phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, phần nội dung của Luận văn đƣợc trình bày trong 3 chƣơng: CHƢƠNG 1. SỰ CẦN THIẾT CỦA VIỆC KHAI THÁC, SỬ DỤNG TÀI LIỆU LƢU TRỮ PHỤC VỤ HOẠT ĐỘNG VĂN HOÁ ĐỐI NGOẠI TRONG GIAI ĐOẠN ĐỔI MỚI VÀ HỘI NHẬP QUỐC TẾ Ở chƣơng này, Đề tài làm sáng tỏ các vấn đề về: giá trị của tài liệu lƣu trữ trong việc giới thiệu đất nƣớc, con ngƣời Việt Nam với bạn bè quốc tế; khái quát về 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com loại hình, số lƣợng và nội dung tài liệu lƣu trữ có thể phục vụ hoạt động văn hoá đối ngoại đang bảo quản tại các cơ quan lƣu trữ và các cơ quan, tổ chức khác; thực tiễn triển khai hoạt động văn hoá đối ngoại trong thời gian qua của các cơ quan, tổ chức; sự cần thiết phải khai thác tài liệu lƣu trữ phục vụ cho hoạt động văn hoá đối ngoại. Qua đó, có thể khẳng định rằng, việc khai thác, sử dụng tài liệu lƣu trữ phục vụ hoạt động văn hoá đối ngoại trong giai đoạn đổi mới và hội nhập quốc tế là vấn đề cần thiết phải tiến hành triển khai nhằm hƣớng tới các mục đích lâu dài của tƣơng lai. TÌNH HÌNH KHAI THÁC, SỬ DỤNG TÀI LIỆU LƢU TRỮ PHỤC VỤ HOẠT ĐỘNG VĂN HOÁ ĐỐI NGOẠI TRONG GIAI ĐOẠN ĐỔI MỚI VÀ HỘI NHẬP QUỐC TẾ Trong chƣơng này trình bày về việc nghiên cứu tài liệu và các hình thức khai thác, sử dụng tài liệu lƣu trữ, các yêu cầu, phƣơng pháp khai thác, sử dụng tài liệu lƣu trữ phục vụ hoạt động văn hoá đối ngoại đƣợc phân tích, đánh giá để có thể đề xuất các giải pháp khả thi trong việc tổ chức khai thác, sử dụng tài liệu lƣu trữ phục vụ hoạt động văn hoá đối ngoại trong giai đoạn đổi mới và hội nhập quốc tế.
CÁC GIẢI PHÁP TỔ CHỨC KHAI THÁC, SỬ DỤNG TÀI LIỆU LƢU TRỮ PHỤC VỤ HOẠT ĐỘNG VĂN HOÁ ĐỐI NGOẠI TRONG GIAI ĐOẠN ĐỔI MỚI VÀ HỘI NHẬP QUỐC TẾ Các giải pháp đề xuất đƣợc tập trung phân tích để thực hiện thành công việc khai thác, sử dụng tài liệu lƣu trữ phục vụ hoạt động văn hoá đối ngoại trong giai đoạn đổi mới và hội nhập quốc tế. Nhân dịp này, tôi xin bày tỏ lời cảm ơn trân trọng nhất tới PGS. TS Đào Xuân Chúc - ngƣời thầy hƣớng dẫn và đóng góp những ý kiến quý báu để tôi hoàn thành Đề tài. Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các thầy cô giáo Khoa Lƣu trữ học và Quản trị văn phòng; lãnh đạo và các đồng nghiệp tại Cục Văn thƣ và Lƣu trữ Nhà nƣớc; các cán bộ các trung tâm lƣu trữ quốc gia, Đài Truyền hình Việt Nam, Thông tấn xã Việt Nam, Bộ Văn hoá Thể thao và Du lịch, và các cơ quan, tổ chức nơi tôi 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com đến khai thác tài liệu đã ủng hộ, giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành Đề tài.
Hy vọng rằng, chúng tôi sẽ tiếp tục nhận đƣợc sự quan tâm, giúp đỡ của PGS. TS Đào Xuân Chúc và các thầy cô giáo, đồng nghiệp, bạn bè. Mặc dù có nhiều cố gắng, Đề tài cũng không tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót. Vì vậy, tôi rất mong nhận đƣợc những ý kiến đóng góp quý báu của các thầy cô giáo, đồng nghiệp và tất cả những ai quan tâm để Đề tài của chúng tôi đƣợc hoàn thiện hơn.
