phần mở đầu, danh mục, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, báo cáo nghiên cứu khoa học có kết cấu gồm 5 chƣơng với nội dung nhƣ sau: Chƣơng 1: Tổng quan về đề tài nghiên cứu. Chƣơng 2: Cơ sở lý luận và mô hình nghiên cứu. Chƣơng 3: Phƣơng pháp nghiên cứu. Chƣơng 4: Kết quả nghiên cứu.
Chƣơng 5: Kết luận và kiến nghị. 4 KẾT LUẬN CHƢƠNG 1 - Để đáp ứng đƣợc tốt nhu cầu tuyển dụng nhân viên đối với các doanh nghiệp thì năng lực của sinh viên khi còn ở trên ghế nhà trƣờng cần đào tạo những gì. Nhu cầu hiện nay của các doanh nghiệp đang cần là những yếu tố nào. Từ đó nhóm tác giả đã đƣa ra đề tài: “khả năng đáp ứng của sinh viên mới tốt nghiệp khối ngành kinh tế đối với yêu cầu tuyển dụng của doanh nghiệp – Nghiên cứu tại địa bàn tỉnh Đồng Nai”.
Qua chƣơng 1, nhóm tác giả đã nêu lên đƣợc tính cấp thiết của đề, mục tiêu, kết cấu của bài nghiên cứu. Để từ đó làm cơ sở để cho quá trình thực hiện những chƣơng tiếp theo. 5 CHƢƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU Ở mục “Lý do chọn đề tài” đã có giới thiệu sơ lƣợc về tính cấp thiết của việc lựa chọn cũng nhƣ đánh giá khả năng đáp ứng yêu cầu tuyển dụng của các doanh nghiệp đối với sinh viên mới tốt nghiệp ngành kinh tế. Và để có thể hiểu rõ hơn và đi sâu vào nghiên cứu chuẩn xác và phản ánh đƣợc chính xác tình hình thực tại, chƣơng này sẽ trình bày các vấn đề lý thuyết về nhu cầu, yêu cầu tuyển dụng, khả năng đáp ứng và các loại hình doanh nghiệp.
Từ đó, qua mô hình nghiên cứu tham khảo xây dựng ra mô hình nghiên cứu của đề tài.1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ KHẢ NĂNG ĐÁP ỨNG 2.1 Khái niệm về kiến thức Kiến thức là những nhận thức, thông tin, khối lƣợng kiến thức mà trong suốt quá trình ngồi trên ghế nhà trƣờng tổng hợp và rèn luyện đƣợc. Trong kiến thức, có lẽ phần quan trọng nhất khi tuyển dụng đó là kiến thức chuyên môn về vị trí tuyển dụng. Kiến thức chuyên môn đa số đƣợc học tập và rèn luyện khi học tại trƣờng đại học. Và cuối cùng kết quả thể hiện trên bảng điểm và bằng tốt nghiệp khi ra trƣờng.2 Khái niệm về thái độ Tính cách là một thuộc tính tâm lý phức hợp của cá nhân, bao gồm một hệ thống thái độ tƣơng đối ổn định đối với hiện thực và thể hiện trong hệ thống hành vi, cử chỉ, cách nói năng tƣơng ứng.
Nói cách khác, tính cách là thái độ đã đƣợc củng cố trong những phƣơng thức hành vi quen thuộc. Tâm lý học định nghĩa tính cách là sự kết hợp độc đáo các đặc điểm tâm lý ổn định của con ngƣời, những đặc điểm này quy định phƣơng thức hành vi điển hình của ngƣời đó trong những điều kiện và hoàn cảnh sống nhất định, thể hiện thái độ của họ đối với thế giới xung quanh và với bản thân. Khi các nhà tâm lý bàn về tính cách, họ hiểu đây là một khái niệm năng động mô tả sự trƣởng thành và phát triển của hệ thống tâm lý của cá nhân hơn là xem xét những phần riêng biệt của cá nhân đó. Tổng thể đó lớn hơn các phần riêng lẻ cộng lại.
