CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN, THỰC TIỄN VỀ KHỦNG HOẢNG KINH TẾ VÀ HỌC THUYẾT KINH TẾ CỦA J. Cơ sở lý luận về khủng hoảng kinh tế 1. Khái niệm về khủng hoảng kinh tế và khái niệm liên quan Trước khi Keynes đề xuất lý thuyết kinh tế của mình, trường phái kinh tế chính trong thời kỳ này là kinh tế học cổ điển. Lý thuyết kinh tế học cổ điển lựa chọn chính sách tự do, nghĩa là thị trường sẽ tự điều chính theo quy luật cung cầu.
Các nhà kinh tế học cổ điển khảng đình rằng tổng cung, không phải tổng cầu là trọng tâm chủ yếu của nền kinh tế thị trường có nghĩa là chỉ cần các cá nhân và doanh nghiệp sản xuất hàng hóa để bán hàng thì hàng hóa đó sẽ được mua. Kinh tế học cổ điển cũng cho rằng thị trường tự do sẽ tự động đảm bảo rằng thị trường sẽ không có thất nghiệp. Họ giải thích khủng hoảng chính là một phần của cơ chế tự điều chỉnh của thị trường và khi nền kinh tế rơi vào khủng hoảng thì hoàn toàn có thể tự điều chỉnh để quay về điểm cân bằng. Nhưng các cuộc khủng hoảng diễn ra liên tục và thường xuyên đã kéo nền kinh tế đi xuống, đỉnh điểm đó chính là cuộc khủng hoảng kinh tế năm 1929 – 1933, lý thuyết kinh tế cổ điển đã không thể giải quyết được các vấn đề liên quan đến khủng hoảng, tỷ lệ thất nghiệp không tự nguyện tăng một cách đột biến.
Từ đó mà định nghĩa về khủng hoảng sau thời kỳ này đã có những sự chuyển biến. - Khủng hoảng kinh tế được hiểu rằng là sự suy giảm các hoạt động kinh tế kéo dài và trầm trong hơn cả suy thoái trong chu kỳ kinh tế. Khủng hoảng kinh tế có thể diễn ra trên phạm vi một quốc gia, có thể nổ ra trong phạm vi của khu vực nhưng cũng có thể nổ ra trên toàn thế giới. - Khái niệm khủng hoảng tài chính: Khủng hoàng tài chính được định nghĩa là một tình huống trong đó các tài sản chính bị mất một phần đáng kể giá trị của chúng hoặc có một sự sụt giảm mạnh về giá trị của tài sản, hay nói cách khác thì khủng hoảng tài chính là do các tập đoàn tài chính mất khả năng thanh khoản.
Kết 16 quả là khiến cho nền kinh tế đi từ trạng thái cân bằng với sản lượng cao, trong đó thị trường tài chính hoạt động có hiệu quả thành một nền kinh tế có sản lượng giảm mạnh. Tuy nhiên trong đề tài mà tác giả thực hiện đang sử dụng học thuyết kinh tế của J. Keynes để giải quyết các vấn đề liên quan đến khủng hoảng kinh tế, thế nên thiết nghĩ cần phải đặt mình vào tầm nhìn, có cùng thế giới quan với Keynes. Để có thể giải quyết khủng hoảng kinh tế thì ta phải nhìn các cuộc khủng hoảng dưới lăng kính quan sát của Keynes, và định nghĩa chúng theo học thuyết của Keynes.
Cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính lớn vào năm 1929 đã tạo ra một niềm tin trong Keynes rằng khủng hoảng kinh tế là do tỷ lệ tiết kiệm cao hơn tỷ lệ đầu tư thì nó sẽ gây ra suy thoái và cuối cùng đó chính là khủng hoảng. Keynes cho rằng chi tiêu giảm liên tục trong nền kinh tế dẫn đến tổng cầu bị giảm, từ đó dẫn đến tỷ lệ thất nghiệp cao hơn, dẫn đến chi tiêu thậm chí còn giảm nhiều hơn do số lượng người thất nghiệp trong nền kinh tế tăng lên. Keynes lý giải số lượng người làm việc trong mỗi xí nghiệp, mỗi ngành cũng như trong toàn bộ nền kinh tế sẽ tùy thuộc vào doanh số mà các nghiệp chủ dự kiến thu được từ việc bán sản lượng tương ứng với số lao động được sử dụng đó và họ sẽ cố gắng tối đa hóa lợi nhuận của họ 1. Nguyên nhân khủng hoảng.