Hà Nội, ngày tháng 12 năm 2010 Nguyễn Anh Thƣ 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 SỰ CẦN THIẾT CỦA VIỆC KHAI THÁC, SỬ DỤNG TÀI LIỆU LƢU TRỮ PHỤC VỤ HOẠT ĐỘNG VĂN HOÁ ĐỐI NGOẠI TRONG GIAI ĐOẠN ĐỔI MỚI VÀ HỘI NHẬP QUỐC TẾ 1. Khái niệm về tài liệu lƣu trữ, văn hoá, văn hoá đối ngoại và ngoại giao văn hoá 1. Khái niệm về tài liệu lƣu trữ Hiện nay, trên thế giới chƣa có sự giải thích thống nhất hoàn toàn về khái niệm “tài liệu lƣu trữ”. Nhiều nƣớc chỉ giới hạn tài liệu lƣu trữ là các sản phẩm tài liệu đƣợc hình thành trong hoạt động của các cơ quan hoặc cá nhân nhƣng có những nƣớc xác định tài liệu lƣu trữ bao gồm cả ấn phẩm, tác phẩm hội họa…, có thể kể đến nhƣ: Luật Lƣu trữ Pháp định nghĩa “tài liệu lƣu trữ là toàn bộ tài liệu không phụ thuộc vào bất kỳ thời gian nào, hình thức, vật mang tin và tình trạng vật lý nhƣ thế nào, đƣợc sinh ra hay nhận đƣợc từ bất kỳ cá nhân hay tập thể nào, từ tất cả các cơ quan hay tổ chức công hay tƣ trong quá trình hoạt động”; luật pháp lƣu trữ tại Canađa cho rằng “tài liệu lƣu trữ là toàn bộ các yếu tố thông tin nhƣ công văn, thƣ từ trao đổi, thông báo, sách, sơ đồ, bản đổ, bản vẽ thiết kế, biểu đồ, tranh vẽ, ảnh, phim, vi phim, các bản sao từ tính hoặc máy tính, hoặc tất cả các bản sao chép có chứa yếu tố thông tin” hoặc luật pháp lƣu trữ tại Inđônêsia khẳng định “tài liệu lƣu trữ là tất cả các tài liệu dƣới bất kỳ hình thức nào, kể cả tài liệu riêng lẻ hoặc nhóm tài liệu đƣợc các tổ chức nhà nƣớc hoặc các cơ quan của Chính phủ lập ra và nhận đƣợc trong quá trình hoạt động, cũng nhƣ do các cơ quan tƣ nhân hoặc các cá nhân lập ra hoặc nhận đƣợc trong quá trình thực hiện các hoạt động vì lợi ích quốc gia”[05].
Tại Việt Nam, trong cuốn “Từ điển Lƣu trữ Việt Nam” giải thích “tài liệu lƣu trữ là những tài liệu có giá trị đƣợc lựa chọn từ trong toàn bộ khối tài liệu hình thành trong hoạt động của các cơ quan, đoàn thể, xí nghiệp và cá nhân đƣợc bảo quản cố định trong các lƣu trữ để khai thác phục vụ các mục đích chính trị, kinh tế, văn hoá, khoa học, lịch sử… của toàn xã hội” nhƣng chƣa có định nghĩa cụ thể về “tài liệu lƣu trữ” trong các văn bản mang tính quy phạm. Điều 1 của Pháp lệnh Lƣu 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com trữ quốc gia năm 2001 đƣa ra khái niệm “tài liệu lƣu trữ quốc gia” là "tài liệu có giá trị về chính trị, kinh tế, quốc phòng, an ninh, ngoại giao, văn hoá, giáo dục, khoa học và công nghệ đƣợc hình thành trong các thời kỳ lịch sử của dân tộc Việt Nam, qua hoạt động của các cơ quan nhà nƣớc, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang nhân dân và các nhân vật lịch sử, tiêu biểu phục vụ việc nghiên cứu lịch sử, khoa học và hoạt động thực tiễn. Tài liệu lƣu trữ quốc gia phải là bản chính, bản gốc của tài liệu đƣợc ghi trên giấy, phim, ảnh, bằng hình, đĩa hình, bằng âm thanh, đĩa âm thanh hoặc bằng các vật mang tin khác; trong trƣờng hợp không còn bản chính, bản gốc thì đƣợc thay thế bằng bản sao hợp pháp” [55, 1]. Nhƣ vậy, tài liệu lƣu trữ chứa đựng các thông tin trên các vật mang tin khác nhau, có thể là tài liệu của các cơ quan nhà nƣớc hoặc cũng có thể tài liệu có xuất xứ từ các cá nhân tiêu biểu, không phân biệt cơ quan bảo quản và lƣu giữ, có giá trị đối với quốc gia và dân tộc.
