Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KHÁCH THỂ CỦA TỘI PHẠM 1. KHÁI NIỆM, CÁC DẤU HIỆU VÀ PHÂN LOẠI KHÁCH THỂ CỦA TỘI PHẠM 1. Khái niệm khách thể của tội phạm Trong khoa học pháp lý ở nước ta, khách thể của tội phạm thường được đặt lên hàng đầu trong bốn yếu tố CTTP. Từ điển Luật học của Viện Khoa học Pháp lý (Bộ Tư pháp) định nghĩa khách thể của tội phạm và ý nghĩ a của nó trong mô tả về "Yếu tố cấu thành tội phạm" như sau: Những yếu tố pháp lý đặc trưng của những tội phạm cụ thể được quy định trong Luật hình sự.
Tổng hợp các yếu tố ấy là cấu thành tội phạm. Mặc dù mỗi tội phạm có thể khác nhau về tính chất và mức độ thể hiện, nhưng trong tất cả các tội phạm có thể rút ra được bốn yếu tố cấu thành chung nhất mà bất kỳ một tội phạm nào cũng phải có, đó là: khách thể của tội phạm; mặt khách quan của tội phạm; mặt chủ quan của tội phạm; chủ thể của tội phạm. Khách thể của tội phạm là quan hệ xã hội bị tội phạm xâm hại. Nếu quan hệ xã hội không bị xâm hại thì không có hành vi nguy hiểm cho xã hội và tất yếu không có tội phạm.
Do đó, khi đề cập đến tội phạm thì trước tiên cần phải xác định quan hệ xã hội mà luật hình sự bảo vệ bị xâm hại. Tuy nhiên, quan điểm lý luận về các yếu tố CTTP và khách thể của tội phạm như trên thường chỉ xuất hiện ở các nước có nền pháp luật thuộc kiểu pháp luật xã hội chủ nghĩa. Theo tác giả Nelu Dorinel Popa (Tiến sĩ luật, sĩ quan cảnh sát thuộc Bộ Hành chính và Nội vụ Rumani): 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Vào giữa thế kỷ XX, học thuyết xã hội chủ nghĩa và những lý thuyết của chủ nghĩa duy vật được đề cao trong luật hình sự Xô viết đã ảnh hưởng đến khoa học hình sự Rumani. Do xuất phát từ quan điểm duy vật về tội phạm, yếu tố khách thể bị xâm hại đã chiếm một vai trò quyết định.
Do ảnh hưởng đó khoa học hình sự Rumani đã cấu trúc tội phạm theo các yếu tố: một khách thể tương ứng với quan hệ xã hội bị tác động bởi tội phạm, một mặt khách quan đề cập đến sự kiện thực tế, một chủ thể được xác định là cá nhân thực hiện hành vi và một mặt chủ quan đề cập đến việc thực hiện hành vi một cách có lỗi [94, tr. Như vậy, trong lý luận pháp luật xã hội chủ nghĩa, khách thể của tội phạm là một thành tố bắt buộc, có vai trò quyết định trong việc cấu tạo nên tội phạm. Khách thể của tội phạm là một khái niệm trừu tượng vì nó được xác định là những quan hệ xã hội bị tội phạm xâm hại. Ở các nước theo hệ thống Thông luật (Common law), yếu tố trừu tượng đó không được đề cập trong các thành tố của tội phạm (elements of crime).
Theo luật pháp của Hoa Kỳ, "một yếu tố tội phạm là một trong tập hợp các yếu tố phải được chứng minh để kết tội một bị cáo về một tội phạm" [99]. Các yếu tố đó bao gồm: trạng thái tâm thần (Mens rea), xử sự (Actus reus), sự phù hợp (Concurrence), quan hệ nhân quả (Causation). Thuật ngữ Mens rea đề cập đến những vấn đề như mục đích, ý định phạm tội, hình thức lỗi. Actus reus là yếu tố hành vi ứng xử mà theo pháp luật Hoa Kỳ đó phải là hành vi hành động hoặc không hành động trái pháp luật.
Concurrence chỉ đến sự phù hợp giữa trạng thái tâm thần với hành vi xử sự, tức là người có hành vi phạm tội phải có ý định, mong muốn phạm tội ấy. Causation là yêu cầu về quan hệ nhân quả giữa hành vi với thiệt hại xảy ra [99]. Ở Anh, để cấu thành một tội phạm thậm chí chỉ yêu cầu hai yếu tố trạng thái tâm thần và hành vi phạm tội - Mens rea và Actus reus. 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Việc xác định một tội phạm cụ thể theo quy định của Thông luật (Common law) đặt ra yêu cầu về hai yếu tố: trạng thái tâm thần và hành vi phạm tội.
Công tố viên phải chứng minh cả hai yếu tố trên để thẩm phán hoặc bồi thẩm đoàn thừa nhận sự tồn tại của chúng. Nếu điều này không chứng minh được thì theo pháp luật Anh, người bị buộc tội sẽ được tha bổng vì mọi người được coi là vô tội cho đến khi bị chứng minh có tội [90, tr. Như vậy, ở các nước thuộc kiểu pháp luật Anh - Mỹ, yếu tố khách thể của tội phạm không được đề cập trong CTTP. CTTP trong luật hình sự các nước này chỉ nhấn mạnh tới yếu tố hành vi khách quan và yếu tố lỗi trong mặt chủ quan.
