Bộ câu hỏi vấn đáp Luật học so sánh BỘ CÂU HỎI ÔN TẬP VẤN ĐÁP LUẬT HỌC SO SÁNH BÀI 1 – KHÁI QUÁT VỀ LUẬT HỌC SO SÁNH 1. Luật so sánh có những tên gọi nào? Phân tích ý nghĩa và sự khác biệt giữa các tên gọi này. Luật so sánh có những tên gọi sau đây: “Luật so sánh”, “So sánh luật”, “Luật học so sánh”. Xét về mặt nội hàm, ba thuật ngữ “Luật so sánh”, “So sánh luật”, “Luật học so sánh” không hề đồng nhất, cụ thể: Tên gọi “So sánh luật” với động từ “so sánh” khiến nhiều người cho rằng đây chỉ là một phương pháp nghiên cứu pháp luật như bao phương pháp nghiên cứu khoa học khác.
Tên gọi “Luật so sánh” có thể gây hiểu lầm rằng trên thực tế có tồn tại một ngành luật mang tên “Luật so sánh”. Thuật ngữ “Luật học so sánh” có nội dung tổng hợp rộng lớn hơn rất nhiều so với thuật ngữ “Luật so sánh” và không gây nhầm lẫn rằng có tồn tại một ngành luật mang tên “Luật so sánh”, bởi lẽ “Luật học so sánh” dùng để nói về khoa học luật so sánh, về việc nghiên cứu tổng thể và so sánh các HTPL khác nhau. → Thuật ngữ “Luật học so sánh” chính xác nhất về mặt nội hàm. Ngoài ra, còn có các tên gọi khác như “Đối chiếu luật”, “Luật đối chiếu”, “Luật học đối chiếu”.
Mở rộng: Thuật ngữ “Luật so sánh” được sử dụng rộng rãi hơn cả, bởi vì 02 nguyên nhân chính sau đây: Thứ nhất, thuật ngữ “Luật so sánh” được sử dụng sớm hơn thuật ngữ “Luật học so sánh”, đặc biệt ở các quốc gia có nền khoa học pháp lý phát triển từ lâu đời như Hoa Kỳ, Anh, Pháp, Thụy Điển… Thứ hai, trong quá trình giao thoa của sự phát triển, các quốc gia khác khi tiếp cận ngành khoa học pháp lý này thường tiếp thu học hỏi từ các quốc gia trên nên theo đó mà thuật ngữ “Luật so sánh” được sử dụng phổ biến hơn cả. Lưu ý: Việc sử dụng các tên gọi khác nhau chỉ phục vụ cho mục đích định danh, chứ không làm thay đổi bản chất, nội dung cũng như giá trị của Luật so sánh nên không có tên gọi nào là chính xác nhất. 1 Khoa Luật Quốc tế - Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh Bộ câu hỏi vấn đáp Luật học so sánh 2.
Hãy trình bày về những quan điểm khác nhau về bản chất của luật so sánh. Anh (chị) ủng hộ quan điểm nào về bản chất của luật so sánh? Tại sao? Các quan điểm khác nhau về bản chất của luật so sánh: Quan điểm 1: Luật so sánh chỉ là một phương pháp so sánh pháp luật – phương pháp khoa học. Nhiều học giả cho rằng, Luật so sánh chỉ là phương tiện có vai trò quan trọng trong việc giải thích các QPPL của HTPL khác nhau; đồng thời, xem xét khả năng có thể làm cho HTPL ở xã hội này có thích nghi được ở một xã hội khác hay không. Quan điểm 2: Luật so sánh là một môn học.
Luật so sánh là đối tượng của việc giảng dạy ở các trường đại học Luật, các khoa luật và các trường đào tạo khác. Quan điểm 3: Luật so sánh là một ngành khoa học pháp lý độc lập*. Nhiều học giả cho rằng, Luật so sánh là một ngành khoa học pháp lý độc lập bởi các lập luận sau: Thứ nhất, nhiều ngành khoa học xã hội nhân văn khác đã sử dụng phương pháp so sánh một cách rộng rãi và kết quả là dẫn đến sự ra đời của các khoa học so sánh mới: chính trị so sánh, xã hội học so sánh. Do đó, khi phương pháp so sánh được sử dụng rộng rãi và phổ biến trong khoa học pháp lý thì tất yếu Luật học so sánh ra đời.