6 Khái niệm về tính cách đƣợc sử dụng rộng rãi đƣợc đƣa ra bởi Gordon Allport khoảng sáu mƣơi năm trƣớc đây: “Tính cách là một tổ chức năng động gắn liền với hệ thống tâm lý của cá nhân mà hệ thống này xác định những sự điều chỉnh thống nhất của cá nhân đối với môi trƣờng của anh ta”. Với mục đích của chúng ta, có thể hiểu tính cách là tổng thể các cách thức trong đó một cá nhân phản ứng và tƣơng tác với môi trƣờng của anh (chị) ta. Trong cuộc sống hằng ngày ta thƣờng dùng các từ “tính tình”, “tính nết”, “tính cách” để chỉ tính cách. Những nét tính cách tốt thƣờng đƣợc gọi là “đặc tính”, “lòng”, “tinh thần”… những nét tính cách xấu thƣờng đƣợc gọi là “thói”, “tật”… Nhƣ vậy, tính cách đƣợc đánh giá về mặt đạo đức.
Tính cách mang tính ổn định, bền vững, thống nhất và tính độc đáo, riêng biệt, điển hình cho mỗi cá nhân. Tính cách của cá nhân chịu sự chế ƣớc của xã hội. Tính cách của con ngƣời không phải là bẩm sinh, không tự nhiên có mà tính cách đƣợc hình thành trong sự phát triển của cá nhân, dƣới tác động của giáo dục và sự tích cực rèn luyện của cá nhân. Chủ Tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Hiền, dữ phải đâu là tính sẵn, phần nhiều do giáo dục mà nên”.3 Khái niệm về kỹ năng Kỹ năng là khả năng ứng xử, nhạy bén với công việc và giải quyết khó khăn một cách nhanh nhất có thể, hạn chế tối đa những rủi ro công việc mà những điều này ở giảng đƣờng Đại học không thể truyền đạt cho sinh viên.
Không những thế, kỹ năng còn là nghệ thuật ứng xử của sinh viên với các đồng nghiệp, cộng sự, với cấp trên và với tất cả mọi ngƣời.4 Khái niệm về đáp ứng Đáp ứng công việc đƣợc hiểu là đáp lại những đòi hỏi, yêu cầu của công việc. Ngƣời có khả năng đáp ứng công việc là những ngƣời có đủ kiến thức, kỹ năng và thái độ đề hoàn thành những yêu cầu, đòi hỏi những công việc. Theo Parasuraman, “Đáp ứng là thể hiện qua sự mong muốn và sẵn sàng của nhân viên phục vụ cung cấp dịch vụ kịp thời cho khách hàng”.5 Khái niệm về tin cậy Tin cậy là thể hiện qua khả năng thực hiện dịch vụ phù hợp và đúng thời hạn 7 ngay lần đầu tiên.2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ YÊU CẦU TUYỂN DỤNG 2.1 Khái niệm nhu cầu Theo Maslow, nhu cầu là sự biểu hiện mối quan hệ tích cực của cá nhân đối với hoàn cảnh, là đòi hỏi tất yếu mà con ngƣời thấy cần đƣợc thỏa mãn để tồn tại và phát triển. Về căn bản, nhu cầu của con ngƣời đƣợc chia làm hai nhóm chính: nhu cầu cơ bản và nhu cầu bậc cao.
Nhu cầu cơ bản liên quan đến các yếu tố thể lý của con ngƣời nhƣ mong muốn có đủ thức ăn, nƣớc uống, đƣợc ngủ nghỉ. Những nhu cầu cơ bản này đều là các nhu cầu không thể thiếu hụt vì nếu con ngƣời không đƣợc đáp ứng đủ những nhu cầu này, họ sẽ không tồn tại đƣợc nên họ sẽ đấu tranh để có đƣợc và tồn tại trong cuộc sống hàng ngày.1: Nhu cầu của Maslow Cấu trúc của Tháp nhu cầu đƣợc thể hiện qua 5 tầng trong đó những nhu cầu con ngƣời đƣợc liệt kê theo một trật tự thứ bậc hình tháp kiểu kim tự tháp. Những nhu cầu cơ bản ở phía đáy tháp phải đƣợc thoả mãn trƣớc khi nghĩ đến các nhu cầu cao hơn. Các nhu cầu bậc cao sẽ nảy sinh và mong muốn đƣợc thoả mãn ngày càng mãnh liệt khi tất cả các nhu cầu cơ bản ở dƣới (phía đáy tháp) đã đƣợc đáp ứng đầy đủ 5 tầng trong Tháp nhu cầu của Maslow: Tầng thứ nhất: Các nhu cầu về căn bản nhất thuộc "thể lý" (physiological) - thức ăn, nƣớc uống, nơi trú ngụ, tình dục, bài tiết, thở, nghỉ ngơi.