Đến thời điểm hiện tại thì không có một cuộc khủng hoảng kinh tế lớn nào có tính chất lặp lại so với các cuộc khủng hoảng trước đó vì thế nên những nguyên nhân gây ra khủng hoảng kinh tế thường gắn liền với những đặc trưng của cuộc khủng hoảng đó. Những cuộc khủng hoảng tuy không có cùng nguyên nhân song chúng có cùng các dấu hiệu đi kèm theo như: GDP giảm, nền kinh tế không đảm bảo được thanh khoản, bất động sản, sự biến động mạnh của thị trường tài chính, … 17 1. Nguyên nhân khách quan Việc nền kinh tế rơi vào khủng hoảng một phần có thể lý giải là do những yếu tốt bất bất ổn trong nền kinh tế xuất hiện cùng thời điểm với thời kỳ suy thoái. Một phần cũng là do những khuyết tật của kinh tế thị trường, điều này thì không một nền kinh tế nào là không gặp phải.
Hoặc khủng hoảng kinh tế xuất phát từ những yếu tố phi kinh tế như: Thiên tai, dịch bệnh, tâm lý FOMO, chiến tranh, sự hội nhập kinh tế ngày càng sâu rộng… 1. Nguyên nhân chủ quan Nguyên nhân khủng hoảng của các nền kinh tế phần lớn là do các yếu tố thuộc về chủ quan. Theo tác giả được hình thành phần lớn từ những sai lầm trong nhận thức, sự can thiệp của con người một cách quá đà vào quá trình vận động của những quy luật kinh tế, những sai lầm trong chính sách phát triển của chính phủ, sự lũng loạn nền kinh tế của các tập đoàn tài chính khổng lồ, chạy theo lợi nhuận một cách bất chấp của những nhà tư bản và một phần nghịch lý gây ra khủng hoảng đến từ chính những chính sách chống khủng hoảng của chính phủ. Vì nguyên nhân của các cuộc khủng hoảng xuất phát từ những yếu tố chủ quan nhiều hơn nên khi tiến hành phân loại khủng hoảng người ta cũng dựa trên những đặc trưng những nguyên nhân chủ quan của cuộc khủng hoảng đó.
Dựa trên tiền đề đó ta có thể phân loại khủng hoảng thành các dạng như: - Khủng hoảng ngân hàng: Khủng hoảng ngân hàng xuất phát từ chức năng tạo tiền của ngân hàng, khi nền kinh tế trở nên bất ổn tâm lý của con người bình thường sẽ là tích trữ tài sản dưới dạng hiện vật (vàng, tiền mặt,…) vì thế nên những khoản tiết kiệm của người dân gửi vào ngân hàng sẽ được người dân rút ra ngay đột ngột khi thị trường có những biến động lớn. do chức năng tạo tiền đòi hỏi các ngân hàng thương mại phải cho các ngân hàng khác vay một phần tiền gửi của người dân và chỉ 18 giữ lại một phần tiền dựa trên tỷ lệ dự trữ bắt buộc do ngân hàng nhà nước quy định. Vì thế nên các cuộc khủng hoảng ngân hàng đều xuất phát từ việc người dân rút tiền gửi đột ngột khiến cho ngân hàng không thể đảm bảo được tính thanh khoản. - Khủng hoảng tiền tệ: khủng hoảng tiền tệ xuất phát từ việc nền kinh tế được bơm quá nhiều tiền hay đơn giản chỉ là việc ngân hàng nhà nước in quá nhiều tiền và phát hành một cách tràn lan vào nền kinh tế.
