệu khoa học từ năm 1949 đến 2008. Với nguồn sử liệu quý giá này, trung tâm đóng vai trò là kho báu tri thức, góp phần quan trọng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc, cũng như sự phát triển của tỉnh Cao Bằng.

II. Thách thức trong thực hiện chính sách lưu trữ tại Cao Bằng

Mặc dù đã có những kết quả tích cực, việc thực hiện chính sách khai thác tài liệu lưu trữ tỉnh Cao Bằng vẫn đối mặt với không ít thách thức. Là một tỉnh miền núi với điều kiện kinh tế còn khó khăn, nguồn lực đầu tư cho công tác lưu trữ còn hạn hẹp. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến việc hiện đại hóa cơ sở vật chất, ứng dụng công nghệ và nâng cao chất lượng dịch vụ. Các vấn đề như kho lưu trữ chưa đạt chuẩn, trang thiết bị lạc hậu, và nguồn nhân lực mỏng là những rào cản lớn. Hơn nữa, nhận thức của một số cơ quan và người dân về tầm quan trọng của giá trị tài liệu lưu trữ chưa thực sự sâu sắc, dẫn đến sự phối hợp chưa đồng bộ và hiệu quả khai thác chưa đạt như kỳ vọng. Việc giải quyết những thách thức này đòi hỏi một chiến lược tổng thể và sự quyết tâm từ các cấp chính quyền.

2.1. Hạn chế về nguồn lực và cơ sở vật chất kỹ thuật

Nguồn kinh phí từ ngân sách nhà nước đầu tư cho công tác văn thư lưu trữ còn hạn hẹp. Đây là nguyên nhân chính khiến đề án xây dựng kho lưu trữ chuyên dụng và đề án số hóa tài liệu lưu trữ chưa được phê duyệt. Nhiều kho lưu trữ tại các cơ quan chưa được trang bị đầy đủ giá, kệ, hệ thống phòng cháy chữa cháy, điều hòa không khí. Phần mềm số hóa tài liệu tại Trung tâm Lưu trữ lịch sử đã cũ, không đáp ứng được các tính năng quản lý hiện đại. Thực trạng này không chỉ gây khó khăn cho việc bảo quản an toàn tài liệu mà còn cản trở việc phục vụ độc giả một cách nhanh chóng và hiệu quả, đặc biệt là việc khai thác từ xa.

2.2. Nhận thức chưa đầy đủ về công tác khai thác tài liệu

Công tác tuyên truyền, phổ biến chính sách lưu trữ tuy đã được triển khai nhưng đôi khi còn mang tính hình thức, chưa đi sâu vào đối tượng là người dân và doanh nghiệp. Hoạt động giới thiệu, triển lãm tài liệu còn hạn chế và chưa thường xuyên. Điều này dẫn đến việc số lượng người dân biết đến giá trị tài liệu lưu trữ và tìm đến khai thác còn ít. Một số lãnh đạo cơ quan, đơn vị chưa nhận thức đầy đủ vai trò của công tác này, dẫn đến thiếu sự đầu tư đúng mức cho việc chỉnh lý và thu nộp tài liệu vào Lưu trữ lịch sử, gây ảnh hưởng đến nguồn tài liệu phục vụ nhu cầu xã hội.

2.3. Khó khăn trong công tác thu thập và chỉnh lý tài liệu

Một trong những thách thức lớn là khối lượng hồ sơ, tài liệu tồn đọng tại các cơ quan, tổ chức thuộc nguồn nộp lưu còn rất lớn nhưng chưa được chỉnh lý hoàn chỉnh. Quá trình này đòi hỏi kinh phí và nhân lực có chuyên môn, nhưng thực tế còn nhiều hạn chế. Việc chậm trễ trong khâu thu thập và chỉnh lý không chỉ gây nguy cơ thất lạc, hư hỏng tài liệu mà còn trực tiếp cản trở việc bổ sung nguồn tài liệu quý vào Trung tâm Lưu trữ lịch sử tỉnh Cao Bằng. Điều này làm giảm khả năng đáp ứng nhu cầu tra cứu, nghiên cứu ngày càng đa dạng của các tổ chức và cá nhân, ảnh hưởng đến hiệu quả chung của công tác khai thác tài liệu lưu trữ tỉnh Cao Bằng.