Điều này khác biệt với kiểu pháp luật xã hội chủ nghĩa - nơi mà khách thể của tội phạm là một thành tố bắt buộc, có vai trò quyết định trong việc cấu tạo nên tội phạm. Lý luận về các yếu tố CTTP, trong đó có khách thể của tội phạm là những khái niệm của khoa học luật hình sự Việt Nam hiện đại. Chúng mới được đưa tới Việt Nam khoảng những năm 60-70 của thế kỷ trước bởi các nhà khoa học Liên Xô [11, tr. Do tiếp thu nên quan điểm của các nhà khoa học Việt Nam về khách thể của tội phạm về cơ bản là thống nhất về nội dung và bản chất pháp lý.
Kiều Đình Thụ viết: "Khách thể của tội phạm là những quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ bị tội phạm xâm hại bằng cách gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại" [47, tr. Lê Cảm cho rằng: "Khách thể của tội phạm là quan hệ xã hội được pháp luật hình sự bảo vệ tránh khỏi sự xâm hại có tính chất tội phạm nhưng bị tội phạm xâm hại đến và gây nên (hoặc có thể gây nên) thiệt hại đáng kể nhất định" [8, tr. Đơn giản hơn, khi đề cập đến khách thể của tội phạm với tư cách một căn cứ định tội danh, GS. Võ Khánh Vinh cho rằng: "Khách thể là thành phần 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com không thể thiếu trong bất kỳ một tội phạm nào.
Đó là quan hệ xã hội được Luật hình sự bảo vệ tránh khỏi sự xâm hại của hành vi phạm tội" [85, tr.v… Như vậy, cơ bản các quan điểm nói trên đều thống nhất ở các điểm: 1) Khách thể của tội phạm là quan hệ xã hội; 2) Quan hệ xã hội đó được luật hình sự bảo vệ (nhằm tránh khỏi sự xâm hại của tội phạm) và 3) Quan hệ xã hội đó bị tội phạm xâm hại( có thể gây thiệt hại hoặc có thể đe doạ gây thiệt hại ). Tác giả thống nhất với các điểm cơ bản trong quan niệm về khách thể của tội phạm nói trên vì những căn cứ sau: Thứ nhất, khách thể của tội phạm chắc chắn phải là các quan hệ xã hội. Sở dĩ khẳng định như vậy là vì khách thể là "đối tượng chịu chi phối, tác động của đối tượng gây ra hành động" [88, tr. Khách thể của tội phạm phải là đối tượng chịu chi phối, tác động của tội phạm.
Trong khi đó bản chất tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội nên đối tượng mà tội phạm chi phối, tác động, gây nguy hiểm chính là các quan hệ xã hội. Thứ hai, khách thể của tội phạm phải là các quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ. Các quan hệ xã hội là đối tượng bảo vệ của pháp luật nói chung chứ không riêng luật hình sự. Những hành vi xâm hại đến các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ được gọi chung là vi phạm pháp luật: "Vi phạm pháp luật là hành vi trái pháp luật xâm hại tới các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ do các chủ thể có năng lực hành vi thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý gây hậu quả thiệt hại cho xã hội" [80, tr.
145]; Các loại vi phạm pháp luật được phân biệt với nhau chính bởi nhóm quan hệ xã hội mà chúng xâm hại. Bởi vậy một hành vi nhất định phải xâm hại tới các quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ thì mới trở thành vi phạm pháp luật hình sự (tội phạm), nếu hành vi ấy xâm hại các quan hệ xã hội được các ngành luật khác bảo vệ thì nó sẽ là vi phạm pháp luật trong lĩnh vực pháp luật tương ứng. 18 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Thứ ba, khách thể của tội phạm phải là các quan hệ xã hội bị tội phạm xâm hại. Nếu quan hệ xã hội không bị xâm hại thì không có hành vi nguy hiểm cho xã hội và tất yếu không có tội phạm.
Tuy thống nhất với các quan điểm trên về khái niệm khách thể của tội phạm nhưng chúng tôi cho rằng khái niệm này còn cần phải thể hiện vai trò, vị trí của khách thể trong mối quan hệ với CTTP vì nếu không có mối quan hệ này thì việc xác định khách thể của tội phạm là vô nghĩa. Tóm lại, từ các lý do trên , dưới góc độ khoa học tác giả xin đưa ra khái niệm khách thể của tội phạm như sau: Khách thể của tội phạm - yếu tố cấu thành bắt buộc của mọi tội phạm là các quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ khỏi sự xâm hại của tội phạm nhưng bị tội phạm xâm hại đến và gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại. Các dấu hiệu thuộc về khách thể của tội phạm Theo GS. TSKH Lê Văn Cảm, "dấu hiệu của CTTP là đặc điểm chung về mặt lập pháp cụ thể của các thuộc tính điển hình và chủ yếu hơn cả, đặc trưng cho tội phạm đó" [11, tr.
Trong các dấu hiệu của CTTP, có dấu hiệu bắt buộc là đặc trưng cho tất cả các CTTP, có dấu hiệu tùy nghi, có thể có ở CTTP này mà không có ở CTTP khác. Theo đó, yếu tố khách thể trong CTTP có ba dấu hiệu: khách thể - dấu hiệu bắt buộc; đối tượng của tội phạm và người bị hại (nạn nhân) của tội phạm - các dấu hiệu tùy nghi. Dấu hiệu khách thể trong khách thể của tội phạm: Như đã xác định ở trên, khách thể của tội phạm là những quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ khỏi sự xâm hại của tội phạm, bị tội phạm xâm hại. Khách thể của tội phạm có ba loại: khách thể chung, khách thể loại và khách thể trực tiếp.
Nội dung này sẽ được xem xét cụ thể hơn ở phần sau.