Thứ hai, Luật so sánh của có đối tượng nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu đặc thù. Trong đó, đối tượng nghiên cứu của Luật so sánh là các HTPL đương đại. Thứ ba, kết quả của Luật so sánh không chỉ dừng lại ở việc nêu ra những điểm tương đồng và khác biệt của các đối tượng được nghiên cứu mà quan trọng hơn Luật so sánh còn nghiên cứu mối liên hệ giữa các HTPL này, giải thích nguồn gốc của sự tương đồng và khác biệt nhằm mục đích cải tổ HTPL quốc gia cũng như làm hài hòa và đi đến nhất thể hóa pháp luật của các quốc gia – Luật so sánh nghiên cứu 04 vấn đề theo quan điểm của Michael Bogdan. Quan điểm 4: Luật so sánh vừa là ngành khoa học, vừa là phương pháp khoa học.
Quan điểm này mang tính dung hòa và thỏa hiệp giữa quan điểm 1 và quan điểm 3, nhưng quan điểm này không thuyết phục do sự khác biệt không thể trộn lẫn giữa ngành khoa học và phương pháp khoa học. Quan điểm cá nhân: Trong 03 quan điểm trên, tôi ủng hộ Quan điểm 3 - Luật so sánh là một ngành khoa học pháp lý độc lập, bởi ngoài các lập luận chung như trên, còn có các lập luận sau đây: Thứ nhất, mặc dù tên gọi “Luật so sánh” có thể dẫn đến cách hiểu đây là một ngành luật, nhưng bản chất của Luật so sánh vẫn là một ngành khoa học có đối tượng nghiên cứu, luận thuyết khoa học đặc thù. Thứ hai, Luật so sánh bao giờ cũng tiến hành nghiên cứu từ hai HTPL khác nhau trở lên, trong khi phương pháp so sánh thì đã có thể tiến hành được khi có từ hai QPPL, hoặc từ hai vấn đề pháp lý trở lên. Thứ ba, nếu xem Luật so sánh chỉ là một môn học thì không phản ánh được đầy đủ và đúng đắng vai trò của Luật so sánh.
2 Khoa Luật Quốc tế - Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh Bộ câu hỏi vấn đáp Luật học so sánh 3. Có bao nhiêu quan điểm phổ biến về đối tượng nghiên cứu của luật so sánh và cho biết các đặc điểm của đối tượng nghiên cứu của luật so sánh? Các quan điểm về đối tượng nghiên cứu của Luật so sánh: Hiện nay, đối tượng nghiên cứu của Luật so sánh vẫn chưa thống nhất mà còn tồn tại rất nhiều quan điểm khác nhau. Trong đó, có 04 quan điểm phổ biến được biết đến: ⮚ Quan điểm thứ nhất: “Luật so sánh là hoạt động trí tuệ mà pháp luật là đối tượng và so sánh là quá trình hoạt động” theo hai học giả người Đức là Zweigert và Kotz trong tác phẩm “Giới thiệu về luật so sánh”.
Cùng với việc xác định đối tượng so sánh là các HTPL khác nhau, các học giả này khẳng định: “Luật so sánh là so sánh các hệ thống pháp luật khác nhau trên thế giới”. → Với phương pháp khái quát hóa, quan điểm này bao quát được vấn đề, tránh bỏ sót vấn đề, nhưng lại không cụ thể hóa vấn đề. ⮚ Quan điểm thứ hai: Luật so sánh là “nghiên cứu có hệ thống các truyền thống pháp luật và các quy phạm pháp luật đó trên cơ sở so sánh” theo Peter de Cruz, tác giả của “Luật so sánh trong thế giới thay đổi”. → Cũng với phương pháp khái quát hóa, quan điểm này chưa làm rõ được thế nào là so sánh hệ thống.
