phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 2 chương, 5 tiết. 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. NỘI DUNG CHƢƠNG 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KẾT HỢP ĐẠO ĐỨC VÀ PHÁP LUẬT TRONG XÂY DỰNG NHÀ NƢỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM 1.
Một số vấn đề lý luận về nhà nƣớc pháp quyền, đạo đức và pháp luật. Một số vấn đề lý luận về nhà nước pháp quyền và nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam * Tư tưởng về nhà nước pháp quyền trong lịch sử Tư tưởng về nhà nước pháp quyền được hình thành cách đây hơn hai nghìn năm. Lúc đầu đó chỉ là những ý tưởng, những quan niệm của các nhà tư tưởng về những yếu tố, những khía cạnh có tính đơn biệt của việc tổ chức quyền lực nhà nước, phát huy vai trò của pháp luật và giải quyết mối quan hệ giữa nhà nước và pháp luật. Sau đó những ý tưởng này được phát triển thành tư tưởng có giá trị phổ biến của nhân loại.
Nội dung chủ yếu của tư tưởng nhà nước pháp quyền là đề cao vai trò của pháp luật nhằm bảo vệ các giá trị xã hội như tự do, công bằng, bình đẳng và phát triển. Trong lịch sử tư tưởng nhân loại, do đòi hỏi của lịch sử và xuất phát từ khát vọng về tự do, dân chủ, có hai thời kỳ xuất hiện nhiều tư tưởng, quan điểm tích cực, tiến bộ về nhà nước pháp quyền. Đó là thời kỳ nhà nước cổ đại Hy Lạp, La Mã hi mà nhà nước chiếm hữu nô lệ đã thể hiện hết tính chất tàn bạo, dã man của nó và thời kỳ cách mạng tư sản ở châu Âu khi giai cấp tư sản phát động các cuộc cách mạng đánh đổ chế độ phong kiến chuyên chế, xây dựng nền cộng hoà và xã hội tự do, bình đẳng, bác ái. Những tư tưởng tích cực tiến bộ về Nhà nước pháp quyền trong thời kỳ cổ đại ở phương Tây thể hiện rõ nét ở các nhà tư tưởng tiêu biểu của thời kỳ này như Solong, Socrat, Platon, Aristot, Xixeron v.CN) được coi là người đầu tiên nêu ý tưởng về nhà nước pháp quyền khi ông chủ trương cải cách nhà nước Athen bằng việc đề 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com cao vai trò của pháp luật.
Theo ông, chỉ có pháp luật mới thiết lập được trật tự và tạo nên sự thống nhất, ông chủ trương giải phóng tất cả mọi người bằng pháp luật, nhà nước và pháp luật là hai công cụ để thực hiện dân chủ, tự do và công bằng, vì vậy, hãy kết hợp sức mạnh quyền lực nhà nước với pháp luật. Nhà nước Athen với những tư tưởng cải cách của Solong được xem là nhà nước dân chủ nhất cho đến thời điểm đó.CN) cho rằng pháp quyền là phương tiện quan trọng để chống lại cực quyền, ông kêu gọi nhân dân phải đấu tranh để bảo vệ pháp luật như bảo vệ chốn nương thân của mình.CN) quan niệm tinh thần thượng tôn pháp luật phải là nguyên tắc, bản thân nhà nước và các nhân viên nhà nước phải tôn trọng pháp luật; nhà nước sẽ suy vong nếu pháp luật không còn hiệu lực hoặc chỉ phụ thuộc vào chính quyền; Xixeron (106-43 tr.CN) đưa ra quan niệm: nhà nước phải là một cộng đồng pháp lý. Quan niệm của các nhà tư tưởng cổ đại tuy được nêu ở những góc độ hác nhau nhưng tựu trung đều cổ vũ cho việc đề cao pháp luật và xây dựng nhà nước hoạt động trong khuôn khổ pháp luật công bằng. Những ý tưởng đó có ảnh hưởng rất lớn tới việc hình thành và phát các lý thuyết về tính tối cao của pháp luật, về phân chia quyền lực nhà nước và nhà nước pháp quyền nói chung.