III. Hướng dẫn quy trình khai thác tài liệu lưu trữ tại Cao Bằng

Để đảm bảo việc khai thác tài liệu lưu trữ tỉnh Cao Bằng diễn ra một cách khoa học, minh bạch và hiệu quả, một quy trình chuẩn đã được xây dựng và áp dụng. Quy trình này tuân thủ các quy định của Luật Lưu trữ 2011 và các văn bản hướng dẫn của Bộ Nội vụ, cụ thể là Thông tư số 10/2014/TT-BNV. Mục tiêu của quy trình là tạo điều kiện thuận lợi nhất cho các cơ quan, tổ chức và cá nhân tiếp cận thông tin, đồng thời đảm bảo an toàn tuyệt đối cho tài liệu gốc. Độc giả có nhu cầu khai thác cần tuân thủ các quy định về thủ tục và nội quy của phòng đọc. Nghiệp vụ lưu trữ trong việc hướng dẫn và phục vụ độc giả được đội ngũ viên chức tại Trung tâm thực hiện chuyên nghiệp, nhằm đáp ứng kịp thời các yêu cầu chính đáng.

3.1. Các bước thực hiện thủ tục khai thác dành cho độc giả

Quy trình khai thác tài liệu bao gồm các bước cơ bản sau. Đầu tiên, độc giả cần xuất trình giấy tờ tùy thân và điền thông tin vào phiếu yêu cầu khai thác, nêu rõ mục đích sử dụng tài liệu. Tiếp theo, cán bộ lưu trữ sẽ hướng dẫn sử dụng các công cụ tra cứu như mục lục hồ sơ hoặc cơ sở dữ liệu trên máy tính để xác định tài liệu cần tìm. Sau khi tìm được hồ sơ, độc giả đăng ký và nhận tài liệu tại phòng đọc. Trong quá trình sử dụng, độc giả phải tuân thủ nghiêm ngặt nội quy phòng đọc, không được mang tài liệu ra ngoài và phải chịu trách nhiệm bảo quản. Cuối cùng, sau khi hoàn thành việc nghiên cứu, độc giả trả lại tài liệu cho cán bộ phụ trách.

3.2. Các hình thức phục vụ khai thác tài liệu phổ biến

Việc phục vụ độc giả tại Trung tâm Lưu trữ lịch sử tỉnh Cao Bằng được thực hiện chủ yếu qua hai hình thức chính. Hình thức thứ nhất là phục vụ sử dụng tài liệu trực tiếp tại phòng đọc, nơi độc giả có thể tiếp cận bản gốc hoặc bản sao của tài liệu dưới sự giám sát của cán bộ. Đây là hình thức phổ biến nhất, đáp ứng nhu cầu nghiên cứu sâu. Hình thức thứ hai là cung cấp bản sao và chứng thực tài liệu lưu trữ theo yêu cầu. Dịch vụ này phục vụ các cá nhân, tổ chức cần tài liệu để giải quyết các thủ tục hành chính, pháp lý hoặc các mục đích chính đáng khác. Phí sử dụng tài liệu được thu theo quy định của Bộ Tài chính, đảm bảo tính công khai và minh bạch.

IV. Giải pháp nâng cao hiệu quả khai thác tài liệu lưu trữ

Để vượt qua các thách thức và tối ưu hóa giá trị tài liệu lưu trữ, việc triển khai các giải pháp đồng bộ là vô cùng cần thiết. Trọng tâm của các giải pháp này là hiện đại hóa công tác lưu trữ, nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ và đẩy mạnh truyền thông. Việc khai thác tài liệu lưu trữ tỉnh Cao Bằng sẽ chỉ thực sự hiệu quả khi có sự đầu tư chiến lược vào công nghệ, con người và cơ chế chính sách. Các giải pháp này không chỉ nhằm giải quyết các vấn đề trước mắt mà còn định hướng phát triển bền vững cho ngành lưu trữ của tỉnh, bắt kịp xu hướng chung của cả nước và thế giới trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đang diễn ra mạnh mẽ. Sự phối hợp chặt chẽ giữa các cấp, các ngành là yếu tố quyết định sự thành công.