Có thể nhận thấy rằng, tài liệu lƣu trữ có các đặc điểm và tính chất nhƣ sau: Một là, tài liệu lƣu trữ có nội dung phong phú, hình thức đa dạng, có thể đƣợc thể hiện trên các vật mang tin khác nhau nhƣ: giấy, phim, ảnh, bằng hình, đĩa hình, bằng âm thanh, đĩa âm thanh hoặc gỗ, lụa, đá, lá cây… Nhƣ vậy, tài liệu lƣu trữ có thể là văn bản hành chính, một bài hát, một bức tranh, một bức ảnh, một bản vẽ, một tấm bƣu thiếp, một bộ phim, một bản khắc gỗ… phản ánh các vấn đề về chính trị, kinh tế, quốc phòng, an ninh, ngoại giao, văn hoá, giáo dục, khoa học và công nghệ… Hai là, tài liệu lƣu trữ là bản gốc, bản chính của tài liệu và thƣờng có mối liên hệ trực tiếp với sự kiện, hiện tƣợng mà nó phản ánh, do vậy không chỉ nội dung mà cả hình thức của tài liệu lƣu trữ cũng phản ánh thời điểm sản sinh ra tài liệu. Chính vì vậy, tài liệu lƣu trữ có giá trị pháp lý, đảm bảo tính chân thực, không giả mạo. Ba là, tài liệu lƣu trữ là sản phẩm phản ánh trực tiếp hoạt động của các cơ quan, tổ chức và cá nhân một cách khách quan, trung thực, do đó, tự bản thân tài liệu lƣu trữ có tính thuyết phục và tin tƣởng cao. 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Có thể khẳng định rằng, tại Việt Nam cũng nhƣ nhiều nƣớc trên thế giới, tài liệu lƣu trữ đƣợc đánh giá là nguồn thông tin đa dạng, phong phú, chân thực và tin cậy đƣợc khai thác, sử dụng để phục vụ các mục đích khác nhau của xã hội trong đó có công tác văn hoá, công tác đối ngoại và các hoạt động văn hoá đối ngoại.
Khái niệm về văn hoá, văn hoá đối ngoại và ngoại giao văn hoá a) Khái niệm về văn hoá Khái niệm "văn hoá" hiện nay đƣợc định nghĩa rất khác nhau theo từng thời điểm lịch sử, từng lĩnh vực, từng mục đích khác nhau, bởi những học giả khác nhau. Giáo sƣ Vũ Khiêu cho rằng việc khái niệm văn hoá vẫn tiếp tục đƣợc bàn cãi trên thế giới nghĩa là văn hoá đã thành một khái niệm có tính chất quan trọng ngang với kinh tế và chính trị. Văn hóa đã có mặt ở khắp mọi nơi, thâm nhập mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và thực sự văn hóa đã trở thành một nhu cầu cấp thiết gắn liền với cuộc sống mỗi ngƣời, mỗi dân tộc và cả loài ngƣời [04, 53]. Nhằm đƣa ra một định nghĩa mới về văn hóa, tại lễ phát động Thập kỉ phát triển văn hóa ngày 21/1/1998, Tổng Giám đốc UNESCO F.
Mayor nói: Văn hóa phản ánh và thể hiện một cách tổng quát, sống động mọi mặt của cuộc sống con ngƣời đã diễn ra trong quá khứ và cũng đang diễn ra trong hiện tại; qua hàng bao thế kỷ văn hóa đã cấu thành nên một hệ thống các giá trị, truyền thống, thẩm mỹ và lối sống mà dựa trên đó, từng dân tộc tự khẳng định bản sắc riêng của mình [38,11].