Những quan điểm, tư tưởng về nhà NNPQ thời kỳ cổ đại được tiếp tục phát triển, nhất là trong thời kỳ các cuộc cách mạng tư sản lật đổ chế độ phong kiến chuyên chế, độc tài và vô pháp luật ở châu Âu thế kỷ 17, 18. Trong thời kỳ này tư tưởng về nhà nước pháp quyền được phát triển khá phong phú, toàn diện, hình thành hệ thống quan điểm trong các học thuyết chính trị - pháp lý, tiêu biểu là quan điểm của các nhà tư tưởng: J.Kant, Hegel, Monh. Trong đó, đáng chú ý là học thuyết của J. 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com John Lock (1632-1704) là người đặt nền móng cho sự ra đời học thuyết về nhà nước pháp quyền tư sản.
Ông đưa ra tư tưởng về nhà nước trong cuốn “Khảo luận thứ hai về chính quyền”.Loc nhận thấy nguy cơ của quyền lực tuyệt đối, quyền của độc tài dù trao cho một cá nhân hay một nhóm người. Ông cho rằng dạng nhà nước tốt nhất là quyền lực của hệ thống chính quyền được hạn chế bằng cách chia thành các nhánh và mỗi nhánh có quyền hạn riêng đủ cần thiết để thực hiện chức năng của mình. Ông cho rằng một hệ thống nhà nước cần có quyền xét xử độc lập dựa trên duy nhất hiến pháp chung của quốc gia. Trách nhiệm lập pháp là của quốc hội và nhiệm vụ của nhà vua là hành động như một người chấp pháp tối cao.
Tiếp sau John Lock, Montesquieu (1698-1755) trong tác phẩm “Tinh thần pháp luật” đã đề ra lý thuyết phân chia quyền lực, một trong những nội dung chủ yếu của NNPQ tư sản. Ông quan niệm, khi nắm trong tay quyền lực con người thường có xu hướng lạm dụng nó, vì vậy, phân chia quyền lực để tránh lạm quyền. Theo ông, mỗi quốc gia đều có ba thứ quyền lực là: quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền tư pháp. Để chống độc quyền thì ba thứ quyền lực này phải được tổ chức sao cho có tính độc lập và kiềm chế lẫn nhau.Rousseau (1712-1788) trong “Bàn về khế ước xã hội” đã coi hế ước xã hội là cơ sở để giải quyết các vấn đề về nhà nước, pháp luật và công dân.
Ông đã bàn cặn kẽ về “tam quyền” theo lý thuyết của Montessquieu. “Khế ước xã hội” là ý chí chung, là quyền lực tối cao được thiết lập từ những cá thể thành viên hợp lại. Ý chí chung của toàn thể dân chúng hi được công bố nó trở thành luật.Kant (1724-1804) – học giả người Đức, lý thuyết về nhà nước pháp quyền tư sản với tính cách là một học thuyết triết học – chính trị tương đối hoàn chỉnh đã được xác định. Ông triệt để tán thành việc áp dụng lý 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thuyết phân quyền.
Theo ông ở đâu áp dụng nguyên tắc này thì ở đó có NNPQ, nếu không chỉ là chuyên quyền. Lý luận inh điển về NNPQ phát triểm mạnh ở nước Đức vào nửa đầu thế kỷ XIX. Robert Fon Mohn, Karl Teodor Valker - hai nhà luật học người Đức, là những người đầu tiên dùng thuật ngữ NNPQ đã được lập luận trong triết hoc của Canter, Hegen. Mohn và Val er đề ra nguyên tắc về tính tối cao của luật như là tiêu chuẩn quan trọng nhất của NNPQ.
