Lời mở đầu, ba chương, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo. - Chƣơng I: Những vấn đề lý luận cơ bản về khai thác chung trong Luật biển quốc tế. - Chƣơng II: Các dạng khai thác chung điển hình trên thế giới. - Chƣơng III: Khai thác chung giữa Việt Nam với các nước láng giềng.
Luận văn này được viết trong khi nguồn tài liệu trong nước chưa nhiều, một số phần được viết chủ yếu dựa vào tài liệu nước ngoài và thực tiễn hoạch định vùng khai thác chung giữa Việt Nam với một số nước trong khu vực. Thời gian viết lại có hạn khiến luận văn sẽ không tránh khỏi những sai sót. Rất mong nhận được những ý kiến đóng góp từ thầy, cô giáo và bạn bè để tôi có thể bổ sung và hoàn thiện kiến thức của mình. 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ KHAI THÁC CHUNG TRONG LUẬT BIỂN QUỐC TẾ 1.
KHÁI NIỆM KHAI THÁC CHUNG 1. Định nghĩa khai thác chung Biển chiếm hơn 2/3 diện tích bề mặt trái đất, biển không những đem đến cho con người giá trị vật chất mà nó còn chứa đựng những giá trị tinh thần, biển chứa đựng tiềm năng về thuỷ sản, về giao thông vận tải, du lịch,v. Trong lòng đất dưới đáy biển con người còn tìm thấy các mỏ dầu, khí, khoáng sản đem lại lợi ích kinh tế cao. Con người từ xưa đến nay luôn thể hiện khát vọng chinh phục biển và mở rộng thẩm quyền của mình ra biển, nhất là các quốc gia ven biển.
Tuy nhiên thế giới rộng lớn cũng không thể trao tặng một cách công bằng tài nguyên biển cho tất cả các quốc gia, đã có một số quốc gia ở vào vị trí bất lợi về biển. Như vậy là song song tồn tại hai nhóm quốc gia, một nhóm đấu tranh ủng hộ cho nguyên tắc “Thềm lục địa kéo dài”, “Chủ quyền quốc gia trên biển” đó là các quốc gia ven biển và một nhóm quốc gia ủng hộ cho nguyên tắc “Tự do biển cả”. Thực tiễn đó dẫn đến sự cần thiết phải có những nguyên tắc, quy phạm pháp lý với vai trò như là những công cụ hữu hiệu để điều hoà lợi ích 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com giữa các quốc gia trong quá trình khai thác và sử dụng biển, đại dương. Luật Biển Quốc tế đã ra đời trong bối cảnh đó.
Đây là một nghành luật độc lập trong hệ thống pháp luật quốc tế và được hình thành từ rất sớm Ngay từ thế kỷ XVII đã có những tác phẩm nổi tiếng về luật biển như “Biển tự do” của HuyGo GroTiuyt hay tác phẩm “Biển kín” của nhà luật học người Anh Selden, ông đã đưa ra nguyên tắc về chủ quyền của quốc gia trên biển. Đến thế kỷ XIII một số nguyên tắc về Luật biển ở vùng biển Bắc đã được hình thành, sau đó phổ biến sang khu vực Địa Trung Hải. Những Công ước đầu tiên về Luật biển cũng đã được thông qua tại Hội nghị Luật Biển lần thứ nhất của Liên Hợp Quốc được tổ chức năm 1958 tại Giơnevơ - Thuỵ sỹ, đó là: + Công ước về lãnh hải và vùng tiếp giáp lãnh hải (Có hiệu lực từ ngày 10/9/1964). + Công ước về biển cả (Có hiệu lực từ ngày 30/9/1962).