4.1. Tăng cường ứng dụng CNTT và đẩy mạnh số hóa tài liệu

Ứng dụng công nghệ thông tin là giải pháp đột phá. Trước hết, cần đầu tư xây dựng phần mềm quản lý lưu trữ mới, hiện đại, tích hợp đầy đủ các tính năng. Quan trọng hơn, tỉnh cần ưu tiên nguồn lực để triển khai đề án số hóa tài liệu lưu trữ, tập trung vào các phông tài liệu có giá trị cao và tần suất sử dụng lớn. Việc xây dựng cơ sở dữ liệu tài liệu điện tử và hệ thống công cụ tra cứu trực tuyến sẽ giúp người dùng dễ dàng truy cập thông tin từ xa. Đây là xu hướng tất yếu để hướng tới xây dựng "Kho lưu trữ số", đáp ứng nhu cầu khai thác thông tin nhanh chóng, thuận tiện của xã hội.

4.2. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực làm công tác lưu trữ

Con người là yếu tố cốt lõi. Cần xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng thường xuyên về nghiệp vụ lưu trữ cho đội ngũ cán bộ, viên chức. Nội dung tập huấn cần cập nhật các kiến thức mới về lưu trữ điện tử, kỹ năng số hóa và quản trị cơ sở dữ liệu. Đồng thời, cần tạo điều kiện cho cán bộ tham quan, học tập kinh nghiệm tại các trung tâm lưu trữ lớn trong cả nước. Việc có một đội ngũ nhân lực chuyên nghiệp, am hiểu công nghệ và có tinh thần trách nhiệm cao sẽ là nền tảng vững chắc để thực hiện thành công các mục tiêu hiện đại hóa công tác khai thác tài liệu lưu trữ tỉnh Cao Bằng.

4.3. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền phổ biến chính sách

Để chính sách lưu trữ đi vào cuộc sống, công tác tuyên truyền phải được đổi mới. Cần đa dạng hóa các hình thức truyền thông, không chỉ giới hạn trong các cơ quan nhà nước mà phải hướng đến quảng bá rộng rãi cho người dân và doanh nghiệp. Có thể phối hợp với Báo Cao Bằng, Đài Phát thanh – Truyền hình tỉnh xây dựng các chuyên mục, phóng sự giới thiệu về giá trị tài liệu lưu trữ. Tổ chức các cuộc triển lãm chuyên đề, giới thiệu tài liệu trên cổng thông tin điện tử là những cách làm hiệu quả để thu hút sự quan tâm của công chúng, từ đó nâng cao nhận thức và thúc đẩy nhu cầu khai thác, phát huy di sản của địa phương.

V. Kết quả thực tiễn và định hướng phát triển trong tương lai

Giai đoạn từ năm 2012 đến nay, công tác khai thác tài liệu lưu trữ tỉnh Cao Bằng đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận. Sự quan tâm chỉ đạo của các cấp ủy Đảng, chính quyền cùng với nỗ lực của đội ngũ cán bộ ngành lưu trữ đã từng bước đưa hoạt động này đi vào nề nếp và phát huy hiệu quả. Số lượng độc giả đến khai thác tài liệu ngày càng tăng, phục vụ đắc lực cho nhiều lĩnh vực từ nghiên cứu khoa học đến giải quyết các vấn đề dân sinh. Đây là tiền đề quan trọng để tỉnh tiếp tục đầu tư, phát triển công tác lưu trữ theo hướng hiện đại, chuyên nghiệp, đáp ứng yêu cầu của chính phủ điện tử và xã hội số, khẳng định vị thế của Phông lưu trữ quốc gia tại địa phương.

5.1. Những thành tựu đạt được từ năm 2012 đến nay

Thực tiễn cho thấy hiệu quả rõ rệt của việc thực hiện chính sách. Giai đoạn 2012 đến nay, Trung tâm Lưu trữ lịch sử tỉnh Cao Bằng đã phục vụ trên 1.322 lượt người với hơn 2.937 hồ sơ, tài liệu. Các tài liệu này đã cung cấp thông tin quan trọng cho việc xây dựng quy hoạch, giải phóng mặt bằng, và đặc biệt là giải quyết chế độ chính sách cho nhiều cá nhân. Công tác bảo quản tài liệu được chú trọng với việc trang bị các thiết bị thiết yếu, đảm bảo an toàn cho hồ sơ. Việc 08 cá nhân được tặng Kỷ niệm chương “Vì sự nghiệp Văn thư - Lưu trữ” là sự ghi nhận xứng đáng cho những đóng góp vào sự phát triển của ngành lưu trữ tỉnh nhà.