Một hình tượng cho khủng hoảng tiền tệ đó chính là nước Đức sau thế chiến thứ 2, do thua cuộc nên nước Đức phải đền một khoản chiến phí khổng lồ cho các nước thắng trận vì thế nên không còn cách nào khác nước Đức phải in tiền để trả nợ. Dẫn đến đồng Mác Đức mất giá thê thảm, đây cũng có thể coi là một cuộc khủng hoảng tiền tệ điển hình gần đây. - Bong bóng và đầu cơ tích trữ: Khi giá sản phẩm leo thang quá cao và kéo dài trong một thời gian do số người đầu cơ tích trữ với hi vọng sẽ bán được với giá cao hơn. Tiêu biểu và gần đây nhất đó chính là thị trường bất động sản Mỹ năm 2008, khi giá bất động sản tăng cao người dân thì ham muốn tích trữ bất động sản nên những ngân hàng ở Mỹ đã thực hiện việc cho vay dưới chuẩn hàng loạt.
Và khi thị trường bất động sản có những bất ổn và sụp đổ dẫn đến đó là hàng loạt ngân hàng Mỹ phá sản. Là một trung tâm tài chính lớn của thế giới, việc phố Wall bị chao đảo kéo theo đó là sự sụp đổ của toàn bộ nền tài chính của các trung tâm tài chính khắp nơi trên thế giới. Hậu quả của khủng hoảng kinh tế Khủng hoảng kinh tế vẫn luôn là điều tồi tệ bất kể đó là quốc gia nào, điều kinh khủng của hậu khủng hoảng chính là nền kinh tế và chủ thể trong nền kinh tế đó phải chịu ảnh hưởng tiêu cực của chúng trong một thời gian dài mặc dù đã có nhiều chính sách nhằm khôi phục nền kinh tế. Mặc dù tính chất và nguyên nhân của các cuộc khủng hoảng là khác nhau nhưng mẫu số chung của chúng là sức sản xuất của nền kinh tế bị giảm sút nghiêm 19 trọng, xuất phát từ việc các doanh nghiệp và tổ chức không thể duy trì hoạt động kinh doanh của mình rồi tuyên bố phá sản, kéo theo đó là một phản ứng dây chuyền.
Hệ thống các ngân hàng bị chao đảo, nhiều ngân hàng bị đóng cửa làm cho thị trường tài chính chịu những ảnh hưởng tiêu cực, lượng lớn tài sản của các chủ thể trong nền kinh tế bị bốc hơi trong thời gian ngắn. Trong khi lượng lớn của cải bị bốc hơi thì lực lượng sản xuất lâm vào tình trạng thất nghiệp. Tình trạng thất nghiệp trở thành vấn đề nghiêm trọng do các xí nghiệp đã bị đóng cửa. Các xí nghiệp lớn thì tận dụng việc lượng cung lao động trong xã hội tăng đột biến làm cho giá nhân công rẻ mạt đi rất nhiều, từ đó mà họ tăng cường việc bóc lột sức lao động của người công nhân, hạ thấp tiền công, tăng giờ làm….
Hậu khủng hoảng thì người bị ảnh hưởng không phải là những người giàu mà chính là những người làm thuê, nên có thể nói việc gia tăng khoảng cách giàu nghèo trong xã hội cũng là một hậu quả của khủng hoảng kinh tế. Các động thái về ban bố chính sách nhằm khôi phục nền kinh tế tuy là có tác động tích cực đến nền kinh tế và hạn chế được tối đa thiệt hại do khủng hoảng gây ra, nhưng cũng phải mất rất nhiều năm để có thể giải quyết được hậu quả của chúng. Học thuyết kinh tế của J. Hoàn cảnh ra đời và đặc điểm phương pháp luận 1.
Hoàn cảnh ra đời “Một nghìn năm kể từ những năm 1920 – 1970, tôi hy vọng, sẽ là thời gian cho những nhà viết sử. Nó khiến tôi phát sốt lên khi nghĩ về nó.