Chương 1: Những vấn đề cơ bản về kê biên QSDĐ trong THADS. Chương 2: Thực tiễn áp dụng biện pháp kê biên QSDĐ trong THADS trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên. Chương 3: Các yêu cầu và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng biện pháp cưỡng chế kê biên QSDĐ trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên. 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ KÊ BIÊN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT TRONG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ 1.
Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa và cơ sở pháp luật quy định kê biên quyền sử dụng đất trong thi hành án dân sự 1. Khái niệm kê biên và kê biên QSDĐ trong THADS 1.1 Khái niệm kê biên Trong lịch sử hình thành, phát triển của loài người đã trải qua các giai đoạn phát triển khác nhau. Giai đoạn chưa có Nhà nước đó là thời kỳ Công xã nguyên thủy Con người sống từng bầy đàn, xã hội chưa phân chia thành giai cấp, việc quản lý xã hội bằng uy tín, tự giác trong xã hội. Các quan hệ xã hội được giải quyết bằng cách noi gương, giải thích, thuyết phục các thành viên trong xã hội tự nguyện thực hiện, việc cưỡng chế trong giai đoạn này không đặt ra.
Đến giai đoạn xuất hiện Nhà nước ( Nhà nước chủ nô, Nhà nước phong kiến, Nhà nước tư bản và Nhà nước xã hội chủ nghĩa ) đồng thời xuất hiện các giai cấp trong xã hội, các quan hệ xã hội ngày càng nhiều, các mâu thuẫn, tranh chấp trong xã hội gia tăng. Giai cấp thống trị xây dựng nên Bộ máy nhà nước, trước tiên để bảo vệ cho lợi ích của gia cấp mình, đồng thời để quản lý xã hội đi theo một mục tiêu nhất định. Đến giai đoạn này nhiều quan hệ xã hội không thể giải quyết bằng biện pháp giáo dục, thuyết phục mà phải giải quyết bằng biện pháp cưỡng chế của Nhà nước để duy trì trật tự xã hội nhằm thúc đẩy xã hội phát triển. Như vậy Nhà nước xuất hiện thì cưỡng chế cũng xuất hiện để Nhà nước sử dụng biện pháp cưỡng chế nhằm quản lý, điều hành đất nước và bảo vệ Nhà nước đó.
Theo từ điển Chữ nôm Tập 1 thì cưỡng là thúc ép, buộc tuân theo ý trí mình [40, trg.381]; chế là kìm giữ, nén lại, tạo ra [40, trg. Vậy cưỡng chế là một từ được ghép bởi hai từ cưỡng và từ chế để tạo thành từ cưỡng chế. Theo từ điển Tiếng việt của Viện ngôn ngữ học do Nhà xuất giáo dục xuất bản năm 1994 viết: " Cưỡng chế là dùng quyền lực Nhà nước bắt phải tuân theo" [38, tr. Nhưng Theo cuốn từ điển Tiếng việt, Viện Ngôn ngữ học, Nhà xuất bản Từ điển bách khoa năm 2012 làm rõ hơn khái niệm cưỡng chế là thêm hai từ pháp luật: " Cưỡng chế là dùng quyền lực Nhà nước bắt phải tuân theo 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com pháp luật" [39, trg.
Trong tiếng Anh cưỡng chế là Coerce, có nghĩa là buộc ai phải làm cái gì [37, trg. Tựu chung lại cưỡng chế được hiểu là Nhà nước dùng quyền lực của mình buộc cá nhân, cơ quan, tổ chức phải thực hiện một hành vi hoặc nghĩa vụ nhất định, theo quy định của pháp luật hoặc là quyền lực xã hội buộc mọi người phải tuân theo luật, lệ. Cưỡng chế gằn liền với hoạt động quản lý nhà nước và là một trong những phương pháp chủ yếu trong hoạt động quản lý nhà nước. Trong nhà nước Pháp quyền, việc cưỡng chế nhằm mục đích thi hành pháp luật của nhà nước, duy trì trật tự xã hội [15, trg.
Nhà nước thực hiện cưỡng chế thông qua nhiều biện pháp cưỡng chế, những biện pháp cưỡng chế này được Nhà nước trao quyền cho các cơ quan nhà nước khác nhau thực hiện như: cưỡng chế hành chính, cưỡng chế trong hoạt động tố tụng của cơ quan điều tra và cơ quan tòa án và cưỡng chế thi hành án. Trong hoạt động quản lý hành chính và xử lý vi phạm hành chính, cưỡng chế hành chính được UBND và các cơ quan hành chính thực hiện như: cưỡng chế hành chính đối với những đối tượng chống đối không di dời tài sản để giải phóng mặt bằng phục vụ cho quốc phòng hoặc các cá nhân, cơ quan, tổ chức vi phạm hành chính thì các cơ quan có thẩm quyền được áp dụng các biện pháp cưỡng chế được quy định tại Khoản 2 Điều 86 Luật xử lý vi phạm hành chính như kê biên tài sản, khấu trừ tài khoản của cá nhân, tổ chức. Các biện pháp cưỡng chế của cơ quan điều tra được trao quyền cho thủ trưởng cơ quan điều tra thực hiện được quy định tại Khoản 2 Điều 34 Bộ luật tố tụng hình sự như: quyết định truy nã bị can, khám xét, thu giữ, kê biên tài sản. Trong hoạt động tố tụng cơ quan tòa án cũng được Nhà nước trao quyền được áp dụng các biện pháp cưỡng chế được quy định tại Điều 102 Bộ luật tố tụng dân sự về các biện pháp khẩn cấp tạm thời như: kê biên tài sản tranh chấp, phong tỏa tài khoản tại ngân hàng, tổ chức tín dụng khác.