+ Công ước về thềm lục địa (Có hiệu lực từ ngày 20/9/1962). + Công ước về đánh cá và bảo vệ tài nguyên sinh vật ở biển (Có hiệu lực từ ngày 20/3/1966). Tuy nhiên phải đến Hội nghị Luật biển lần thứ III của Liên Hợp Quốc về Luật biển, sau 5 năm trù bị (1967 - 1972) và 9 năm thương lượng (1973 - 1982) mới thông qua được một Công ước mới về Luật Biển. Văn bản cuối cùng đã được ký vào ngày 10/12/1982 tại MONTEGO - Bay (Gia MaiCa) và có hiệu lực kể từ ngày 16/11/1994.
Sự ra đời Công ước Luật biển 1982 là bước ngoặt đánh dấu sự phát triển của Luật biển Quốc tế, ngoài các khái niệm được đề cập trước đó, Công ước điều chỉnh tất cả các vấn đề thuộc lĩnh vực pháp lý, kinh tế, khoa học kỹ thuật, 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com môi trường. Công ước đã quy định thống nhất quốc gia ven biển có quyền ấn định chiều rộng lãnh hải không vượt quá 12 hải lý tính từ đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải, trong khi hội nghị lần thứ nhất năm 1958 và hội nghị lần thứ hai năm 1960 lại chưa đề cập đến. Đặc biệt một khái niệm hoàn toàn mới so với trước đó là khái niệm “Vùng đặc quyền kinh tế”: Vùng đặc quyền kinh tế là một vùng nằm ở phía ngoài lãnh hải và tiếp liền với lãnh hải đặt dưới chế độ pháp lý riêng quy định trong phần này, theo đó các quyền và quyền tài phán của quốc gia ven biển và các quyền tự do của các quốc gia khác đều do quy định thích hợp của Công ước điều chỉnh.( Điều 35 khoản 2) và “Vùng đặc quyền về kinh tế không mở rộng ra quá 200 hải lý kể từ đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải”. Hai tiêu chuẩn của Công ước Giơnevơ 1958 về thềm lục địa là độ sâu 200m nước và khả năng kỹ thuật khai thác cho phép đã được thay thế bằng hai tiêu chuẩn mới của Công ước 1982 đó là tiêu chuẩn khoảng cách và sự kéo dài tự nhiên.
Thềm lục địa của quốc gia ven biển bao gồm đáy biển và lòng đất dưới đáy biển bên ngoài lãnh hải của quốc gia ven biển, trên toàn bộ phần kéo dài tự nhiên của lãnh thổ đất liền của quốc gia đó cho đến bờ ngoài của rìa lục địa, hoặc đến cách đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải 200 hải lý khi bờ ngoài của rìa thềm lục địa của quốc gia này ở khoảng cách gần hơn. Trong trường hợp bờ ngoài của rìa lục địa của một quốc gia ven biển kéo dài tự nhiên vượt quá khoảng cách 200 hải lý tính từ đường cơ sở, quốc gia ven biển có thể xác định ranh giới ngoài thềm lục địa của mình tới khoảng cách không vượt quá 350 hải lý tính từ đường cơ sở hoặc cách đường đẳng sâu 2.500 m một khoảng cách không vượt quá 100 hải lý. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Việc mở rộng thẩm quyền tài phán của các quốc gia ven biển theo quy định của Công ước Luật Biển 1982 đã dẫn đến ở những vùng biển hẹp, yêu sách của các quốc gia ven biển có bờ biển đối diện hoặc liền kề sẽ chống lấn lên nhau. Trong khi việc hoạch định ranh giới các vùng biển là cả một quá trình thoả thuận lâu dài và tốn kém, các yếu tố lãnh thổ, kinh tế, chính trị, xã hội.
luôn tồn tại trong các cuộc tranh chấp trên biển và đan xen hết sức phức tạp, không thể giải quyết ngay trong một thời gian ngắn. Các nước tranh chấp lại luôn duy trì các yêu sách của mình và có phản ứng quyết liệt với các yêu sách của các nước khác. Điều này càng làm cho tranh chấp trở lên căng thẳng [19] Trong những trường hợp trên, các quốc gia có thể hoặc phải dừng tất cả mọi hoạt động thăm dò, khai thác trong vùng tranh chấp hoặc đơn phương tiến hành hoạt động của mình, tuy nhiên đây là sự lựa chọn hết sức nguy hiểm, gây căng thẳng trong quan hệ giữa các nước. Trong khi một nguyên tắc phổ biến trong luật pháp quốc tế đó là các bên tranh chấp không được đơn phương khai thác các tài nguyên trong vùng chồng lấn.
