lời mở đầu và kết luận gồm 3 chương: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong các doanh nghiệp xây lắp. Chƣơng 2: Thực trạng kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp tại Công ty Cổ phần Lilama - Thí nghiệm cơ điện. Chƣơng 3: Một số nhận xét và ý kiến đề xuất nhằm góp phần hoàn thiện kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty Cổ phần Lilama - Thí nghiệm cơ điện. SVTH: Trần Thị Phương Thảo 2 Lớp K19KT1 Viện ĐH Mở Hà Nội Khóa luận tốt nghiệp CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TRONG DOANH NGHIỆP XÂY LẮP.
Đặc điểm hoạt động xây lắp có ảnh hƣởng đến kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm. Đặc điểm tổ chức sản xuất của hoạt động xây lắp Khi xã hội phát triển nhu cầu về các công trình xây lắp ngày càng gia tăng, chính bởi vậy số lượng các đơn vị tham gia vào lĩnh vực này ngày càng nhiều. Ở nước ta hiện nay, hoạt động xây lắp có thể thực hiện tại các tổng công ty xây lắp, công ty, xí nghiệp, đội xây dựng với các quy mô nhỏ, lớn khác nhau. Hoạt động xây lắp có thể tiến hành trên các địa bản trải rộng khác nhau tùy theo yêu cầu của nơi đặt công trình, nên việc tổ chức quản lý rất phức tạp.
Để tạo điều kiện thuận lợi trong việc quản lý chặt chẽ các khâu công việc trong hoạt động xây lắp, hầu hết các doanh nghiệp xây lắp ở nước ta hiện nay đều tổ chức theo phương thức „khoán gọn‟ các công trình, khối lượng hoặc công việc cho các đơn vị trong nội bộ doanh nghiệp ( đội, xí nghiệp …) Trong giá khoán gọn, không chỉ có tiền lương mà còn có đủ các chi phí về vật liệu, công cụ, dụng cụ thi công, chi phí chung của bộ phận nhận khoán. Mặt khác, hoạt động xây lắp cố định tại nơi sản xuất, còn các điều kiện cần thiết cho sản xuất phải di chuyển theo địa điểm đặt công trình. Bên cạnh đó, hoạt động xây lắp chủ yếu được thực hiện ngoài trời, phụ thuộc rất nhiều vào các điều kiện tự nhiên như thời tiết, khí hậu, địa hình… Chính bởi vậy, đòi hỏi tổ chức sản xuất trong doanh nghiệp xây lắp phải hết sức linh hoạt nhưng cũng phải chặt chẽ để đảm bảo quản lý và sử dụng tốt tài sản, vật tư, thiết bị phục vụ cho xây dựng. Đặc điểm sản phẩm xây lắp Xây lắp là một hoạt động sản xuất vật chất tạo ra các công trình xây dựng, vật kiến trúc, cơ sở hạ tầng… cho xã hội.
So với các hoạt động sản xuất vật chất khác, hoạt động xây lắp có những đặc điểm kinh tế - kỹ thuật riêng biệt, thể hiện rất rõ nét ở đặc điểm của sản phẩm xây lắp và quá trình tạo ra sản phẩm. Những đặc điểm đó đã chi phối đến công tác kế toán của các hoạt động này. SVTH: Trần Thị Phương Thảo 3 Lớp K19KT1 Viện ĐH Mở Hà Nội Khóa luận tốt nghiệp - Sản phẩm xây lắp là các công trình, vật kiến trúc… có quy mô lớn, kết cấu phức tạp, mang tính đơn chiếc, thời gian sản xuất dài…. Do vậy, việc tổ chức quản lý và hạch toán nhất thiết phải có các dự toán thiết kế, thi công.
- Đối với các sản phẩm xây lắp được thực hiện trên các hợp đồng đã ký kết với chủ đầu tư sau khi đã trúng thầu hoặc được chỉ thị thầu. Trong hợp đồng giao thầu các bên đã thống nhất giá cả và phương thức thanh toán cho từng công trình, do đó tính chất hàng hóa của sản phẩm trong trường hợp này thể hiện không rõ ràng. - Sản phẩm xây lắp cố định tại nơi sản xuất, còn các điều kiện sản xuất phải di chuyển theo địa điểm đặt sản phẩm. - Tiến độ xây lắp phụ thuộc nhiều vào các điều kiện thiên nhiên tại địa điểm xây lắp.
Bản chất, nội dung kinh tế của chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm xây lắp 1. Chi phí sản xuất xây lắp Chi phí là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ hao phí về lao động sống và lao động vật hóa cần thiết cho quá trình hoạt động SXKD mà doanh nghiệp phải chi ra trong một kỳ kinh doanh. Như vậy, chỉ được tính vào chi phí của kỳ hạch toán nhưng hao phí về tài sản và lao động có liên quan đến khối lượng sản phẩm sản xuất ra trong kỳ hạch toán. Chi phí xây lắp là biểu hiện bằng tiền về sự hao phí các nguồn lực sử dụng cho hoạt động xây lắp và có liên quan đến hoạt động xây lắp.
Chi phí sản xuất xây lắp bao gồm nhiều loại khác nhau, phản ánh các nội dung khác nhau mà doanh nghiệp bỏ ra trong quá trình xây lắp. * Phân loại chi phí sản xuất trong doanh nghiệp xây lắp a. Phân loại theo công dụng: Theo công dụng của các yếu tố, chi phí xây lắp được chia thành 4 khoản mục: + Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: Gồm giá trị các vật liệu chính, vật liệu phụ, vật kết cấu, giá trị thiết bị kèm theo vật kiến trúc…. Cần thiết để tham gia cấu thành thực thể sản phẩm xây lắp, nguyên vật liệu dùng trực tiếp cho thi công.