Ngoài ra cơ quan THADS cũng được Nhà nước trao quyền được áp dụng các biện pháp cưỡng chế trong THADS được quy định tại Điều 71 Luật THADS trong đó có biện pháp kê biên, xử lý tài sản …[ 27 ]. 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Theo Giáo trình kỹ năng về thi hành án dân sự của Học viện Tư pháp viết cưỡng chế THADS là biện pháp cưỡng bức bắt buộc của cơ quan THADS, do Chấp hành viên quyết định theo thẩm quyền nhằm buộc người phải thi hành án phải thực hiện những hành vi hoặc nghĩa vụ về tài sản theo bản án, quyết định. Cưỡng chế thi hành án được áp dụng trong trường hợp người phải thi hành án có điều kiện thi hành án mà không tự nguyện thi hành án, hoặc trong trường hợp cần ngăn chặn người phải thi hành án có hành vi tẩu tán, hủy hoại tài sản hoặc chốn tránh viện thi hành án [16, trg. Theo Tài liệu bồi dưỡng Chấp hành viên trung cấp định nghĩa cưỡng chế THADS là biện pháp sử dụng quyền lực Nhà nước để buộc người phải thi hành án phải thực hiện những hành vi hoặc nghĩa vụ về tài sản theo bản án, quyết định của tòa án.
Biện pháp cưỡng chế do Chấp hành viên quyết định trong trường hợp người phải thi hành án có điều kiện thi hành án mà không tự nguyện thi hành án [17, trg. Qua hai định nghĩa trên chúng ta thấy cưỡng chế THADS đều có những đặc điểm chung đó là chủ thể thực hiện phải là Chấp hành viên là người trực tiếp ra quyết định cưỡng chế; người phải thi hành án phải có điều kiện thi hành án; người phải thi hành án không tự nguyện thi hành án. Qua đó biện pháp cưỡng chế là phương thức, cách thức dùng quyền lực nhà nước buộc các cá nhân, cơ quan, tổ chức phải thực hiện nghĩa vụ theo quy định của pháp luật, do người có thẩm quyền áp dụng trong các trường hợp cần thiết nhằm bảo vệ lợi ích của cá nhân, cơ quan, tổ chức và xã hội bị xâm hại. Biện pháp cưỡng chế THADS cũng là một trong những biện pháp cưỡng chế của Nhà nước trao quyền áp dụng trong trường hợp khi bản án, quyết định của tòa án đã có hiệu lực pháp luật mà các đương sự không chấp hành bản án, quyết định của Tòa án và chỉ do Chấp hành viện thực hiện.
Do đó Biện pháp cưỡng chế THADS được hiểu là biện pháp cưỡng chế THADS dùng quyền lực của Nhà nước buộc người phải thi hành án thực hiện nghĩa vụ thi hành án dân sự của họ, do Chấp hành viên áp dụng trong trường hợp người phải thi hành án có điều kiện thi hành án mà không tự nguyện thi hành án [15, trg. 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Công tác THADS chỉ là một bộ phận của thi hành án nói chung. Ở nước ta hiện nay được phân ra làm hai bộ phận, thi hành án hình sự và THADS. Thi hành án hình sự được Chính phủ giao cho Bộ công an quản lý, công tác THADS được Chính phủ giao cho Bộ Tư pháp quản lý.
Việc áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án hình sự hà khắc hơn biện pháp cưỡng chế THADS. Sự khác biệt giữa thi hành án hình sự và THADS được thể hiện ở căn cứ và tính chất của cưỡng chế thi hành án. Nếu như căn cứ cưỡng chế thi hành án hình sự là phần hình phạt được tuyên trong quyết định của bản án hình sự đó là hình phạt tù có thời hạn, tù chung thân và hình phạt tử hình. Ngược lại cưỡng chế THADS căn cứ cưỡng chế chủ yếu là các bản án, quyết định dân sự, hôn nhân gia đình, kinh tế và lao động liên quan đến nghĩa vụ tài sản hoặc những hành vi.
Về tính chất cưỡng chế hình sự có hiệu lực thi hành án ngay sau khi bản án hình sự có hiệu lực pháp luật, tòa án có thẩm quyền ra quyết định thi hành án hình sự đối với người phải thi hành án, họ không có thời gian tự nguyện thi hành án. Ngay sau có quyết định thi hành án, người phải thi hành án hình sự phải chấp hành ngay tức khắc, nếu không cơ quan công an tiến hành cưỡng chế bằng việc bắt hoặc dẫn giải người phải thi hành án đến các trại giam để thi hành án. Nhưng đối với việc cưỡng chế THADS chỉ đặt ra khi đương sự có đơn yêu cầu thi hành án, cơ quan THADS ra quyết định thi hành án, giao cho Chấp hành viên thực hiện, Chấp hành viên định cho người phải thi hành án một thời hạn không quá 10 ngày, hết thời hạn trên người phải thi hành án không tự nguyện thi hành án, mặc dù có điều kiện thi hành án thì lúc này Chấp hành viên mới có quyền áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án đối với người phải thi hành án. Tuy nhiên trong trường hợp cần ngăn chặn người phải thi hành án có hành vi tẩu tán, huỷ hoại tài sản hoặc trốn tránh việc thi hành án thì Chấp hành viên có quyền áp dụng ngay các biện pháp cưỡng chế thi hành án mà không cần áp dụng thời gian tự nguyện thi hành án.
Kê biên là một động từ ghép bởi hai từ kê và biên. Theo từ điển Tiếng việt của Viện ngôn ngữ học do Nhà xuất giáo dục xuất bản năm 1994 viết: “ Kê là viết ra theo thứ tự từng tên, từng nhóm để ghi nhớ hoặc thông báo “[ 38, trg.466], “ Biên viết lên trang giấy” [38, trg.