5.2. Định hướng xây dựng kho lưu trữ số và hiện đại hóa

Hướng tới tương lai, mục tiêu chiến lược là xây dựng một hệ thống lưu trữ hiện đại. Tỉnh Cao Bằng cần tập trung nguồn lực để xây dựng kho lưu trữ chuyên dụng theo Đề án 1784/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ. Song song đó, việc đẩy mạnh số hóa tài liệu lưu trữ để hình thành "Kho lưu trữ tài liệu điện tử" và tiến tới "Kho lưu trữ số" là nhiệm vụ trọng tâm. Điều này không chỉ giúp bảo quản tài liệu vĩnh viễn mà còn cho phép người dân, doanh nghiệp truy cập, khai thác thông tin mọi lúc, mọi nơi qua môi trường mạng. Đây là bước đi phù hợp với xu thế chung, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước và phục vụ xã hội ngày một tốt hơn.

29/09/2025
Luận văn thạc sỹ thực hiện chính sách tổ chức khai thác sử dụng tài liệu lưu trữ từ thực tiễn trung tâm lưu trữ lịch sử tỉnh cao bằng

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH TỔ CHỨC, KHAI THÁC SỬ DỤNG TÀI LIỆU LƯU TRỮ 1. Một số khái niệm 1. Khái niệm chính sách công, thực hiện chính sách công 1. Khái niệm chính sách công Cùng với sự phát triển của mình, loài người ngày càng làm chủ tự nhiên và xã hội thông qua việc phát hiện và hành động theo những quy luật vận động của thế giới khách quan.

Chính sách công tồn tại tự nó cũng không phải là một ngoại lệ. Nó càng ngày càng được con người nhận thức một cách sâu sắc và các nghiên cứu về nó đã dần trở thành khoa học chính sách công, một bộ môn khoa học độc lập tách ra khỏi chính trị học vào những năm 60 của thế kỷ 20. Các học giả hiện nay khi bàn về khái niệm chính sách công có rất nhiều cách hiểu khác nhau. Các cách hiểu đó có thể được quy định bởi quan điểm chính trị song chủ yếu liên quan đến ý đồ giải quyết những vấn đề cụ thể tiếp theo.

Điều đó đặt ra một vấn đề là đâu là yếu tố bản chất, mang tính phổ biến khi quan niệm về chính sách công. Bởi nếu chúng ta không giải quyết được vấn đề ban đầu đó thì chúng ta sẽ gặp nó một cách không tự giác khi triển khai những vấn đề cụ thể tiếp theo. Trên thế giới có rất nhiều quan niệm khác nhau về chính sách công. Có thể kể đến một số cách hiểu tiêu biểu sau: Chính sách công theo B.Guy Peter định nghĩa: “…chính sách công là toàn bộ các hoạt động của Nhà nước có ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp đến cuộc sống của mọi công dân”; theo Charle L.

Cochran and Eloise F. Malone thì: “Chính sách công bao gồm các quyết định chính trị để thực hiện các chương trình nhằm đạt được những mục tiêu xã hội”. [17] 7 Ởnước ta, cũng có nhiều quan niệm rất khác nhau về chính sách công. Có thể kể đến một số định nghĩa đáng chú ý sau: Từ điển Bách khoa Việt Nam cho rằng: "Chính sách là các chuẩn tắc cụ thể để thực hiện đường lối, nhiệm vụ.