-Nguyên vật liệu chính: Cát, gạch, đá, xi măng… - Nguyên vật liệu phụ: dây buộc, đinh, kẽm… - Nhiên liệu: than, củi dầu… - Vật kết cấu: bê tông đúc sẵn, vì kèo lắp sẵn… SVTH: Trần Thị Phương Thảo 4 Lớp K19KT1 Viện ĐH Mở Hà Nội Khóa luận tốt nghiệp + Chi phí nhân công trực tiếp: bao gồm các khoản chi phí tiền lương chính, lương phụ, phụ cấp lương của công nhân trực tiếp tham gia xây lắp công trình. Do những khác biệt trong việc lập dự toán chi phí mà trong chi phí nhân công trực tiếp của hoạt động xây lắp không bao gồm các khoản trích theo tiền lương của công nhân trực tiếp sản xuất ( kể cả lao động trực tiếp thuê ngoài ) như trích KPCĐ, BHXH, BHYT, BHTN của công nhân trực tiếp xây lắp. + Chi phí sản xuất chung: bao gồm các chi phí phát sinh ở từng đội, công trường xây dựng có tính chất phục vụ và quản lý sản xuất, như: lương của công nhân viên quản lý đội xây dựng, các khoản trích theo tiền lương theo tỷ lệ quy định của nhân viên quản lý đội và công nhân trực tiếp tham gia xây lắp, chi phí khấu hao TSCĐ dùng chung cho hoạt động của đội, chi phí vật liệu, chi phí công cụ, dụng cụ và các chi phí khác phát sinh trong kỳ liên quan đến hoạt động của đội… + Chi phí sử dụng máy thi công: Là các khoản chi phí cho các máy thi công nhằm thực hiện khối lượng công tác xây lắp bằng máy như: - Chi phí nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ phục vụ máy thi công - Chi phí khấu hao máy thi công - Chi phí nhân công: lương chính + lương phụ + phụ cấp cho nhân viên điều khiển máy thi công. - Chi phí dịch vụ mua ngoài: Chi phí thuê ngoài sửa chữa máy thi công, phí bảo hiểm….
- Chi phí khác bằng tiền phục vụ máy thi công. Phân loại theo nội dung kinh tế: Chi phí xây lắp bao gồm 5 yếu tố: + Chi phí nguyên vật liệu: Bao gồm chi phí về nguyên vật liệu chính, nguyên vật liệu phụ, nhiên liệu, dụng cụ để xây lắp công trình, không bao gồm thiết bị xây dựng cơ bản của đơn vị Chủ đầu tư chuyển giao để lắp đặt vào công trình. + Chi phí nhân công: Bao gồm các chi phí về tiền lương, tiền thưởng, các khoản phụ cấp, trợ cấp có tính chất lương. + Chi phí khấu hao TSCĐ: Là toàn bộ chi phí khấu hao TSCĐ sử dụng cho sản xuất kinh doanh trong kỳ.
+ Chi phí dịch vụ mua ngoài: Là toàn bộ chi phí cho các dịch vụ bên ngoài cung cấp cho hoạt động sản xuất – kinh doanh như chi phí tiền điện, nước, điện thoại, tiền thuê máy móc, thiết bị phục vụ thi công… SVTH: Trần Thị Phương Thảo 5 Lớp K19KT1 Viện ĐH Mở Hà Nội Khóa luận tốt nghiệp + Chi phí khác bằng tiền: Là các chi phí liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty ngoài các chi phí kể trên như các khoản chi tiếp khác, chi cho các cuộc họp… 1. Giá thành sản phẩm xây lắp Giá thành sản phẩm xây lắp là toàn bộ chi phí xây lắp tính cho khối lượng xây lắp hoàn thành. Xuất phát từ đặc điểm hoạt động xây lắp, giá thành sản phẩm xây lắp thường được phân theo nguồn số liệu để xác định chỉ tiêu đánh giá. Theo cách này, giá thành sản phẩm xây lắp bao gồm: - Giá thành dự toán: Là tổng số chi phí dự toán để hoàn thành khối lượng xây lắp công trình.
Giá thành dự toán được xác định theo định mức và khung giá quy định áp dụng cho từng vùng lãnh thổ. Giá thành dự toán nhỏ hơn giá trị dự toán công trình ở phần thu nhập chịu thuế tính trước ( thu nhập chịu thuế tính trước được tính theo định mức quy định ). Giá trị dự toán của Giá thành dự toán = từng công trình, hạng - Lãi định mức của công trình mục công trình Thông qua giá thành dự toán của công ty xây lắp người ta có thể đánh giá được thành tích của đơn vị. Giá thành dự toán là hạn mức chi phí cao nhất mà đơn vị có thể chia ra để đảm bảo có lãi, là tiêu chuẩn để đơn vị xây lắp phần đấu hạ giá thành thực tế và là căn cứ để chủ đầu tư thanh toán cho doanh nghiệp khối lượng hoàn thành thực tế và là căn cứ để chủ đầu tư thanh toán cho doanh nghiệp khối lượng hoàn thành đã nghiệm thu.
Mặt khác, giá trị dự toán của công trình, hạng mục công trình được xác định theo các định mức đơn giá do cơ quan có thẩm quyền ban hành và sát được giá trị thực tế, không phản ánh được giá trị thực chất của công trình. Do vậy doanh nghiệp phải lập chỉ tiêu giá thành để dự kiến chỉ tiêu hạ giá thành. - Giá thành kế hoạch: là giá thành xuất phát từ những điều kiện cụ thể ở mỗi đơn vị xây lắp trên cơ sở biện pháp thi công, các định mức, đơn giá áp dụng tại đơn vị.