8 Tầng thứ hai: Nhu cầu an toàn (safety) - cần có cảm giác yên tâm về an toàn thân thể, việc làm, gia đình, sức khỏe, tài sản đƣợc đảm bảo. Tầng thứ ba: Nhu cầu đƣợc giao lƣu tình cảm và đƣợc trực thuộc (love/belonging) - muốn đƣợc trong một nhóm cộng đồng nào đó, muốn có gia đình yên ấm, bạn bè thân hữu tin cậy. Tầng thứ tƣ: Nhu cầu đƣợc quý trọng, kính mến (esteem) - cần có cảm giác đƣợc tôn trọng, kinh mến, đƣợc tin tƣởng. Tầng thứ năm: Nhu cầu về tự thể hiện bản thân (self-actualization) - muốn sáng tạo, đƣợc thể hiện khả năng, thể hiện bản thân, trình diễn mình, có đƣợc và đƣợc công nhận là thành đạt.
[16] - Theo Abraham Maslow (1906 - 1905) đã nghiên cứu và cho rằng hành vi của con ngƣời bắt nguồn từ nhu cầu của họ. Các nhu cầu này đƣợc sắp xếp theo một thứ tự ƣu tiên từ thấp tới cao căn cứ vào tầm quan trọng và chia thành 5 bậc nhƣ sau: + Những nhu cầu về sinh vật học: là những nhu cầu cần thiết và tối thiểu nhất đảm bảo cho con ngƣời tồn tại nhƣ ăn, uống, mặc, tồn tại và phát triển nòi giống và các nhu cầu của cơ thể khác. + Những nhu cầu về an ninh và an toàn: là những nhu cầu về an toàn, không bị đe doạ về tài sản, công việc, sức khoẻ, tính mạng và gia đình. + Những nhu cầu về xã hội: là những nhu cầu về tình yêu, đƣợc chấp nhận, bạn bè, mong muốn đƣợc tham gia vào một tổ chức hay một đoàn thể nào đó.
+ Những nhu cầu về đánh giá và tôn trọng: là những nhu cầu về, tôn trọng ngƣời khác, đƣợc ngƣời khác tôn trọng, tự đánh giá và đƣợc tổ chức đánh giá. + Những nhu cầu về tự thể hiện: là những nhu cầu về chân, thiện, mỹ, tự chủ, sáng tạo, hài hƣớc, mong muốn phát triển toàn diện cả về thể lực và trí tuệ. Maslow đã chia các nhu cầu thành 2 cấp: cấp cao và cấp thấp: - Cấp thấp gồm các nhu cầu sinh vật học và an ninh, an toàn. - Cấp cao gồm các nhu cầu xã hội, tự trọng và tự thể hiện.
Sự khác biệt giữa hai loại này là chúng thoả mãn từ bên trong và bên ngoài của con ngƣời. 9 - Maslow cho rằng khi con ngƣời đƣợc thoả mãn bậc dƣới đến một mức độ nhất định thì tự nó nảy sinh các nhu cầu bậc cao hơn. - Thuyết cấp bậc nhu cầu của A. Maslow đƣợc đánh giá rất cao vì nó có một ẩn ý quan trọng đối với các nhà quản lý là muốn động viên nhân viên thì cần phải biết ngƣời lao động của mình đang ở cấp độ nhu cầu nào, để từ đó có các giải pháp phù hợp cho việc thoả mãn nhu cầu ngƣời lao động đồng thời bảo đảm đạt đến các mục tiêu của tổ chức.
[17] Theo Jeremy Bentham, Benfind, Willam Stanley Jevons, John Ramsay Meculloch, Edward S.Herman, đó là hiện tƣợng phức tạp, đa diện, đặc trƣng cho mọi sinh vật. Sự hiện diện của nhu cầu ở bất kì sinh vậy nào, ngay cả ở bất kỳ xã hội nào đƣợc xem nhƣ cơ thể sống phức tạp, là đặc điểm để phân biệt chủ thể đó với môi trƣờng xung quanh.