Chính sách được thực hiện trong một thời gian nhất định, trên những lĩnh vực cụ thể nào đó". Theo Đỗ Phú Hải, “chính sách công là một tập hợp các quyết định chính trị có liên quan của Nhà nước nhằm lựa chọn mục tiêu cụ thể và giải pháp, công cụ thực hiện giải quyết các vấn đề của xã hội theo mục tiêu tổng thể đã xác định.TS Nguyễn Hữu Hải quan niệm rằng: “Chính sách công là kết quả ý chí chính trị của nhà nước được thể hiện bằng một tập hợp các quyết định có liên quan với nhau, bao hàm trong đó định hướng mục tiêu và cách thức giải quyết những vấn đề công trong xã hội”.[16] Viện Chính trị học cho rằng: “…chính sách công là chương trình hành động hướng đích của chủ thể nắm hoặc chi phối quyền lực công cộng”, một tập thể các tác giả khác lại cho rằng: “Chính sách công là một tập hợp những quyết định liên quan với nhau do nhà nước ban hành, bao gồm các mục tiêu và giải pháp để giải quyết một vấn đề công nhằm đạt được các mục tiêu phát triển”, có thể hiểu một cách chung nhất: Chính sách công là những quyết định của chủ thể được trao quyền lực công nhằm giải quyết những vấn đề vì lợi ích chung của cộng đồng. [17] Với các cách hiểu trên, mục đích chính sách công là thúc đẩy xã hội phát triển theo định hướng chứ không đơn giản chỉ là dừng lại ở việc giải quyết vấn đề công. Nói cách khác, chính sách công là công cụ để thực hiện mục tiêu chính trị của Nhà nước.

Ở Việt Nam, chính sách công là công cụ để thực hiện các đường lối, chủ trương của Đảng nhằm xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa với mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Trong quá trình xây dựng Chủ nghĩa xã hội, xuất hiện nhiều vấn đề mà Nhà nước cần 8 phải giải quyết bằng chính sách. Một chính sách có thể được thể chế hóa thành các văn bản pháp luật để tạo căn cứ pháp lý cho việc thực thi, song nó còn bao gồm những phương án hành động không mang tính bắt buộc mà có tính định hướng, kích thích phát triển. Tuy nhiên, các chính sách công được ban hành phải đảm bảo phù hợp với định hướng chính trị đã được Đảng xác định.

Thực hiện chính sách công Thực hiện chính sách công là toàn bộ quá trình chuyển hóa ý chí của chủ thể trong chính sách thành hiện thực với các đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu định hướng của các chủ thể chính trị có thẩm quyền. Đây là bước đưa chính sách vào thực hiện trong đời sống xã hội. Bước này bao gồm các hoạt động như: Tuyên truyền, vận động, tổ chức nguồn lực, phân công phối hợp các tổ chức cá nhân thực hiện, kiểm tra, đôn đốc và hiệu đính chính sách cùng với các biện pháp hỗ trợ khác để chính sách phát huy được vai trò trong cuộc sống. Có thể nói bước này có ý nghĩa quyết định đến sự thành bại của một chính sách công.

Trong quá trình thực hiện chính sách công thì các nguồn lực về khoa học công nghệ, vật chất, tài chính và con người được vận hành có tính định hướng để đạt được các mục tiêu đã đề ra. Chủ thể thực hiện chính sách trước hết và quan trọng nhất là các cơ quan hành chính nhà nước, bởi đây chính là các cơ quan có nhiệm vụ tổ chức triển khai và quản lý các công việc hàng ngày của Nhà nước. Các cơ quan lập pháp, tư pháp, các tổ chức đảng, đoàn thể cũng đóng vai trò quan trọng trong vận động và tham gia triển khai chính sách. Khái niệm tài liệu lưu trữ; tổ chức, khai thác sử dụng tài liệu lưu trữ Tại khoản 3, Điều 2, Luật Lưu trữ 2011 định nghĩa: “Tài liệu lưu trữ là tài liệu có giá trị phục vụ hoạt động thực tiễn, nghiên cứu khoa học, lịch sử được lựa chọn để lưu trữ.

Tài liệu lưu trữ bao gồm bản gốc, bản chính; trong trường hợp 9 không còn bản gốc, bản chính thì được thay thế bằng bản sao hợp pháp”. Tổ chức, khai thác sử dụng tài liệu lưu trữ là một nghiệp vụ cơ bản của các cơ quan lưu trữ nhằm cung cấp cho các cơ quan Đảng và Nhà nước, các tổ chức chính trị xã hội, các tổ chức kinh tế, các cá nhân những thông tin cần thiết từ tài liệu lưu trữ, phục vụ các mục đích chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học và các lợi ích chính đáng của công dân. Tổ chức, khai thác sử dụng tài liệu lưu trữ là quá trình tổ chức việc khai thác thông tin chứa đựng trong tài liệu lưu trữ để phục vụ cho yêu cầu nghiên cứu lịch sử, yêu cầu nghiên cứu giải quyết những nhiệm vụ hiện hành của các cơ quan, tổ chức và các cá nhân. Biến những thông tin quá khứ chứa đựng trong tài liệu lưu trữ thành những tư liệu bổ ích phục vụ cho sự nghiệp chính trị, kinh tế, phát triển văn hóa, khoa học, kỹ thuật và nghiên cứu lịch sử.