⮚ Quan điểm thứ ba: Các học giả xã hội chủ nghĩa xác định đối tượng nghiên cứu của Luật so sánh bằng phương pháp liệt kê bao gồm: + Văn hóa pháp lý; + Kỹ thuật pháp lý; + Hệ tư tưởng pháp luật; + Hệ thống pháp luật; + Ngành luật; + Chế định phạm luật; + Quy phạm pháp luật. → Với phương pháp liệt kê, đối tượng nghiên cứu của Luật so sánh được xác định rõ ràng, dễ nắm bắt, nhưng lại giới hạn đối tượng nghiên cứu của Luật so sánh, trong khi về đặc điểm, Luật so sánh có đối tượng nghiên cứu vô cùng rộng. ⮚ Quan điểm thứ tư*: Giáo sư Michael Bogdan sử dụng phương pháp liệt kê nhưng ở tầm khái quát hơn (kết hợp phương pháp khái quát và phương pháp liệt kê), xác định đối tượng của Luật so sánh bao gồm: Nhóm 1: So sánh các HTPL khác nhau nhằm tìm ra điểm tương đồng và khác biệt. Nhóm 2: Sử dụng điểm tương đồng và khác biệt đã được xác định, giải thích nguồn gốc của chúng, đánh giá những giải pháp được sử dụng trong các HTPL khác nhau (dự liệu khả 3 Khoa Luật Quốc tế - Trường Đại học Luật TP.
Hồ Chí Minh Bộ câu hỏi vấn đáp Luật học so sánh năng “cấy ghép” một giải pháp pháp lý từ xã hội này sang xã hội khác), phân nhóm các HTPL thành các dòng họ pháp luật khác hoặc nghiên cứu những vấn đề cốt lõi của các HTPL. Nhóm 3: Xử lý các vấn đề mang tính phương pháp luận nảy sinh có liên quan đến các nhiệm vụ trên, bao gồm những vấn đề mang tính phương pháp luận liên quan đến việc nghiên cứu pháp luật nước ngoài. Nhóm 4: Xây dựng cơ sở phương pháp luận để tiến hành nghiên cứu những quy luật xâm nhập, tiếp thu các giá trị pháp lý, quy tắc pháp luật giữa các HTPL trên thế giới. → Mặc dù chưa làm rõ bản chất và chức năng của Luật so sánh, nhưng phạm vi đối tượng nghiên cứu của Michael Bogdan đã được mở rộng rất nhiều thông qua việc phản ánh đúng đặc trưng đối tượng nghiên cứu của Luật so sánh là vô cùng rộng lớn.
Mở rộng: Trong các quan điểm khác nhau về đối tượng nghiên cứu của Luật so sánh, không thể khẳng định quan điểm nào là chính xác nhất, bởi vì các quan điểm không phủ nhận nhau mà chỉ khác nhau ở 02 khía cạnh: phạm vi đối tượng nghiên cứu (rộng hay hẹp) và cách thức trình bày về đối tượng nghiên cứu (khái quát hay liệt kê). Đặc điểm đối tượng nghiên cứu của Luật so sánh: Một là, đối tượng nghiên cứu của Luật so sánh vô cùng rộng. Luật so sánh bao giờ cũng nghiên cứu so sánh các vấn đề pháp lý của từ hai HTPL khác nhau trở lên, mà quan điểm của các quốc gia thuộc các HTPL khác nhau thì lại không đồng nhất. Không chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu giải pháp pháp lý, so sánh pháp luật, các công trình nghiên cứu của Luật so sánh còn nghiên cứu tổng thể các lĩnh vực khác như: điều kiện kinh tế - xã hội, chính trị, tôn giáo, văn hóa… của HTPL được nghiên cứu.
Hai là, đối tượng nghiên cứu của Luật so sánh có tính biến đổi không ngừng. Đối tượng nghiên cứu của Luật so sánh biến đổi tùy thuộc vào sự thay đổi, phát triển của kinh tế - xã hội. Sự phát triển của kinh tế - xã hội ở mỗi giai đoạn khác nhau sẽ đặt ra những nhu cầu tìm kiếm nghiên cứu các vấn đề khác nhau.