Theo Mohn, trong ba loại quyền trong NNPQ thì quyền lập pháp có vị trí cao nhất, không thể không có sự kiểm tra của các cơ quan tư pháp lớn hơn sự hoạt động lập pháp mà chỉ lớn hơn các cơ quan hành pháp mà thôi. Theo Mohn và Val er, trong những tiêu chuẩn của NNPQ đó là sự bình đẳng của mọi người trước pháp luật, thừa nhận mục đích sống còn của tất cả mọi người không phụ thuộc vào địa vị xã hội của họ. Tính tối cao của luật, sự ngự trị của pháp luật thể hiện qua quyền lực nhân dân dưới thình thức chủ quyền của nghị viện. Như vậy, từ thế kỷ XVII-XVIII, trong triết học pháp quyền đã thiết lập nguyên tắc bình đẳng về hình thức pháp luật của tất cả mọi người tham gia các quan hệ pháp luật, bằng sự thống nhất về bản chất của lợi ích và nhu cầu.
Trong quan niệm cổ điển của thuyết pháp quyền tự nhiên của J.Rousseau, cơ chế kiểm tra của bộ máy chính trị - nhà nước được dùng để cân bằng lợi ích của toàn dân, của các nhóm, các giai tầng và các lợi ích cá nhân. Và sự cân bằng đó chỉ có thể đạt được, vẫn theo tư tưởng của J.Rousseau, khi có sự phân quyền và tôn trọng tính tối cao của luật và không chỉ là trật tự pháp luật tối ưu mà còn là tổ chức chính trị lý tưởng nói chung. Ở phương Đông, mầm mống về tư tưởng NNPQ cũng xuất hiện từ thời cổ đại. Đó là tư tưởng pháp trị của các nhà tư tưởng thuộc phái Pháp gia như: Quản Trọng, Thương Ưởng, Hàn Phi… Quản Trọng chủ trương đề cao “Luật, lệnh, hình, chính”, vua phải giữ pháp, không vì vua muốn mà thay đổi lệnh, lệnh đáng tôn hơn vua.
Hàn Phi coi pháp là chuẩn mực cao nhất của việc cai 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com trị đất nước, khi thi hành pháp luật thì không kể đến tình cảm riêng, không câu nệ chuyện thân sơ, sang hèn, tất cả đều bình đẳng trước pháp luật. Học thuyết Pháp trị của Hàn Phi Tử là sự tiếp thu những điểm ưu trội của ba trường phái trong Pháp gia: “pháp” (Thương Ưởng), “thuật” (Thân Bất Hại), “thế” (Thận Đáo); từ đó, phát triển và xây dựng một hệ thống lý luận pháp trị tương đối hoàn chỉnh và tiến bộ so với đương thời. Sự phân tích trên cho thấy tư tưởng về nhà nước pháp quyền nói chung, đặc biệt ở phương Tây là cả một quá trình phát triển kế tiếp và nối dài, có sự kế thừa và hoàn thiện trong quá trình vận động đó, để đi đến những quan điểm chung thống nhất về nhà nước pháp quyền. * Những đặc trưng cơ bản của Nhà nước pháp quyền Nghiên cứu các tư tưởng, quan điểm về Nhà nước pháp quyền trong lịch sử tư tưởng nhân loại, có thể rút ra những điểm chung, khái quát về đặc trưng cơ bản của Nhà nước pháp quyền như sau: - Nhà nước pháp quyền là tổ chức chính trị của nhân dân, là biểu hiện tập trung của chế độ dân chủ.
Dân chủ vừa là bản chất của nhà nước pháp quyền vừa là điều kiện, tiền đề của chế độ nhà nước. Mục tiêu của nhà nước pháp quyền là xây dựng và thực thi một nền dân chủ, đảm bảo quyền lực chính trị thuộc về nhân dân. - Nhà nước pháp quyền được tổ chức và hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật, bảo đảm chủ quyền của nhân dân bằng pháp luật, là nhà nước thượng tôn pháp luật, trong đó pháp luật phải phản ánh "ý chí chung của nhân dân", "lợi ích chung của xã hội".