Biến những giá trị tiềm năng có trong tài liệu lưu trữ thành của cải vật chất trong xã hội, nâng cao mức sống về vật chất cũng như tinh thần cho nhân dân. Đây cũng là hoạt động quan trọng là cầu nối giữa các lưu trữ với xã hội, với nhân dân và tăng cường vai trò của các lưu trữ trong xã hội, góp phần thúc đẩy các công tác lưu trữ phát triển, mang lại lợi ích thiết thực cho xã hội, cho các trung tâm lưu trữ. Khái niệm chính sách tổ chức, khai thác sử dụng tài liệu lưu trữ và thực hiện chính sách tổ chức, khai thác sử dụng tài liệu lưu trữ Từ các định nghĩa nêu trên về chính sách công, thực hiện chính sách công, tài liệu lưu trữ, tổ chức, khai thác sử dụng tài liệu lưu trữ, học viên có thể định nghĩa chính sách tổ chức, khai thác sử dụng tài liệu lưu trữ và thực hiện chính sách tổ chức, khai thác sử dụng tài liệu lưu trữ như sau: Chính sách tổ chức, khai thác sử dụng tài liệu lưu trữ là một hợp phần của chính sách công, chính sách của nhà nước về lưu trữ, là một tập hợp các quyết định chính trị có liên quan của nhà nước nhằm giải quyết vấn đề tổ 10 chức, khai thác sử dụng tài liệu lưu trữ theo mục tiêu tổng thể đã xác định, nhằm đem tài liệu lưu trữ ra phục vụ các nhu cầu sử dụng của các độc giả, người nghiên cứu, người dân và doanh nghiệp. Thực hiện chính sách tổ chức, khai thác sử dụng tài liệu lưu trữ là quá trình vận động, thực hiện ý chí của nhà nước trong chính sách tổ chức, khai thác sử dụng tài liệu lưu trữ thành hiện thực thông qua các cơ chế quản lý, các giải pháp với các đối tượng nhằm đạt mục tiêu đã xác định.

Thực hiện chính sách tổ chức, khai thác sử dụng tài liệu lưu trữ chính là bước đưa chính sách này vào thực hiện trong đời sống xã hội. Bao gồm các hoạt động như tuyên truyền, phổ biến chính sách về khai thác sử dụng tài liệu lưu trữ; vận động, tổ chức các nguồn lực như con người, tài chính, cơ sở vật chất. để thực hiện chính sách; phân công, phối hợp cá nhân tổ chức có liên quan trong thực hiện chính sách tổ chức, khai thác sử dụng tài liệu lưu trữ; kiểm tra, đôn đốc và hiệu chỉnh chính sách tổ chức, khai thác sử dụng tài liệu lưu trữ cùng với các biện pháp hỗ trợ khác để chính sách này phát huy được vai trò trong thực tiễn. Trong quá trình thực hiện chính sách đó, dùng việc triển khai các hình thức tổ chức sử dụng tài liệu lưu trữ đóng vai trò hết sức quan trọng.

Nếu như những hình thức như tổ chức việc khai thác sử dụng tài liệu lưu trữ tại phòng đọc; thông báo giới thiệu tài liệu lưu trữ; cấp chứng thực lưu trữ; triển lãm tài liệu lưu trữ; thông báo về những tài liệu lưu trữ có giá trị mới phát hiện; công bố tài liệu lưu trữ; quản lý hoạt động khai thác và sử dụng tài liệu lưu trữ được làm tốt thì sẽ đưa được những thông tin quá khứ chứa đựng trong tài liệu lưu trữ thành những tư liệu bổ ích để phục vụ cho yêu cầu nghiên cứu lịch sử và yêu cầu nghiên cứu giải quyết những nhiệm vụ hiện hành của các cơ quan, tổ chức và các cá nhân.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