Vì vậy có một sự lựa chọn tích cực khác đó là các bên tạm thời gạt vấn đề tranh chấp sang một bên và cùng nhau thăm dò khai thác tài nguyên trong vùng chồng lấn. Trên thực tế tranh chấp tài nguyên không chỉ xảy ra nơi đường biên giới chưa xác định mà còn ở cả những khu vực đường biên giới đã được xác định. Đó là những trường hợp có mỏ dầu nằm vắt ngang qua đường biên giới, do đặc tính hoá lỏng tự nhiên của tài nguyên này khiến cho việc khai thác đơn phương của một quốc gia đương nhiên sẽ làm cạn kiệt mỏ dầu khí ở cả bên kia đường biên giới mà lẽ ra quốc gia láng giềng đó được hưởng. Hay trường hợp đối với những tài nguyên sinh vật như các đàn cá di cư thì đường biên giới quốc gia trên biển cũng không còn có ý nghĩa, và như vậy lại một lần nữa 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com các quốc gia tìm đến với nhau, cùng bàn bạc, thoả thuận lựa chọn giải pháp hợp nhất hoá mỏ tài nguyên để khai thác chung.
Như vậy là quá trình phát triển của Luật biển quốc tế gắn liền với sự ra đời của nhiều khái niệm mới như khái niệm lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa. Nhiều tập quán về khai thác và sử dụng biển cũng dần được ghi nhận trong Luật biển. Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có một quy định cụ thể nào về khai thác chung. Trong thực tiễn, các dạng khai thác chung trên thế giới là vô cùng đa dạng và phong phú.
Khai thác chung cũng đã được nghiên cứu bởi nhiều trung tâm nghiên cứu nổi tiếng trên thế giới, như Trung tâm Đông Tây ở Honolulu - Ha Oai hay Viện Luật quốc tế và Luật so sánh của Anh. Nhiều cuộc hội thảo, hội nghị quốc tế về vấn đề này đã được tổ chức liên tiếp. Hội thảo năm 1980 về tiềm năng hydrocacbon và khai thác chung ở Biển Nam Trung Hoa; Hội thảo lần thứ hai năm 1983 ở Hololulu; Hội thảo lần thứ ba năm 1985 ở Băng Cốc - Thái Lan; Hội thảo lần thứ tư năm 1989 ở Bali (Inđônêxia); Hội thảo ở London năm 1990. Tuy nhiên một số học giả vẫn còn hoài nghi về khả năng có cần thiết phải thảo luận về khái niệm khai thác chung? Thật vậy, trong bối cảnh hiện nay vẫn còn nhiều đường biên giới biển chưa được xác định và tranh chấp trong khai thác tài nguyên vẫn thường xuyên xảy ra thì việc đưa ra một khái niệm thống nhất về khai thác chung là hết sức cần thiết.
Cho đến nay vẫn chưa có một sự thống nhất nào trong định nghĩa khai thác chung, điều này đã được Giáo sư - Tiến sỹ luật quốc tế Masahiro Miyoshi (Khoa luật trường Đại học Aichi- Nhật bản) khẳng định trong bản tóm tắt các tham luận tại ba cuộc hội thảo của Trung tâm Đông Tây: "Khái niệm Khai thác chung quốc tế. không được hiểu và sử dụng một cách thống nhất. Theo Ông có 2 dạng khai thác chung: 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.